Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/KDTM-ST

Ngày 30/9/2024.

V/v “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng và hợp đồng bảo lãnh”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Chí Công

Bà Nguyễn Hải Anh

Thư ký phiên tòa ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Thăng - Thư ký TAND huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Mai Thùy Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 05/2024/TLST- KDTM, ngày 5 tháng 03 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và “hợp đồng bảo lãnh”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2024/QĐXXST-KDTM, ngày 23/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-KDTM ngày 12/9/2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V3 (V4).

Trụ sở: H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Thành T - Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm T1 và xử lý nợ pháp lý, V4 (theo văn bản ủy quyền số: 58/2023/UQN-CTQT ngày 12/7/2023 QĐ-NHNo-PC ngày 01/12/2022 của Chủ tịch Hội đồng quản trị).

Người được ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Đinh Quốc V – Trưởng Phòng Xử lý nợ và/hoặc ông Nguyễn Tuấn V1 - cán bộ xử lý nợ.

Địa chỉ: Tầng A, Số I C, phường D, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Văn bản ủy quyền số 10467/UQ-VBP ngày 04/01/2024).

* Bị đơn: Công ty TNHH MTV B.

Địa chỉ: Số A, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Giang Văn H - Chủ tịch Công ty kiêm giám đốc.

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang

Địa chỉ liên lạc: Số A, ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Giang Văn H, sinh năm: 1983.

Địa chỉ: Ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang

Chổ ở hiện nay: Ấp A, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang.

(Ông V1 có mặt; Công ty và ông Giang Văn H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và tại phiên tòa ông Nguyễn Tấn V2 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày như sau:

Công ty TNHH MTV B cùng Ngân hàng TMCP V3 – chi nhánh K, sau quá trình thỏa thuận đã ký kết 01 hợp đồng cho vay được thể hiện là giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm (dành cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ) ngày 04/9/2019, với nội dung:

Số tiền vay: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).

Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ buôn bán vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng.

Thời hạn vay: 60 tháng.

Lãi suất 29.5%/năm.

Khoản tín dụng cấp cho Công ty TNHH MTV B không thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tài sản thế chấp, không có giao dịch bảo đảm.

Để bảo bảo cho khoản vay trên, ông Giang Văn H dùng toàn bộ tài sản cá nhân bảo đảm theo hợp đồng bảo lãnh số: SME/KGG/19/0003/HDBL-TTD ngày 04/9/2019, theo đó ông Giang Văn H bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho Công ty TNHH MTV B toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng TMCP V3 (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả, phí, các khoản phí khác...) theo hợp đồng cho vay là giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm (dành cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ) ngày 04/9/2019 giữa Ngân hàng TMCP V3 – chi nhánh K với Công ty TNHH MTV Bùn Húa

Trong quá trình sử dụng vốn, Công ty TNHH MTV B đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ. Ngân hàng đã liên hệ làm việc với Công ty để yêu cầu hoàn trả nợ nhưng Công ty cố tình kéo dài thời gian nhằm trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng TMCP V3 yêu cầu Công ty TNHH MTV B phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V3 (V4) số tiền còn nợ tổng cộng gốc và lãi tạm tính đến ngày 05/01/2024 là: 342.189.0411755574683 đồng (Trong đó nợ gốc là: 300.000.000 đồng và lãi suất quá hạn là 42.189.041 đồng). Đồng thời yêu cầu Công ty TNHH MTV B phải trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay.

Nếu Công ty TNHH MTV B không thanh toán được số nợ gốc và lãi đã nêu trên thì ông Giang Văn H phải có trách nhiệm liên đới thanh toán toàn bộ khoản vay nêu trên theo hợp đồng bảo lãnh số SME/KGG/19/HDBL-TTD ngày 04/9/2019.

* Bị đơn Công ty TNHH MTV B do ông Giang Văn H là người đại diện và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Giang Văn H:

Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho Công ty, ông H như Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật nhưng Công ty, ông H không đến Tòa án nên không có lời khai.

* Tại phiên tòa:

- Ông V2 là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Yêu cầu buộc Công ty TNHH MTV B phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP V3 (V4) số tiền còn nợ tổng cộng gốc và lãi tạm tính đến ngày 30/9/2024 là: 440.023.973 đồng (Trong đó nợ gốc là: 300.000.000 đồng và lãi suất quá hạn là 140.023.973 đồng). Đồng thời yêu cầu Công ty TNHH MTV B phải trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay.

Nếu Công ty TNHH MTV B không thanh toán được số nợ gốc và lãi đã nêu trên thì ông Giang Văn H phải có trách nhiệm liên đới thanh toán toàn bộ khoản vay nêu trên theo hợp đồng bảo lãnh số SME/KGG/19/HDBL-TTD ngày 04/9/2019.

- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:

- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Thực hiện đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Thời hạn chuẩn bị xét xử: vi phạm thời hạn theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty TNHH MTV B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP V3 số nợ vay tính đến hết ngày 30/9/2024 là tổng cộng 440.023.973 đồng (Trong đó nợ gốc là: 300.000.000 đồng và lãi suất quá hạn là 140.023.973 đồng). Đồng thời, Công ty TNHH MTV B phải trả lãi phát sinh cho đến khi thanh toán dứt điểm nợ vay.

Trường hợp, Công ty TNHH MTV B không thanh toán được số nợ gốc và lãi đã nêu trên thì ông Giang Văn H phải có trách nhiệm liên đới thanh toán toàn bộ khoản vay nêu trên theo hợp đồng bảo lãnh số SME/KGG/19/HDBL-TTD ngày 04/9/2019.

V

Về án phí: Các đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi Ngân hàng TMCP V3 khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV B trả số tiền đã vay theo hợp đồng tín dụng giữa các bên đã ký kết, đồng thời yêu cầu ông Giang Văn H thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo hợp đồng bảo lãnh đã ký kết, nguyên đơn và bị đơn đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” và “hợp đồng bảo lãnh” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự. Khi thụ lý vụ án Tòa án chỉ xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Nay Hội đồng xét xử xác định lại quan hệ tranh chấp vụ án là “Tranh chấp hợp đồng bảo lãnh” và “Hợp đồng bảo lãnh”.

Công ty TNHH MTV B có địa chỉ trụ sở tại huyện C, tỉnh Kiên Giang nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Công ty TNHH MTV B là bị đơn (do ông Giang Văn H là người đại diện) và ông Giang Văn H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về xét nội dung yêu cầu khởi kiện:

[3.1] Công ty TNHH MTV BNgân hàng TMCP V3 - Chi nhánh K có ký kết hợp đồng hợp đồng cho vay được thể hiện là giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm (dành cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ) ngày 04/9/2019, với nội dung: Số tiền vay: 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng). Mục đích vay: Bổ sung vốn lưu động phục vụ buôn bán vật liệu, thiết bị lắp đặt khác trong xây dựng. Thời hạn vay: 60 tháng. Lãi suất 29.5%/năm. Để đảm bảo cho khoản vay trên, ông Giang Văn H đã ký hợp đồng bảo lãnh để bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty TNHH MTV B. Xét thấy, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, hợp đồng kết bảo lãnh cùng ngày 04/9/2019 giữa các bên được ký kết trên cơ sở tự nguyện, phù hợp và đúng theo quy định pháp luật nên các hợp đồng này có hiệu lực pháp luật ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên.

[3.2] Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty TNHH MTV B đã không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV B thanh toán số tiền nợ vay tính đến hết ngày 30/9/2024 là tổng cộng 440.023.973 đồng (Trong đó nợ gốc là: 300.000.000 đồng và lãi suất quá hạn là 140.023.973 đồng) và tiền lãi phát sinh cho đến khi trả tất nợ cho Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.3] Theo hợp đồng bảo lãnh ngày 04/9/2019 của ông Giang Văn H thể hiện ông Giang Văn H bảo lãnh cam kết thực hiện nghĩa vụ thay cho Công ty TNHH MTV B toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ với Ngân hàng TMCP V3 (bao gồm nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, lãi chậm trả, phí, các khoản phí khác ....) theo hợp đồng cho vay thể hiện là giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng quốc tế không có tài sản bảo đảm (dành cho khách hàng doanh nghiệp vừa và nhỏ) ngày 04/9/2019 giữa Ngân hàng TMCP V3 với Công ty TNHH MTV B trong trường hợp Công ty TNHH MTV B không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Giang Văn H thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trả nợ thay cho Công ty TNHH MTV B trong trường hợp Công ty không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án để Công ty TNHH MTV B và ông Giang Văn H biết yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V3 và Tòa án đã nhiều lần triệu tập cũng ban hành Thông báo yêu cầu cung cấp, tài liệu chứng cứ cho Công ty TNHH MTV B và ông Giang Văn H để lấy lời khai, yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ, tham gia phiên hòa giải và phiên tòa nhưng Công ty TNHH MTV B và ông Giang Văn H đều vắng mặt và không có lời trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V3. Qua xác minh thì Công ty TNHH MTV B hiện nay tạm ngừng hoạt động nhưng không thay đổi tên công ty, người đại diện theo pháp luật và địa chỉ đăng ký kinh doanh theo công văn số 729./SKHĐT-ĐKKD của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh K (BL 42) và biên bản xác minh ngày 19/4/2024 (BL 38) thì ông Giang Văn H hiện đang có mặt tại địa phương. Điều này thể hiện Công ty TNHH MTV B và ông Giang Văn H đã thừa nhận nợ và đồng ý theo yêu cầu của Ngân hàng.

[5] Lời phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung giải quyết vụ án là phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí:

Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch là 440.023.973 đồng = 20.000.000 đồng x 4% (40.023.973 đồng ) = 20.000.000 đồng + 1.600.958 đồng = 21.600.900 đồng (làm tròn).

Ngân hàng TMCP V3 không phải chịu án phí do yêu cầu được chấp nhận.

Công ty TNHH MTV B phải chịu án phí là 21.600.900 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự

Áp dụng các Điều 335, 336, 342, 463, 466 Bộ luật Dân sự năm 2015

Áp dụng các Điều 91, 94, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng

Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH1430/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần V3 đối với bị đơn Công ty TNHH MTV B, cụ thể:

1.1. Buộc Công ty TNHH MTV B có trách nhiệm trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V3 toàn bộ số nợ tính đến hết ngày 30/9/2024 là nợ gốc: 300.000.000 đồng, nợ lãi: 140.023.973 đồng. Tổng cộng là 440.023.973 đồng. (Bốn trăm bốn mươi triệu, không trăm hai mươi ba nghìn, chín trăm bảy mươi ba đồng). Công ty TNHH MTV B còn phải tiếp tục trả lãi suất phát sinh cho Ngân hàng sau ngày 30/9/2024 cho đến khi thanh toán hết nợ với mức lãi suất theo giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 04/9/2019.

1.2. Trường hợp Công ty TNHH MTV B không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ vay thì ông Giang Văn H phải có nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty TNHH MTV B đối với phần không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đầy đủ.

2. Về án phí:

2.1. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch Công ty TNHH MTV B phải chịu là 21.600.900 đồng.

2.2. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần V3 số tiền 8.600.000 (Tám triệu sáu trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001317 ngày 30/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Kiên Giang.

3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần V3 có được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Công ty TNHH MTV B và ông Giang Văn H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhân:

  • - VKSND cùng cấp;
  • - UBND xã;
  • - CCTHADS;
  • - Đương sự;
  • - Lưu.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/KDTM-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo lãnh

  • Số bản án: 03/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo lãnh
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger