|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày: 19/02/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Khắc Thịnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thái Bá Việt
- Ông Võ Hoàng Nguyên
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2022/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Tống Văn T, sinh năm 1983; tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: ấp E, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Con ông: Tống Văn M, sinh năm 1956 (chết) và bà: Trương Thị N, sinh năm 1957; Gia đình có 07 anh chị em, bị cáo là con thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1984; Có 02 con, sinh năm 2003 và sinh năm 2004; Tiền sự, tiền án: Không; Tạm giữ ngày 06/4/2023; Tạm giam ngày 14/4/2023; Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ (có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Tống Phước L, sinh năm 2004 (đã chết);
Người đại diện hợp pháp cho bị hại L: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1984 (mẹ ruột bị hại, có mặt);
Nơi cư trú: ấp E, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người làm chứng:
- Nguyễn Thị Đ1, sinh năm: 1958 (có mặt);
- Phạm Thị Tú H, sinh năm 1994 (vắng mặt);
- Nguyễn Trung N1, sinh năm 2004 (vắng mặt);
- Tống Văn L1, sinh năm 2003 (có mặt);
- Nguyễn Văn N2, sinh năm 1957 (vắng mặt);
Cùng cư trú: ấp E, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 06/4/2023, Tống Văn T đi ăn tiệc về nhà, thấy xe mô tô mới mua của mình bị Tống Phước L, sinh năm 2004 (con ruột T) thay đổi bộ phận của xe nên la rầy L rồi L cự cãi lại nên T tức giận nói dọa đập đầu, chém chết L và L có hành vi, lời nói thách thức lại. T nghe vậy nên đến kệ sàn nước lấy con dao làm cá (phần cán bằng gỗ dài 3,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 24,5cm, trên lưỡi dao có in dòng chữ H1 555, mũi nhọn, đường kính lưỡi dao 2,5cm). Thấy T cầm dao nên L bỏ chạy được khoảng 40 mét thì dừng lại nhặt lấy khúc cây cầm trên tay, T chạy đến thì L dùng cây đánh T. Lúc này, T dùng dao chém L một cái trúng vào vùng cổ, sau đó T bỏ đi được một đoạn nhìn lại thấy L ngã xuống lộ nên quay lại đỡ L lên, cùng với vợ là Nguyễn Thị Đ và mẹ vợ Nguyễn Thị Đ1 đưa L vào nhà băng vết thương rồi đưa L đến Bệnh viện Đ2 cấp cứu, rồi chuyển tiếp đến Bệnh Viện Đ3, đến 14 giờ ngày 06/4/2023 thì L tử vong.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số: 426/KL-GĐTT-KTHS ngày 18/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Tống Phước L bị vật sắc tác động vùng cổ gây đứt tĩnh mạch cảnh trái dẫn đến sốc mất máu cấp là nguyên nhân tử vong.
Tại Kết luận giám định số: 408/KL-KTHS ngày 14/4/2023 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu máu chứa trong ống kim tiêm, ghi thu của ông Tống Phước L và mẫu máu được thu giữ và niêm phong từ lúc 19 giờ 30 phút đến 20 giờ 30 phút ngày 06/4/2023 tại ấp E, xã M, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, tại thời điểm giám định ngày 09/4/2023 không phát hiện thành phần cồn (Ethanol).
Vật chứng, đồ vật tạm giữ chờ xử lý gồm: 01 (một) con dao bằng kim loại, cán gỗ, trên dao có ghi chữ H1 555, có tổng chiều dài 38cm, cán gỗ dài 3,5cm, lưỡi kim loại dài 24,5cm, mũi nhọn rộng 7,5cm, đường kính lưỡi dao 2,5cm; 01 (một) con dao bằng kim loại, có phần cán bằng gỗ, tổng chiều dài 38,5cm, cán dài 13,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 25cm, mũi nhọn, đường kính lưỡi 2,5cm; 01 áo khoác màu đen có dòng chữ ADIDAS, trên áo có dính nhiều chất màu nâu đỏ, khóa kéo bên trái bị đứt chỉ; 01 áo sơ mi sọc màu xanh, trắng, đen có dòng chữ DH-35 ở mặt sau cổ áo, trên áo có dính nhiều chất màu nâu đỏ tại vị trí cách cổ áo 04cm, có vết đứt rách vải kích thước 13cm cách cúc áo cổ 15cm, cúc áo 2,3,4,5 từ trên xuống bị mất; 01 (một) áo thun của nữ có hoa văn màu đỏ, xanh, đen, không có tay áo, trên áo có dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) băng gạt bằng thun dài 1,93cm, rộng 11cm, có dính nhiều chất màu nâu đỏ; 01 (một) quần tây vải màu đen.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Đ là mẹ ruột của bị hại Tống Phước L và cũng là vợ của bị cáo Tống Văn T không yêu cầu T bồi thường về dân sự, đồng thời có đơn yêu cầu xin giảm nhẹ hình phạt cho Tống Văn T.
Tại cáo trạng số 43/CT-VKSĐT-P2 ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Tống Văn T về tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp giữ nguyên quyết định truy tố, phân tích hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Tống Văn T phạm tội “Giết người”.
Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Tống Văn T mức hình phạt từ 08 đến 10 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Do phía bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng, đề nghị Tòa tuyên như phần nội dung quyết định bản cáo trạng đã nêu.
Bị cáo Tống Văn T không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Giai đoạn điều tra cũng như tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng trong vụ án không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của các cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của các cơ quan, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo Tống Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Do có rượu trong người và thấy Tống Phước L là con ruột thay đổi bộ phận xe mô tô mới mua nên bị cáo la rầy L mà L còn cự cãi lại và có hành vi, lời nói thách thức rồi sau đó cầm cây đánh bị cáo nên bị cáo đã sử dụng loại dao làm cá chém một cái trúng vào vùng cổ của L gây đứt tĩnh mạch cảnh trái dẫn tử vong. Sau khi gây án, bị cáo T đã tích cực cứu chữa cho người bị hại nhưng bị hại vẫn không qua khỏi.
Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng, vật chứng cùng với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Tống Văn T đã phạm vào tội “Giết người” theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại Điều 123 Bộ luật hình sự quy định:
“1.Người nào giết người thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình:
a)...
2. Phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm”.
[3] Bị cáo Tống Văn T là người đã trưởng thành, có khả năng điều khiển hành vi, giao tiếp xã hội, nhận thức được pháp luật, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Đáng lý ra, trước sự việc như vậy, bị cáo phải bình tĩnh, kiềm chế bản thân để tìm cách giải quyết mâu thuẫn một cách đúng đắn thì sẽ không xảy ra sự việc đáng tiếc. Bị cáo không làm được điều này mà lại chọn cách giải quyết mâu thuẫn bằng bạo lực nên đã thực hiện hành vi dùng con dao loại dao làm cá có phần cán bằng gỗ dài 3,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 24,5cm, mũi nhọn, đường kính lưỡi dao 2,5cm là hung khí nguy hiểm chém một cái trúng vào vùng cổ của bị hại L gây đứt tĩnh mạch cảnh trái dẫn tử vong. Bị cáo thừa biết tính mạng, sức khỏe con người luôn được pháp luật bảo vệ. Nếu người nào có hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe con người đều bị pháp luật xử lý nghiêm minh. Vậy mà bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội, đã tước đoạt mạng sống của bị hại L một cách trái pháp luật. Chứng tỏ hành vi của bị cáo là cố ý và thực hiện tội phạm đã hoàn thành.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến tính mạng của bị hại L một cách trái pháp luật, cố ý tước đoạt mạng sống của bị hại, gây ra hậu quả rất lớn làm cho gia đình mất đi người thân không sao tìm lại được. Hành vi phạm tội của bị cáo còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến kỷ cương pháp luật Nhà nước. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử là việc làm cần thiết. Đối với bị cáo cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để có điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo, nhằm phục vụ tình hình chính trị ở địa phương, giữ gìn kỷ cương pháp luật Nhà nước, đồng thời cũng để răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi phạm tội bị cáo đã tích cực tham gia cứu chữa cho người bị hại. Giữa bị cáo và bị hại có mối quan hệ cha con ruột của nhau. Người đại diện hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Do đó, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần về hình phạt.
[6] Xét lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Chị Nguyễn Thị Đ là mẹ ruột của bị hại Tống Phước L đại diện hợp pháp cho bị hại L và cũng là vợ của bị cáo Tống Văn T không yêu cầu bị cáo T bồi thường về dân sự nên không đặt vấn đề xem xét.
[8] Về vật chứng: Đối với 01 (một) con dao bằng kim loại, cán gỗ, trên dao có ghi chữ H1 555, có tổng chiều dài 38cm, cán gỗ dài 3,5cm, lưỡi kim loại dài 24,5cm, mũi nhọn rộng 7,5cm, đường kính lưỡi dao 2,5cm; 01 (một) con dao bằng kim loại, có phần cán bằng gỗ, tổng chiều dài 38,5cm, cán dài 13,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 25cm, mũi nhọn, đường kính lưỡi 2,5cm; 01 áo khoác màu đen có dòng chữ ADIDAS, trên áo có dính nhiều chất màu nâu đỏ, khóa kéo bên trái bị đứt chỉ; 01 áo sơ mi sọc màu xanh, trắng, đen có dòng chữ DH-35 ở mặt sau cổ áo, trên áo có dính nhiều chất màu nâu đỏ tại vị trí cách cổ áo 04cm, có vết đứt rách vải kích thước 13cm cách cúc áo cổ 15cm, cúc áo 2,3,4,5 từ trên xuống bị mất; 01 (một) áo thun của nữ có hoa văn màu đỏ, xanh, đen, không có tay áo, trên áo có dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) băng gạt bằng thun dài 1,93cm, rộng 11cm, có dính nhiều chất màu nâu đỏ; 01 (một) quần tây vải màu đen là công cụ gây án và những đồ vật không còn giá trị sử dụng. Xét thấy cần phải tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo Tống Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Tống Văn T phạm tội “Giết người”;
Áp dụng khoản 2 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Tống Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 06/4/2023.
Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao bằng kim loại, cán gỗ, trên dao có ghi chữ H1 555, có tổng chiều dài 38cm, cán gỗ dài 3,5cm, lưỡi kim loại dài 24,5cm, mũi nhọn rộng 7,5cm, đường kính lưỡi dao 2,5cm; 01 (một) con dao bằng kim loại, có phần cán bằng gỗ, tổng chiều dài 38,5cm, cán dài 13,5cm, lưỡi bằng kim loại dài 25cm, mũi nhọn, đường kính lưỡi 2,5cm; 01 áo khoác màu đen có dòng chữ ADIDAS, trên áo có dính nhiều chất màu nâu đỏ, khóa kéo bên trái bị đứt chỉ; 01 áo sơ mi sọc màu xanh, trắng, đen có dòng chữ DH-35 ở mặt sau cổ áo, trên áo có dính nhiều chất màu nâu đỏ tại vị trí cách cổ áo 04cm, có vết đứt rách vải kích thước 13cm cách cúc áo cổ 15cm, cúc áo 2,3,4,5 từ trên xuống bị mất; 01 (một) áo thun của nữ có hoa văn màu đỏ, xanh, đen, không có tay áo, trên áo có dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) băng gạt bằng thun dài 1,93cm, rộng 11cm, có dính nhiều chất màu nâu đỏ; 01 (một) quần tây vải màu đen.
(Các vật chứng nêu trên hiện Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Tống Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho người bị hại có quyền kháng cáo lên Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân Cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án được thực hiện theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
- Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Khắc Thịnh |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 19/02/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự (giết người)
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Giết người)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/02/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Giết người
