Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN BẮC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HS-ST

Ngày: 24/4/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC - TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Minh Đăng

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Lắm
  2. Bà Nguyễn Võ Phương Dung

Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Thị Hoà Yên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc - tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2024/HSST ngày 07/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2024/QĐST-HS ngày 09/4/2024, đối với các bị cáo:

1. NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1995. Nơi sinh: Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Thôn Ấ, xã L, huyện T, Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 02/12. Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1955 (đã chết) và bà Lê Thị C, (đã chết).

Nhân thân: Ngày 12/7/2013 bị Tòa án nhân huyện T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt. Ngày 18/12/2013, bị Tòa án nhân huyện T, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang thực hiện lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt)

2. MANG SANG, sinh năm 1990. Nơi sinh: Ninh Thuận.

Nơi cư trú: Thôn R, xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận. Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: Không biết chữ. Dân tộc: Raglai; Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mang M, sinh năm 1958 và bà Mang Thị L, sinh năm 1958. Vợ tên: Chamaleá Thị N, sinh năm 1989. Bị cáo có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2017. Tiền án: Ngày 31/10/2008 bị Tòa án nhân huyện B, tỉnh Ninh Thuận xử phạt 05 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong hình phạt và án phí, nhưng chưa chấp hành xong phần bồi thường dân sự nên chưa được xoá án tích. Tiền sự: Không. Bị cáo hiện đang thực hiện lệnh cấm đi khởi nơi cư trú. (Có mặt)

Người bào chữa cho các bị cáo T1, S: Ông Đỗ Thanh L1, trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N. Có mặt

Người bị hại: Chị Nguyễn Thị C1, sinh năm 1990.

Nơi cư trú: Thôn Á, xã L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Trường L2, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài, ngày 12/11/2023, trong lúc ngồi nhậu, Nguyễn Văn T2 đã nảy sinh ý định lấy trộm tài sản nên rủ Mang S1 đi lấy trộm máy tính xách tay của nhà chị Nguyễn Thị C1 tại thôn Á, xã L, huyện T. Nghe vậy, S1 hỏi “Lấy ở đâu”, T2 nói “Biết nhà” thì S1 đồng ý.

Khoảng 17 giờ 00 ngày 14/11/2023, T2 dẫn S1 đi đến và chỉ nhà chị C1 cho S1 biết rồi hẹn đến tối sẽ đi lấy trộm. Khoảng hơn 01 giờ 00 ngày 15/11/2023, T2 và S1 đi bộ đến nhà chị C1 để lấy trộm tài sản. Đến nơi, T2 nhặt 01 viên đá, kích thước vừa lòng bàn tay rồi cùng S1 leo qua hàng rào lưới B40 phía sau bên trái nhà chị C1 và đi đến cửa phía sau nhà. Thấy cửa đóng và khoá chốt ở phía trong, T2 cầm viên đá bằng tay phải đập mạnh 01 cái vào phần kính gần tay nắm cửa làm kính vỡ rồi S1 đưa tay trái luồn vào phần kính vỡ trên cửa để mở khoá chốt cửa ở bên trong. Sau khi mở được cửa, T2 đi vào trong nhà, S1 đứng ngoài cửa canh gác. T2 đi đến phòng khách lấy 01 máy tính xách tay, hiệu ACER, màu trắng đen đang để trên chiếc xe mô tô dựng trong phòng khách cùng với dây sạc pin và chuột máy tính. Sau đó, T2 tiếp tục đi vào phòng của chị C1 đang ngủ lấy 01 chiếc điện thoại di động hiệu VIVO V23E, màu xanh đang để trên bàn rồi cùng với S1 đi ra ngoài. Trên đường đi về, T2 nói với S1 để T2 đem tài sản lấy trộm được về nhà T2 cất giấu rồi hôm nào bán, S1 đồng ý. Sau đó, T2 mang cất giấu tài sản lấy trộm được ở dưới bếp của gia đình. Khoảng 10 giờ 00 ngày 15/11/2023, T2 lấy tài sản lấy trộm được để vào trong bao màu trắng và cùng S1 đón xe khách đến xã N, huyện N, tỉnh Ninh Thuận để bán tài sản trộm cắp. Trên đường đi, T2 đã tháo 02 thẻ sim trong điện thoại cùng với ốp lưng của điện thoại lấy trộm được ném bỏ dọc đường. T2 và S1 đến tiệm mua bán điện thoại của anh Nguyễn Trường L2 để bán tài sản trộm cắp. Khi đến nơi, T2 đứng ở bên ngoài, còn S1 vào bên trong gặp và hỏi anh L2 “Máy tính này anh mua được bao nhiêu", sau khi kiểm tra máy tính thì anh L2 hỏi “Máy tính này ở đâu”, S1 nói dối là “Đi làm trên Lâm Đồng nhưng chủ không có tiền và đưa máy tính để trừ nợ”. Nghe vậy, anh L2 nói máy tính bị lỗi nên chỉ đồng ý mua với giá 500.000 đồng, S1 đồng ý bán. Thấy số tiền bán máy tính ít nên S1 lấy ra chiếc điện thoại di động lấy trộm rồi hỏi anh L2 “Mở mật khẩu điện thoại này bao nhiêu tiền”, anh L2 kiểm tra chiếc điện thoại và nói giá tiền là 100.000 đồng, anh L2 hỏi S1 “Sao xài điện thoại mà không biết mật khẩu” thì lúc này S1 tiếp tục nói dối là “Điện thoại để ở nhà trẻ nhỏ bấm phá bị khoá”. Sau đó, S1 hỏi anh L2 “Điện thoại này anh mua được bao nhiêu” thì anh L2 nói 1.500.000 đồng. Nghe vậy, S1 nói anh L2 cho thêm 100.000 đồng thì anh L2 đồng ý. Sang bán điện thoại, máy tính xách tay cùng dây sạc pin và chuột máy tính cho anh L2 được tổng số tiền là 2.100.000 đồng. S1 chia cho T2 1.100.000 đồng còn S1 giữ lại 1.000.000 đồng. Sau đó, S1 và T2 đón xe đi về lại thôn Ấ, xã L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Số tiền có được từ việc bán tài sản trộm cắp, T2 và S1 đã tiêu xài cá nhân hết. Sau khi bị mất tài sản do bận công việc đến ngày 17/11/2023, chị Nguyễn Thị C1 trình báo vụ việc với Công an xã L, huyện T. Sau đó cơ quan điều tra Công an huyện T mời T2, S1 lên làm việc, tại đây các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 117/KLĐGTS ngày 23/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: Giá trị tại thời điểm bị mất vào ngày 15/11/2023 của 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu VIVO V23E, màu xanh (không có thẻ sim); 01 máy tính xách tay (L), nhãn hiệu ACER, màu trắng đen; 01 dây sạc máy tính xách tay màu đen và 01 chuột máy tính có dây, màu đen có tổng giá trị là 4.194.000 đồng (Bốn triệu một trăm chín mươi bốn nghìn đồng).

Tại Cáo trạng số: 04/CT-VKS ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc đã truy tố Nguyễn Văn T2, Mang S1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo T2, S1 khai nhận vào ngày 15/11/2023, đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động cảm ứng, 01 máy tính xách tay cùng 01 dây sạc pin máy tính và 01 chuột máy có tổng giá trị là 4.194.000 đồng của chị Nguyễn Thị C1 tại thôn Á, xã L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Sau đó các bị cáo đã bán tài sản trộm cắp này cho anh Nguyễn Trường L2 được số tiền 2.100.000 đồng và đã chia nhau tiêu xài cá nhân hết.

Trong quá trình tố tụng người bị hại trình bày: Chị Nguyễn Thị C1 xác định các bị cáo là người đã trộm cắp tài sản. Trong quá trình điều tra chị đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu các bị cáo bồi thường. Đối với 02 sim số 0912416363 và 0855696541 gắn trong điện thoại và 01 ốp lưng điện thoại mà các bị cáo đã ném mất và phần kính cửa sau nhà bị bể vỡ do bị cáo T2 dùng đá đập hư hỏng thì giá trị không lớn. Chị C1 đã tự khắc phục, sửa chữa với số tiền 300.000 đồng. Chị C1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường lại số tiền này.

Trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trường L2 trình bày: Anh xác nhận vì không biết tài sản do các bị cáo trộm cắp mà có nên đã mua lại các tài sản đó với số tiền 2.100.000 đồng. Trong quá trình điều tra, anh đã trả lại tài sản cho cơ quan điều tra. Đối với số tiền 2.100.000 đồng đã trả cho các bị cáo anh không yêu cầu các bị cáo phải trả lại.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với bị cáo về tội danh như trên và đề nghị HĐXX:

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Mang S1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
  • - Về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, cơ quan Điều tra Công an huyện T đã trả lại toàn bộ tài sản cho người bị hại và xử lý về trách nhiệm dân sự theo quy định nên đề nghị HĐXX không xem xét.
  • - Về án phí Hình sự sơ thẩm: Đề nghị HĐXX miễn tiền án phí sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo T2, S1 trình bày: Hoàn toàn đồng ý với nội dung cáo trạng của viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo về tội danh như trên. Tuy nhiên, khi áp dụng mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo. Lý do: Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo S1 là người dân tộc thiểu số lại không biết chữ nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Bị cáo T2 có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Vì vậy, đề nghị HĐXX áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của BLHS và đề nghị HĐXX xử phạt các bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố cũng đủ để giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội.

Các bị cáo đồng ý với nội dung trình bày của người bào chữa và không có ý kiến gì bổ sung thêm.

Kiểm sát viên đối đáp với ý kiến của người bào chữa: Không đồng ý áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của BLHS đối với các bị cáo.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo không trình bày nói lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn T2, Mang S1 khai nhận vào ngày 15/11/2023, đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động cảm ứng, 01 máy tính xách tay cùng 01 dây sạc pin máy tính và 01 chuột máy có tổng giá trị là 4.194.000 đồng của chị Nguyễn Thị C1 tại thôn Ấ, xã L, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. Sau đó các bị cáo đã bán tài sản trộm cắp này cho anh Nguyễn Trường L2 được số tiền 2.100.000 đồng và đã chia nhau tiêu xài cá nhân hết. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, khẳng định cáo trạng 04/CT-VKS ngày 06/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc đã truy tố Nguyễn Văn T2, Mang S1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự là có cơ sở, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Các bị cáo đã phạm tội Trộm cắp tài sản. Tội và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của BLHS. Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, cần đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo để ra mức hình phạt phù hợp quy định pháp luật:

[4]. Đối với Nguyễn Văn T2: Bị cáo là người khởi xướng và cùng với bị cáo S1 thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với vai trò là người trực tiếp chiếm đoạt tài sản. Tài sản sau khi chiếm đoạt được bán lấy tiền thì bị cáo là người giữ phần lớn. Bị cáo là người có nhân thân xấu. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ là: Tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn và được thu hồi trả lại cho bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

[5]. Đối với bị cáo Mang S1: Bị cáo tham gia thực hiện hành vi trộm cắp tài sản cùng với bị cáo T2 với vai trò giúp sức. Tài sản sau khi chiếm đoạt được bị cáo là người trực tiếp bán. Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Tài sản chiếm đoạt có giá trị không lớn và được thu hồi trả lại cho bị hại, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Mặt khác, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế. Tuy vai trò của bị cáo trong vụ án này hạn chế hơn so với bị cáo T2 nhưng bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên mức hình phạt của bị cáo cũng sẽ bằng với bị cáo T2.

[6] Từ những phân tích trên, HĐXX chấp nhận toàn ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, một phần ý kiến của người bào chữa cho các bị cáo. Xét thấy cần thiết áp dụng hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội do các bị cáo thực hiện nhằm mục đích giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung.

[7] Xử lý vật chứng và các vấn đề khác: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện đã thu hồi, tạm giữ và trả lại 01 điện thoại di động cảm ứng, nhãn hiệu VIVO V23E, màu xanh (không có thẻ sim); 01 máy tính xách tay (L), nhãn hiệu ACER, màu trắng đen; 01 dây xạc máy tính xách tay màu đen và 01 chuột máy tính có dây, màu đen cho bị hại Nguyễn Thị C1 là chủ sở hữu hợp pháp. Bị hại đã nhận lại các tài sản bị mất trộm và không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Do đó HĐXX không xem xét.

Đối với 02 sim số 0912416363 và 0855696541 gắn trong điện thoại và 01 ốp lưng điện thoại mà các bị can đã ném mất trên đường đi bán tài sản trộm cắp và phần kính cửa sau nhà chị C1 bị bể vỡ do bị cáo T2 dùng đá đập hư hỏng thì giá trị không lớn và chị Nguyễn Thị C1 đã tự khắc phục, sửa chữa với số tiền 300.000 đồng. Bị hại C1 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường. Cơ quan điều tra Công an huyện T không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn T2 về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Vì vậy, HĐXX không xem xét.

Đối với số tiền 2.100.000 đồng các bị cáo có được từ việc bán tài sản trộm cắp, hiện nay các bị cáo đã tiêu xài cá nhân hết. Anh Nguyễn Trường L2 cho các bị cáo số tiền này nên HĐXX không buộc các bị cáo trả lại cho anh L2.

Khi mua các tài sản do các bị cáo trộm cắp nhưng anh L2 không biết tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không khởi tố hình sự đối với anh L2 là có cơ sở. HĐXX không xem xét.

[8] Về án phí: Do bị cáo Nguyễn Văn T2 thuộc hộ nghèo được cơ quan có thẩm quyền xác nhận, bị cáo Mang S1 là người dân tốc thiểu số sống tại khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biêtk hó khăn nên được miễn toàn bộ tiền án phí HSST.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn T2, Mang S1 phạm tội trộm cắp tài sản.

Xử phạt Nguyễn Văn T2 12 (mười hai) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bắt giam 24/4/2024.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt Mang Sang 12 (mười hai) tháng tù. Hạn tù tính từ ngày bắt giam 24/4/2024.

Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Các bị cáo Nguyễn Văn T2, Mang S1 được miễn toàn bộ tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo. Quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 24/4/2024). Riêng người bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết hoặc được tổng đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Thuận Bắc;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - Công an huyện Thuận Bắc (02 bản);
  • - Các bị cáo; người bị hại; NBC;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Bắc;
  • - Hồ sơ THAHS;
  • - Lưu (hồ sơ, án văn).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Ngô Minh Đăng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC TỈNH NINH THUẬN về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 03/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: các bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger