Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẬU LỘC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:03/2024/HS-ST

Ngày 20-07-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Sang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Đình Quế; Ông Hoàng Văn Cường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc tham gia phiên tòa: Bà Hà Thị Quy - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 02 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số:01/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:02/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 01 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ tên: Lê Văn T, sinh ngày 20 tháng 6 năm 1979 - tại xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Trú tại: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Trình độ văn hóa 12/12; Con ông Lê Xuân T1, sinh năm 1953 và bà Lê Thị B, sinh năm 1958; Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ nhất; Có vợ là Cù Thị T2, sinh năm 1984 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2005

Tiền sự: Không; Tiền án: 01, Ngày 28/4/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 33 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Ngày 27/01/2022 chấp hành xong bản án. Chưa được xóa án tích.

Nhân thân: - Tháng 12/2007 bị bắt đi cai nghiện tại Trung tâm giáo dục lao động xã hội tỉnh T. Thời hạn 02 năm, chấp hành xong tháng 8/2009.

- Ngày 10/5/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 10/10/2023 chuyển tạm giam từ ngày 15/10/2023 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh T. Có mặt tại phiên tòa.

- Người tham gia tố tụng khác:

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Ông Lê Xuân T1, sinh năm 1953 (vắng mặt) và bà Lê Thị B, sinh năm 1958. Có

mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

* Người làm chứng:

Chị Trần Thị Hồng M, sinh năm 1977. Vắng mặt

Địa chỉ: Khu phố D, phường P, thị xã B, tỉnh Thanh Hóa.

* Người chứng kiến:

- Ông Đinh Văn Đ, sinh năm 1968. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 02 giờ 20 phút ngày 10 tháng 10 năm 2023, tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh T phối hợp với Công an xã T, làm nhiệm vụ trên Quốc lộ A thuộc thôn S, xã T, phát hiện Lê Văn T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu EXITER, màu đen đỏ, BKS 36B3-906.34, dừng xe trước nhà nghỉ H1 có biểu hiện nghi vấn nên tổ công tác yêu cầu kiểm tra, phát hiện trong ví màu nâu trong túi quần phía sau bên phải T đang mặc có 01 túi ni lông màu trắng, kích thước 10x5cm, bên trong đựng 10 viên nén màu hồng, Lê Văn T khai nhận tất cả đều là ma túy, T mang theo để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Văn T và niêm phong vật chứng theo quy định; tạm giữ của Tính: 01 điện thoại di động Iphone, màu hồng, màn hình cảm ứng đã vỡ; 01 ví da màu nâu; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER, màu đen - đỏ, BKS 36B3-906.34.

Về nguồn gốc số ma túy, T khai là mua của Trần Thị Hồng M, sinh năm 1977, nhà ở khu phố D, phường P, thị xã B, với số tiền 600.000 đồng vào chiều ngày 09/10/2023 tại Quốc lộ A thuộc địa phận thôn Đ, xã Đ, huyện H.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn T tại thôn P, xã T, huyện H vào lúc 10 giờ 00 phút ngày 10/10/2023 và chỗ ở của Trần Thị Hồng M tại khu phố D, phường P, thị xã B, vào lúc 14 giờ phút ngày 11/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T không thu giữ đồ vật, tài liệu gì liên quan đến vụ án. (Bút lục số: 05, 06, 09, 10)

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 463/QĐ-CSMT ngày 11 tháng 10 năm 2023, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh T, giám định đối với vật chứng đã thu giữ của Lê Văn T. Tại bản kết luận giám định số 3670/KL-KTHS ngày 12/10/2023 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: 10 viên nén màu hồng của phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,010 gam (một phẩy không một không gam) loại Methamphetamine.

Lê Văn T đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra thông báo về nội dung kết luận giám định và đồng ý với nội dung kết luận, không có ý kiến gì.

Trong quá trình điều tra Lê Văn T khai nhận: Ngày 09/10/2023, T sử dụng số điện thoại 0984.048.xxx gọi điện vào số máy 0977.170.868 của Trần Thị Hồng M, nhờ M mua 10 viên ma túy, M đồng ý. Đến khoảng 17 giờ ngày 09/10/2023, M điều khiển xe máy một mình đến khu vực công ty T4 thuộc thôn Đ, xã Đ, bán cho T 01 túi nilon đựng 10 viên ma túy tổng hợp với số tiền 600.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong T điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 02 giờ ngày 10/10/2023, T điều khiển xe mô tô 36B3-960.34 đến nhà nghỉ H1 thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang.

Quá trình đấu tranh với Trần Thị Hồng M và tiến hành đối chất với Lê Văn T, M chỉ thừa nhận giữa MT có việc vay mượn tiền. Ngày 09/10/2023, T chuyển trả nợ cho M 2.000.000 đồng, không thừa nhận đã bán ma túy cho T, đồng thời không có tài liệu chứng cứ để xác định M bán ma túy cho T, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý đối với M.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị can Lê Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của T phù hợp với các tài liệu đã được điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Vật chứng của vụ án gồm: Toàn bộ bao gói mở niêm phong và 09 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,913g (không phẩy chín một ba gam) là mẫu vật còn lại sau giám định được đựng trong một phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng K Công an tỉnh T phát hành được dán kín, niêm phong; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER màu đen - đỏ, biển kiểm soát 36B3-960.34; 01 ví da màu nâu cũ và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng đã qua sử dụng (phần trước và sau của điện thoại bị vỡ) gắn sim số 0984.048.129 của Lê Văn T. Hiện đang bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

Tại cáo trạng số 05/CT-VKSHL ngày 10/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Xét tính chất, mức độ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc vẫn giữ nguyên quan điểm về việc truy tố bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn như cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 BLHS: Xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 24 (hai mươi bốn) đến 30 (ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/10/2023.

Về phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung.

Về vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a, c khoản 1, 2 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS;

  • - Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định và 01 ví da màu nâu cũ;
  • - Tịch thu sung ngân sách và 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng đã qua sử dụng (phần trước và sau của điện thoại bị vỡ) gắn sim số 0984.048.129 của Lê Văn T;
  • - Trả lại 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER màu đen - đỏ, biển kiểm soát 36B3-960.34 cho ông Lê Xuân T1 và bà Lê Thị B quản lý.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và biên bản phạm tội quả tang cũng như những tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án. HĐXX đủ cơ sở kết luận:

Vào hồi 02 giờ 00 phút ngày 10/10/2023 tại nhà nghỉ H1 thuộc thôn S, xã T, huyện H. Tổ công tác của C H phối hợp với Công an xã T đã phát hiện và bắt quả tang Lê Văn T đang có hành vi tàng trữ trái phép 1,010 gam chất ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng.

Cáo trạng số 05/CT-VKSHL ngày 10/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hậu Lộc truy tố bị cáo Lê Văn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo đang có 01 tiền án về tội Mua bán trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích nên chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy tàng trữ ma túy là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến việc quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất an ninh trật tự, an toàn công cộng tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đầy đủ nhận thức và biết tác hại của ma túy là rất lớn đối với bản thân, gia đình và xã hội. Lại là đối tượng có nhân thân xấu, đã bị bắt đi cai nghiện bắt buộc năm 2007. Đến năm 2010 bị xử phạt về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không tu dưỡng rèn luyện mà tiếp tục tàng trữ ma túy để sử dụng. Do vậy cần phải xử lý nghiêm, cách ly xã hội đối với bị cáo một thời gian cần thiết để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, thu nhập thấp, tàng trữ trái phép chất ma túy để phục vụ nhu cầu bản thân nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về nguồn gốc ma túy Lê Văn T khai nhận: Ngày 09/10/2023, T sử dụng số điện thoại 0984.048.xxx gọi điện vào số máy 0977.170.868 của Trần Thị Hồng M, nhờ M mua 10 viên ma túy, M đồng ý. Đến khoảng 17 giờ ngày 09/10/2023, M điều khiển xe máy một mình đến khu vực công ty T4 thuộc thôn Đ, xã Đ, bán cho T 01 túi nilon đựng 10 viên ma túy tổng hợp với số tiền 600.000 đồng. Sau khi mua ma túy xong T điều khiển xe về nhà. Đến khoảng 02 giờ ngày 10/10/2023, T điều khiển xe mô tô 36B3-960.34 đến nhà nghỉ H1 thì bị lực lượng Công an kiểm tra bắt quả tang.

Quá trình đấu tranh với Trần Thị Hồng M và tiến hành đối chất với Lê Văn T, M chỉ thừa nhận giữa MT có việc vay mượn tiền. Ngày 09/10/2023, T chuyển trả nợ cho M 2.000.000 đồng, không thừa nhận đã bán ma túy cho T, đồng thời không có tài liệu chứng cứ để xác định M bán ma túy cho T, nên không có căn cứ xử lý đối với Trần Thị Hồng M về hành vi bán ma túy cho Lê Văn T.

[6] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định là 09 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,913g (không phẩy chín một ba gam) là mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 ví da màu nâu cũ không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng đã qua sử dụng (phần trước và sau của điện thoại bị vỡ) gắn sim số 0984.048.129 của Lê Văn T là tang vật liên quan đến hàng vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER màu đen - đỏ, biển kiểm soát 36B3-960.34 là tài sản của gia đình Lê Văn T được trả lại cho ông Lê Xuân T1 và bà Lê Thị B quản lý.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm a, c khoản 1, 2 Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.

* Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 27 (hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/10/2023.

*Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với vật chứng là ma túy hoàn lại sau giám định: 09 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 0,913g (không phẩy chín một ba gam) là mẫu vật còn lại sau giám định là vật cấm lưu hành; 01 ví da màu nâu cũ không còn giá trị.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng đã qua sử dụng (phần trước và sau của điện thoại bị vỡ) gắn sim số 0984.048.129 của Lê Văn T.

- Trả lại cho ông Lê Xuân T1 và bà Lê Thị B quản lý 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha EXCITER màu đen - đỏ, biển kiểm soát 36B3-960.34.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hậu Lộc.

*Về án phí: Bị cáo Lê Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bà Lê Thị B được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Ông Lê Xuân T1 được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Hậu Lộc;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Bị cáo; Người có QLVNVLQ;
  • - Tòa án ND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS huyện Hậu Lộc;
  • - Công an huyện Hậu Lộc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa.
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Sang

HỘI ĐỒNG XÉT SỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Văn Sang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 20/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 03/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẬU LỘC – TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger