Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS-ST

Ngày: 20/9/2024

V/v “Tranh chấp mua bán”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trung;

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bùi Văn Mưa Lớn;
  2. Ông Huỳnh Hiếu Trung;

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Thịnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc tham gia phiên toà: Ông Phan Trọng Thế - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 04/2024/TLST-KDTM ngày 26 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 204/2024/QĐXXST-KDTM ngày 16 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty CP T2 (sau đây gọi là Công ty T2);
  2. Do ông Nguyễn Văn D – Giám đốc công ty Đ.

    Địa chỉ: F, đường P, phường D, Tp V, tỉnh Vĩnh Long.

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn:

    Bà Lê Thị Cẩm P, sinh năm: 1973;

    Địa chỉ liên lạc: F, đường P, phường D, Tp V, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Bị đơn: Ông Trương Văn T, sinh năm: 1970 – Chủ doanh nghiệp tư nhân X;
  4. Địa chỉ: D, ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

    Địa chỉ thường trú: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
  6. Bà Huỳnh Thị Lệ H, sinh năm: 1969;

    Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre.

(Ông T, bà H vắng mặt; các đương sự khác có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 06 tháng 11 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Lê Thị Cẩm P trình bày:

Ngày 02/01/2013, Chi nhánh Công ty T2 tại Tiền Giang có ký Hợp đồng đại lý bao tiêu xăng dầu số 02/CNTG-HĐ.ĐLXD-2013 với doanh nghiệp tư nhâX (sau đây viết tắt là DNTN) Ngọc H1. Nội dung hợp đồng như sau:

X đồng ý nhận làm đại lý bao tiêu xăng dầu cho Công ty T2, gồm các mặt hàng: xăng các loại, dầu Diesel, dầu hỏa. Số lượng, chủng loại hàng hóa xăng dầu được Công ty T2 giao cho X theo kế hoạch, thông báo và đơn đặt hàng cụ thể của X gửi trước cho Công ty T2. X có trách nhiệm thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng cho Công ty T2.

Công ty T2 cho X mua hàng chậm trả với số tiền nợ không vượt quá 550.000.000 đồng. Trường hợp vượt quá hơn 550.000.000 đồng thì X phải trả lãi cho Công ty T2 theo lãi suất 15%/năm và số nợ vượt không cao hơn 20% định mức nợ. Giá từng lô hàng do hai bên thống nhất hoặc tính bằng đơn giá bán lẻ mà Công ty T2 quy định trừ đi thù lao đại lý tại từng thời điểm. Thời hạn hợp đồng đến hết ngày 31/12/2016.

Ngày 01/01/2017, khi hết hạn hợp đồng đại lý bao tiêu xăng dầu số 02/CNTG-HĐ.ĐLXD-2013, các bên tiếp tục ký Hợp đồng đại lý bao tiêu xăng dầu số 05/ CNTG-HĐ.ĐLXD-2017. Công ty T2 cho X mua hàng chậm trả với số tiền nợ là 20% doanh thu. Trường hợp vượt định mức thì X phải trả lãi cho Công ty T2 theo lãi suất 9%/năm. Thời hạn hết hợp đồng đến hết ngày 31/12/2021.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty T2 đã tiến hành giao hàng theo yêu cầu của X đúng với thoả thuận hợp đồng đã ký nhưng X không thực hiện đúng các nội dung đã cam kết trong hợp đồng. Tháng 8/2021, X ngưng không nhập hàng nữa. Công ty T2 nhiều lần làm việc và đề nghị X thanh toán nợ nhưng X chưa thực hiện đúng việc trả nợ theo cam kết. Cụ thể:

Ngày 20/01/2021, Công ty T2 có gửi Thông báo số 09/TB-CNTG về việc tạm ngưng cung cấp hàng cho đến khi X thanh toán giảm nợ về bằng định mức quý 1/2021, vì lý do định mức nợ của X đã vượt rất nhiều so với định mức được áp dụng cho quý 1/2021 (tháng 1, 2, 3/2021) là 52.000.000 đồng. Tại thời điểm này, X còn nợ Công ty T2 số tiền là 648.888.050 đồng.

Tại Biên bản làm việc ngày 05/02/2021 về việc thoả thuận giảm công nợ về đúng định mức công nợ năm 2021 ghi nhận:

Tính đến ngày 03/02/2021, X còn nợ Công ty T2 số nợ gốc là 648.888.050 đồng. Khi DNTN Ngọc H1 mua hàng sẽ thanh toán tiền hàng trước, nhận tiền giao hàng kèm theo mỗi chuyến hàng sẽ trả dư thêm số tiền từ 2.000.000 đồng – 5.000.000 đồng. X phải thanh toán giảm dần công nợ cho mỗi tháng là 5.000.000 đồng.

Theo Biên bản xác nhận công nợ tính đến ngày 28/02/2021, X còn nợ Công ty T2 số tiền nợ gốc là 648.888.050 đồng.

Ngày 20/4/2021, Công ty T2 có gửi Thông báo về việc yêu cầu X thanh toán nợ xăng dầu nợ gốc là 648.888.050 đồng và nợ lãi là 77.862.449 đồng. Tính đến ngày 23/7/2023, X chỉ trả được số tiền nợ gốc là 6.480.000 đồng và trả số tiền nợ lãi là 57.430.000 đồng. Do đó, X vẫn còn nợ Công ty T2 nợ gốc là 642.408.050 đồng.

Ngày 24/7/2923, Công ty T2 tiếp tục gửi Thông báo số 06/CNTG về việc yêu cầu X thanh toán nợ xăng dầu số tiền 888.187.489 đồng; trong đó nợ gốc là 642.408.050 đồng và nợ lãi (lãi suất 12%/năm) từ tháng 01/2019 đến ngày 24/7/2023 là 245.779.439 đồng. Tuy nhiên đến nay, X vẫn không thanh toán số nợ xăng dầu còn thiếu cho Công ty T2.

Nay, Công ty T2 yêu cầu Toà án giải quyết buộc ông Trương Văn T – Chủ X và bà Huỳnh Thị Lệ H có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ cho Công ty T2 tổng cộng là 915.190.978 đồng; trong đó: tiền vốn: 642.408.050 đồng; lãi từ tháng 01/2019 đến ngày 06/11/2023 với mức lãi suất 12%/năm là 272.782.928 đồng. Ông T, bà H tiếp tục có trách nhiệm liên đới trả lãi tiếp theo sau ngày 06/11/2023 cho đến khi trả hoàn tất nợ theo mức lãi suất nêu trên.

Tính đến ngày 23/7/2024 tiền lãi ông T, bà H phải có trách nhiệm trả cho Công ty T2 là 327.657.012 đồng. Tổng cộng vốn và lãi là 970.065.062 đồng.

Ông Trương Văn T – Chủ DNTN xăng dầu X vắng mặt tại phiên họp, phiên hoà giải và phiên toà nên không có lời trình bày.

Tại Biên bản xác minh ngày 09/7/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Lệ H trình bày:

Bà H là vợ của ông Trương Văn T – Chủ DNTN xăng dầu X. DNTN xăng dầu X đã ngừng hoạt động khoảng hơn 03 năm. Ông T là người đứng tên chủ doanh nghiệp, còn bà H chỉ là người làm chung. Bà cùng với ông T quản lý điều hành, thu chi hoạt động kinh doanh của doang nghiệp. Quá trình hoạt động, X chỉ nhập xăng dầu của Công ty cổ phần T2 ở thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Hiện DNTN xăng dầu X còn nợ tiền của Công ty T2 và có lập biên bản đối chiếu công nợ với Công ty cổ phần T2 nhưng do bà H vừa bị đột quỵ nên sức khoẻ không tốt và không nhớ chính xác còn nợ bao nhiêu nên yêu cầu Toà án để sức khoẻ bà ổn định, bà H nhớ lại sẽ cung cấp thông tin cho Toà án. Thời gian bao lâu để bà phục hồi thì bà không biết.

Hiện nay, ông T không còn sinh sống tại địa chỉ ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre và cũng không sinh sống tại nơi đăng ký thường trú là ấp T, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. Hiện nay, ông T đang sinh sống ở đâu bà không biết địa chỉ cụ thể để cung cấp thông tin cho Toà án.

Đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty T2, yêu cầu bà và ông T có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Công ty. Qua trao đổi, ông T không đồng ý và yêu cầu một mình bà H có nghĩa vụ trả nợ cho Công ty T2. Đối với yêu cầu này của ông T, bà H không đồng ý. Vợ chồng bà làm ăn chung từ trước đến nay nên ông T phải cùng với bà có trách nhiệm liên đới trả nợ cho Công ty T2.

Theo bệnh án của Bệnh viện N (tỉnh Bến Tre) chẩn đoán bà H bị nhồi máu não, nhiễm độc giáp (cường giáp) bệnh kèm theo là tăng lipit máu hỗn hợp, tăng huyết áp vô căn (nguyên phát). Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày 09/7/2024, bà H sẽ cung cấp ý kiến về số nợ của DNTN xăng dầu X nợ Công ty T2 cho Toà án. Hết thời hạn trên, bà H không cung cấp thông tin, yêu cầu Toà án tiến hành giải quyết vụ án theo quy định.

Tại phiên tòa, bà P, đại diện cho công ty T2, vẫn giữ yêu cầu khởi kiện. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, X còn nợ của Công ty T2 số tiền gốc là 642.408.050 đồng; nợ lãi từ tháng 01/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 20/9/2024 với mức lãi suất 10%/năm thành tiền là 340.021.640 đồng. Số tiền lãi này được tính trên số nợ gốc trừ đi số nợ định mức, còn lại số vượt định mức mới tính lãi, không tính lãi từ số tiền vốn Công ty khởi kiện trên số tháng X vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Công ty T2 yêu cầu ông T – Chủ DNTN Ngọc H1 tiếp tục trả lãi từ ngày 21/9/2024 cho đến khi trả hoàn tất nợ theo mức lãi suất 0,83%/tháng trên số nợ gốc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Về thủ tục tố tụng: từ khi thụ lý cũng như quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký đã thực hiện đúng quy định và tại phiên toà Hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo đúng trình tự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ các Điều 21, 26, 35, 39, 203, 217 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 357 Bộ luật dân sự 2015; các Điều 183, 185 Luật Doanh nghiệp; các Điều 166, 167, 168, 169, 170, 306 Luật Thương mại năm 2005, đề nghị:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông T và bà H1 có nghĩa vụ liên đới trả cho Công ty T2 số tiền 982.432.690 đồng, trong đó: nợ gốc: 642.408.050 đồng; nợ lãi đến ngày 20/9/2024 là 340.021.640 đồng. Và tính lãi từ ngày 21/9/2024 đến khi thanh toán xong với lãi suất 10%/năm, trên số nợ gốc cho đến khi trả xong.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Ngày 06/11/2023, công ty CP T2 khởi kiện tại Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc yêu cầu giải quyết buộc ông Trương Văn T– Chủ X và bà Huỳnh Thị Lệ H có trách nhiệm liên đới trả số tiền nợ cho Công ty T2 tổng cộng là 915.190.978 đồng; trong đó: tiền vốn: 642.408.050 đồng; lãi từ tháng 01/2019 đến ngày 06/11/2023 với mức lãi suất 12%/năm là 272.782.928 đồng. Ông T, bà H tiếp tục có trách nhiệm liên đới trả lãi tiếp theo sau ngày 06/11/2023 cho đến khi trả hoàn tất nợ theo mức lãi suất nêu trên. Căn cứ yêu cầu khởi kiện, vụ án có quan hệ pháp luật tranh chấp về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán” quy định tại khoản 1 Điều 30 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 8 Điều 3 Luật Thương mại 2005. Vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn ông Trương Văn T – Chủ DNTN xăng dầu X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Huỳnh Thị Lệ H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, Tòa án xét xử vắng mặt ông T và bà H là phù hợp với quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Đối với yêu cầu của công ty T2 yêu cầu ông T – Chủ X trả số tiền 642.408.050 đồng:

Theo bà P, đại diện cho công ty T2: ngày 02/01/2013, Chi nhánh Công ty T2 tại Tiền Giang có ký Hợp đồng đại lý bao tiêu xăng dầu số 02/CNTG-HĐ.ĐLXD-2013 với X. Nội dung hợp đồng: X làm đại lý bao tiêu xăng dầu cho Công ty T2, gồm các mặt hàng: xăng các loại, dầu Diesel, dầu hỏa. Số lượng, chủng loại hàng hóa xăng dầu được Công ty T2 giao cho X theo kế hoạch, thông báo và đơn đặt hàng cụ thể của X. X có trách nhiệm thanh toán bằng chuyển khoản qua ngân hàng cho Công ty T2. Sau khi hết hạn hợp đồng này, Công ty T2 và X tiếp tục ký lại hợp đồng 02 lần. Quá trình thực hiện hợp đồng, X không thực hiện đúng các nội dung đã cam kết trong hợp đồng, vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Công ty T2. Công ty T2 khởi kiện yêu cầu ông T – Chủ X và bà H trả số tiền 642.408.050 đồng và tiền lãi. Chứng cứ chứng minh: Biên bản xác nhận công nợ từ tháng 01 đến tháng 6/2023; Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp doanh nghiệp tư nhân (Bản sao không có chứng thực); Báo cáo tổng hợp lãi (Bản chính); Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp công ty cổ phần ( có chứng thực); Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh (bản sao có chứng thực); Hợp đồng đại lý bao tiêu xăng dầu (Bản sao có chứng thực); Thông báo số 99/DKCL ngày 30/5/2014 (bản sao có chứng thực); 03 biên bản làm việc (bản sao có chứng thực); Thông báo số 06/TB,CNTG ngày 20/01/2021 (bản sao có chứng thực); Thông báo số 09/TB,CNTG ngày 20/01/2021 (bản sao có chứng thực); Công văn ngày 20/4/2021 về việc yêu cầu thanh toán nợ (bản sao có chứng thực); Công văn số 06 ngày 24/7/2023 về việc yêu cầu thanh toán nợ (bản sao có chứng thực); Biên bản giao nhận (bản sao không có chứng thực); Công văn số 201 ngày 20/12/2023 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh B (bản chính); Quyết định về việc thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; Bảng kê tính lãi DNTN xăng dầu X (Bản chính).

Đối với yêu cầu của Công ty T2, ông T – Chủ X vắng mặt nên không có ý kiến. Bà H, là vợ của ông T, thừa nhận có nợ của Công ty T2 nhưng không nhớ số tiền nợ là bao nhiêu. Bà H yêu cầu ông T cùng có trách nhiệm liên đới cùng với bà H trả nợ cho Công ty T2. Ông T và bà H không cung cấp chứng cứ cho Toà án.

Xét thấy, ông Trương Văn T – Chủ DNTN xăng dầu X đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Toà án căn cứ vào những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết. Tại “Biên bản xác minh” ngày 09/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, chị Trương Huỳnh Ngọc T1 trình bày: chị T1 là con của ông T và bà H. Ngày 29/5/2024, chị T1 có nhận thay cho ông T Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải số 657 ngày 15/5/2024 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc thông báo cho ông T biết để tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải vào lúc 08 giờ 00 ngày 31/5/2024. Khi chị T1 nhận thông báo này thay cho ông T, chị có chụp hình thông báo nêu trên để gửi cho ông T thông qua Zalo. Sau khi ông T nhận được ảnh chị T1 gửi về thông báo của Toà án, ông T hỏi chị T1 “Toà án gửi thông báo cho cha hả”; chị T1 xác nhận là đúng. Sau đó ông T yêu cầu chị T1 đưa thông báo cho bà H và không có ý kiến gì liên quan đến thông báo của Toà án nữa. Như vậy có căn cứ xác định ông T đã nhận được thông báo của Toà án, cũng đã biết được ông T – là chủ DNTN xăng dầu X, đang bị Công ty T2 khởi kiện yêu cầu trả số tiền còn nợ tổng cộng là 915.190.978 đồng; trong đó: tiền vốn: 642.408.050 đồng; lãi từ tháng 01/2019 đến ngày 06/11/2023 với mức lãi suất 12%/năm là 272.782.928 đồng nhưng ông T không có ý kiến phản bác hay phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty T2. Ngoài ra, tại Biên bản xác nhận công nợ từ tháng 01 đến tháng 6/2023 do Công ty D1 thể hiện số tiền nợ gốc DNTN xăng dầu Ngọc H1 còn nợ của Công ty T2 là 642.408.050 đồng. Ông T có ký tên vào mục “Đại diện bên B” là DNTN xăng dầu X. Số tiền trong các Biên bản xác nhận công nợ từ tháng 01 đến tháng 6/2023 đúng với số tiền Công ty T2 khởi kiện. “Biên bản xác minh” ngày 09/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, bà H1 trình bày: bà không nhớ số tiền bà và ông T nợ của Công ty T2 là bao nhiêu. Tuy nhiên, như đã nêu trên, có cơ sở xác định DNTN xăng dầu X do ông T làm chủ doanh nghiệp còn nợ của Công ty T2 là 642.408.050 đồng. Yêu cầu của Công ty T2 là có căn cứ nên được chấp nhận. Cần buộc ông T có trách nhiệm trả cho Công ty T2 số tiền gốc còn nợ là 642.408.050 đồng.

[3] Đối với yêu cầu tính lãi với mức lãi suất 12%/năm trên số tiền gốc là 642.408.050 đồng:

Xét Hợp đồng đại lý bao tiêu xăng dầu số 02/CNTG-HĐ.ĐLXD-2013 ngày 02/01/2013 giữa Chi nhánh Công ty T2 tại Tiền Giang với X, thể hiện: “Trường hợp vượt quá hơn 550.000.000 đồng thì X phải trả lãi cho Công ty T2 theo lãi suất 15%/năm”. Tại Hợp đồng đại lý bao tiêu xăng dầu số 05/ CNTG-HĐ.ĐLXD-2017, ngày 01/01/2017 giữa Công ty T2 với X, thể hiện: “Trường hợp vượt định mức thì X phải trả lãi cho Công ty T2 theo lãi suất 9%/năm”. Như vậy, có cơ sở xác định, khi ký kết hợp đồng, giữa Công ty T2 với DNTN xăng dầu X có thoả thuận trả lãi nếu trường hợp vi phạm thoả thuận về nghĩa vụ trả nợ đối với số nợ vượt định mức thỏa thuận trong hợp đồng. Tại phiên toà, bà P, đại diện cho Công ty T2, yêu cầu ông T trả lãi với mức lãi suất áp dụng là 10%/năm là phù hợp với quy định tại Điều 306 Luật Thương mại. Ông T vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ tháng 01/2023 đến nay nên thời gian từ tháng 01/2023 đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 20/9/2024 là 340.021.640 đồng. Tổng số tiền ông T – Chủ DNTN xăng dầu X phải trả cho Công ty T2 là 642.408.050 đồng + 340.021.640 đồng = 982.429.690 đồng.

[4] Đối với yêu cầu bà H1 có trách nhiệm liên đới trả nợ:

Bà H1, là vợ của ông T. Tại “Biên bản xác minh” ngày 09/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, bà H1 trình bày: ông T là người đứng tên chủ doanh nghiệp, còn bà H1 chỉ là người làm chung. Bà cùng với ông T quản lý điều hành, thu chi hoạt động kinh doanh của doang nghiệp. Vì vậy, bà H1 phải có trách nhiệm liên đới cùng với ông T trả số nợ nêu trên cho Công ty T2. Yêu cầu của Công ty T2 là có căn cứ nên được chấp nhận.

Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc là có căn cứ nên được chấp nhận.

[4] Về án phí: ông T, bà H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 41.473.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng khoản 8 Điều 3, Điều 306 Luật Thương mại 2005; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của Công ty CP T2.
  2. Buộc ông Trương Văn T – Chủ doanh nghiệp tư nhân X và bà Huỳnh Thị Lệ H phải có trách nhiệm liên đới trả cho Công ty CP T2 số tiền nợ tổng cộng là 982.429.690đ (Chín trăm tám mươi hai triệu bốn trăm hai mươi chín ngàn sáu trăm chín mươi đồng). Trong đó: tiền gốc là 642.408.050đ (Sáu trăm bốn mươi hai triệu bốn trăm lẻ tám ngàn không trăm năm mươi đồng), tiền lãi là 340.021.640đ (Ba trăm bốn mươi triệu không trăm hai mươi mốt ngàn sáu trăm bốn mươi đồng).

  3. Về án phí: ông Trương Văn T – Chủ doanh nghiệp tư nhân X và bà Huỳnh Thị Lệ H phải có trách nhiệm liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền là 41.473.000₫ (Bốn mươi mốt triệu bốn trăm bảy mươi ba ngàn đồng).
  4. Hoàn trả cho Công ty CP T2 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 19.728.000đ (Mười chín triệu bảy trăm hai mươi tám ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004572 ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

  5. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền vốn còn phải thi hành án theo mức lãi suất 10%/năm.
  6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông T, bà H vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Chi cục THA DS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Lê Thị Minh Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/DS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng mua bán

  • Số bản án: 03/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Công ty CP T2 tranh chấp hợp đồng mua bán Trương Văn T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger