|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 25/10/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN - TỈNH ĐIỆN BIÊN
-Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Ích Rồng.
Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Nguyễn Quang Khải
2. Bà Lò Thị Cải
- Thư ký Phiên tòa: Bà Trần Thúy Dần, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Tăng Thị Hải Anh, Kiểm sát viên.
Ngày 25 ngày 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Điện Biên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2024/TLST-HS, ngày 09/10/2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2024/QĐXXST – HS, ngày 14/ 10/2024 đối với bị cáo:
Lò Văn K; Tên gọi khác: Không, sinh năm: 1982, tại Cộng hòa dân chủ nhân dân L2; HKTT và cư trú tại: Bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: Không; Dân tộc: Lào; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; con ông: Siêng X, sinh năm 1955 và bà Nang L, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ: Lò Thị C, sinh năm 1987 và 02 người con; con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2009; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; tạm giữ, giam từ ngày 06/6/2024 cho đến ngày xét xử; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 07 giờ 00 phút, ngày 06/ 6/2024, Tổ công tác, Đồn Biên phòng P phối hợp với PCMT và TP Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Đ đang làm nhiệm vụ tại khu vực bản P, xã P, huyện Đ, tỉnh Điện Biên thì phát hiện Lò Văn K có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác đã kiểm tra, phát hiện túi quần bên phải của K có 01 túi nilon màu xanh, khi mở ra bên trong có 75 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ 75 viên nén màu hồng nghi là Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn K khai nhận: khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 06/6/2024, K đi bộ từ nhà ở Bản P, xã P, huyện Đ đi ra khu vực lán ruộng ở bản P, xã P, huyện Đ thì K gặp 01 người đàn ông dân tộc L1 khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ ở đâu; K đã mua của người đàn ông đó 01 túi nilon màu xanh bên trong có 75 viên hồng phiến trị giá: 350.000 đồng đem về để sử dụng nhưng đi được khoảng 300m thì bị Tổ công tác, Đồn Biên phòng P phối hợp với PCMT và TP của Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Đ phát hiện bắt quả tang.
Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng, ngày 07/6/2024 thì vật chứng thu giữ của Lò Văn K gồm: 75 viên nén màu hồng có khối lượng: 7,24g, đồng thời gửi toàn bộ làm mẫu giám định; bản kết luận giám định số: 966/KL-KTHS, ngày 12 tháng 6 năm 2024 của phòng K1 Công an tỉnh Đ, đã kết luận: 7,24gam là Methamphetamine và hoàn lại mẫu vật là 6,96g Methamphetamine.
Cáo trạng số 195/CT – VKSHĐB, ngày 08/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên đã truy tố bị cáo Lò Văn K về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy " theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Lò Văn K thừa nhận: Hồi 07 giờ, ngày 06/6/ 2024, K đang tàng trữ trái phép: 7,24 gam Methamphetamine với mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác, Đồn Biên phòng P phối hợp với PCMT và TP của Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Đ phát hiện bắt quả tang.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã áp dụng như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố bị cáo Lò Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy; áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lò Văn K từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Áp dụng điểm a,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy: 6,96g Methamphetamine, còn lại sau giám định và 01 túi nilon màu xanh. Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Lời nói sau cùng, Lò Văn K thừa nhận phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Xác định tội danh: Qua phần tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn K đã thành khẩn thừa nhận vào hồi 07 giờ 00 phút, ngày 06/6/2024, đang tàng trữ trái phép 7,24g Methamphetamine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị Tổ công tác, Đồn Biên phòng P phối hợp với PCMT và TP của Bộ chỉ huy Bộ đội biên phòng tỉnh Đ phát hiện bắt quả tang. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng ngày 07/6/2024 và kết luận giám định số: 966/KL- KTHS, ngày 12/6/2024 của phòng K1 Công an tỉnh Đ đã kết luận: 7,24g là Methamphetamine và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, hành vi của Lò Văn K tàng trữ trái phép: 7,24g Methamphetamine với mục đích để sử dụng, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận Lò Văn K đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình gây ra cho xã hội.
- Xét tính chất và hậu quả của hành vi phạm tội: Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng, nguy hiểm rất lớn cho xã hội, hành vi đó đã tiếp tay cho tội phạm mua bán trái phép chất ma túy và làm phát sinh các loại tội phạm khác, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an trên địa bàn, nên cần phải được xử lý nghiêm nhằm răn đe và phòng ngừa chung.
- Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có nhân thân tốt. Trên cơ sở xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để bị cáo sửa chữa tội lỗi của mình, nhằm sau này trở thành công dân có ích cho xã hội.
- Hình phạt bổ sung, qua xác minh thì bị cáo thực sự khó khăn không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
- Về vật chứng: Hội đồng xét xử xét thấy: 7,24g Methamphetamine đã trích mẫu giám định là 0,28g và hoàn lại 6,96g Methamphetamine là vật chứng của vụ án sau giám định thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy; 01 túi nilon màu xanh không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên là có cơ sở pháp luật nên Hội đồng xét xử cần xem xét chấp nhận.
- Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Các hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự nên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến khiếu nại về các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về án phí: Bị cáo K là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
- Những vấn đề khác: Nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua của một người đàn ông dân tộc Lào khoảng 40 tuổi, không biết tên và địa chỉ ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không có cơ sở điều tra, làm rõ là phù hợp với pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm g Khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tuyên bố: Bị cáo Lò Văn K phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Hình phạt: Xử phạt bị cáo Lò Văn K 05 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/6/2024.
- Vật chứng: Tịch thu để tiêu hủy: 6,96g Methamphetamine là vật chứng còn lại của vụ án sau giám định và 01 túi nilon màu xanh( theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 09/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên).
- Án phí: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo K.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Ích Rồng |
4
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 25/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt bị cáo 05 năm tù
