Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 112/2023/DS-ST
Ngày: 01 – 11 - 2023
V/v tranh chấp quyền sử dụng
đất (ranh đất).

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tố Uyên

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Lê Văn Công
  2. Bà Trần Kim Thoa

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Trung Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 294/2022/TLST-DS ngày 06 tháng 12 năm 2022 về tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất) theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2023/QĐXXST-DS ngày 02 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã N, huyện L, Quảng Bình; địa chỉ liên hệ: A, đường L, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1997; địa chỉ thường trú: Xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; địa chỉ liên lạc: A đường B tháng A, khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương (giấy uỷ quyền ngày 16/11/2022), có mặt.

  2. Bị đơn: Ông Huỳnh Văn X, sinh năm 1945; địa chỉ: Số H, đường Đ, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

    Người đại diện hợp pháp theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1974; địa chỉ thường trú: 3 khu phố B, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên lạc: Số C đường số A, khu phố Đ, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương (giấy uỷ quyền ngày 27/4/2022), có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Bà Nguyễn Thị Bạch V, sinh năm 1949
    2. Ông Huỳnh Ngọc P, sinh năm 1974.
    3. Ông Huỳnh Ngọc H1, sinh năm 1977
    4. Bà Huỳnh Ngọc N1, sinh năm 1981
    5. Bà Huỳnh Ngọc T1, sinh năm 1984.
    6. Cùng địa chỉ: 23/5 (nay là số H), đường Đ, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

    7. Ngân hàng Thương mại Cổ phần K; trụ sở: Số D P, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.

      Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Văn L, sinh năm 1986; địa chỉ thường trú: D, khu phố B, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

    8. Bà Lê Thị T2, sinh năm 1994; địa chỉ thường trú: Thôn L, xã N, huyện L, tỉnh Quảng Bình; địa chỉ liên lạc: Số A, tỉnh Lộ 8, ấp A, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí minh. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng nguyên đơn trình bày:

Ông Nguyễn Văn T là người được cấp quyền sử dụng đối với phần đất có diện tích 289,8 m² thuộc thửa đất số 321 (gốc 320), tờ bản đồ số 70, tọa lạc tại: Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 907905, số vào số cấp GCN: CS09329 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 03/11/2015. Sau khi được cấp giấy, do có nhu cầu xây dựng hàng rào để phân định ranh giới giữa thửa đất số 321 (gốc 320) với thửa đất số 5, tờ bản đồ A4, được cấp cho ông Huỳnh Văn X theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 426 QSDĐ/AP ngày 27/5/1999. Tuy nhiên trong lúc tiến hành đo đạc để chuẩn bị xây dựng thì ông Huỳnh Văn X ngăn cản không cho xây với lý do phần diện tích ông T dự định xây hàng rào thuộc một phần quyền sử dụng đất thuộc thửa số 5 của ông Huỳnh Văn X. Theo kết quả đo đạc thực tế thì phần đất có tranh chấp có diện tích 7,4m² (chiều ngang 0.83m, chiều dài canh Phía Bắc 17.77m, chiều dài cạnh Phía Nam 17.86m, trong đó: ODT 1,9m²; HNK 5,5m²). Do hai bên không thoả thuận được nên ông T khởi kiện đến Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương yêu cầu giải quyết:

  • Yêu cầu Tòa án công nhận phần đất phía Nam của thửa đất số 321, diện tích theo đo đạc thực tế là 7.4m² (chiều ngang 0.83m, chiều dài canh Phía Bắc 17.77m, chiều dài cạnh Phía Nam 17.86m) (phần tiếp giáp giữa thửa đất số 321, tờ bản đồ số 70 với thửa đất số 5, số tờ bản đồ A4 cùng tọa lạc tại khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương) là quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Văn T, thuộc thửa đất số 321 (gốc 320), tờ bản đồ số 70.
  • Buộc ông Huỳnh Văn X chấm dứt hành vi ngăn cản việc ông Nguyễn Văn T xây dựng hàng rào trên phần diện tích đất 7.4m² đang tranh chấp.

Ngoài ra, nguyên đơn không yêu cầu gì khác.

Nguyên đơn thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định, định giá ngày 07/6/2023 và M trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 132-2023. Nguyên đơn không có yêu cầu đối với phần diện tích còn thiếu và chỉ yêu cầu bị đơn trả lại diện tích 7,4m² theo như sơ đồ bản vẽ thể hiện.

Quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn trình bày:

Ông Huỳnh Văn X là người được cấp quyền sử dụng đối với thửa đất số 5, tờ bản đồ gốc A4, diện tích 8.901m², tọa lạc tại phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận: 426 QSDĐ/AP ngày 27/5/1999 do Ủy ban nhân dân huyện (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương cấp cho hộ ông Huỳnh Văn X.

Một phần phía Bắc thửa đất của ông X giáp ranh với thửa đất số 20 trước đây (sau này tách ra thành nhiều thửa, trong đó có thửa đất số 321 của ông Nguyễn Văn T), ranh đất giữa thửa số 5 và thửa đất số 20 trước đây được xác định là con mương do ông X đào (phần mép con mương giáp với thửa đất số 20). Con mương này được ông X đào từ năm 2000 và sử dụng cho đến hiện tại. Ranh con mương đã được ông X ký liên ranh và xác định rõ với chủ sử dụng đất cũ trước đây của thửa số 5. Khi ông T nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông X không có ký liên ranh. Hiện nay con mương này vẫn còn và được xác định là ranh đất giữa ông X với thửa đất số 20 (sau này tách ra thành nhiều thửa, trong đó có thửa đất số 321 của ông Nguyễn Văn T). Khi xây dựng hàng rào thì ông T cắm cọc mốc trên con mương lấn qua đất của ông X khoảng 1m nên ông X không đồng ý cho ông T xây dựng và xảy ra tranh chấp. Ông X chỉ đồng ý giao cho ông T phần quyền sử dụng đất có chiều ngang 0,41m và chiều dài theo như Mảnh trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 132-2023 của cơ quan chuyên môn.

Bị đơn thống nhất với biên bản đo đạc, biên bản xem xét, thẩm định, định giá ngày 07/6/2023 và M trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 132-2023.

Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Thương mại Cổ phần K trình bày:

Ngày 14/4/2021, Ngân hàng Thương mại Cổ phần K (sau đây viết tắt là Ngân hàng K) chi nhánh B có ký Hợp đồng tín dụng số 07/2021/HĐTD/0101-3773 với ông Nguyễn Văn T và bà Lê Thị T2 với nội dung: Ngân hàng K cho ông T và bà T2 vay số tiền 1.000.000.000 đồng, thời hạn vay 240 tháng, lãi suất được quy định cụ thể trong hợp đồng mà Ngân hàng K đã cung cấp cho Toà án. Cùng ngày, ông Nguyễn Văn T có ký với Ngân hàng K Hợp đồng thế chấp số 071/21/HĐTC-BĐS/0101-3773, nội dung: Ông T sử dụng quyền sử dụng đất thuộc thửa thửa đất số 321 (gốc 320), tờ bản đồ số 70 để đảm bảo cho toàn bộ khoản vay nêu trên. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm đúng theo quy định.

Nay Ngân hàng K có ý kiến đối với vụ án như sau: Đến thời điểm hiện tại, ông T và bà T2 vẫn đang thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ theo thoả thuận tại Hợp đồng tín dụng. Mặt khác, việc ông T khởi kiện ông X về việc xác định ranh giới giữa hai bên, không ảnh hưởng đến quyền sử dụng đối với thửa đất đang thế chấp. Do đó, Ngân hàng K yêu cầu Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, Ngân hàng K không có yêu cầu độc lập trong vụ án và yêu cầu giải quyết vắng mặt Ngân hàng K trong suốt quá trình tố tụng tại Toà án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bạch V, ông Huỳnh Ngọc P, ông Huỳnh Ngọc H1, bà Huỳnh Ngọc N1 và bà Huỳnh Ngọc T1 thống nhất trình bày: Thống nhất với ý kiến trình bày của phía bị đơn, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu độc lập và đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Toà án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị T2: Bà T2 là vợ của ông T. Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 321 (gốc 320), tờ bản đồ số 70 là tài sản riêng của ông T. Bà T2 thống nhất với toàn bộ yêu cầu, ý kiến trình bày của ông T, bà T2 không có yêu cầu độc lập trong vụ án và đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng tại Toà án.

Tại phiên toà:

Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn phải chấp dứt hành vi ngăn cản nguyên đơn thực hiện việc xây dựng hàng rào trên phần đất có tranh chấp. Đồng thời thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện như sau: Buộc ông Huỳnh Văn X phải trả lại cho nguyên đơn phần đất phía Nam của thửa đất số 321 tiếp giáp với thửa đất số 5 diện tích theo đo đạc thực tế là 7.4m² (chiều ngang 0.83m, chiều dài canh Phía Bắc 17.77m, chiều dài cạnh Phía Nam 17.86m).

Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An phát biểu:

Về tố tụng, quá trình từ khi thụ lý vụ án cho đến khi kết thúc tranh luận Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; các đương sự đã tuân theo pháp luật; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự là đúng quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Tại phiên toà, bị đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn chấm dứt hành vi ngăn cản nguyên đơn xây dựng hàng rào trên phần đất có tranh chấp. Đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Theo biên bản đo đạc ngày 07/6/2023, M trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 132-2023; Công văn số 2695 ngày15/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương; Công văn số 1987 ngày 27/7/2023 của Ủy ban nhân dân phường A cho thấy phần đất tranh chấp với diện tích 7,4m² thuộc thửa đất số 321 (gốc 320), tờ bản đồ số 70, do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn trả lại phần diện tích đất đang tranh chấp là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng:
    1. Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn ông Huỳnh Văn X trả lại diện tích đất 7,4m². Do đó Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất” quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
    2. Về thẩm quyền giải quyết: Phần đất tranh chấp tọa lạc tại phường A, thành phố T nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
    3. Về việc tham gia phiên tòa của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Bạch V, ông Huỳnh Ngọc P, ông Huỳnh Ngọc H1, bà Huỳnh Ngọc N1 và bà Huỳnh Ngọc T1, bà Lê Thị T2Ngân hàng K có đơn xin giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nêu trên theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
  2. Nội dung tranh chấp:
    1. Đối với tranh chấp về quyền sử dụng đất: Ông Nguyễn Văn T khởi kiện yêu cầu Toà án công nhận phần quyền sử dụng đất có tranh chấp diện tích 7.4m² là thuộc quyền sử dụng của ông T. Tại phiên toà, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Buộc ông Huỳnh Văn X phải trả lại cho nguyên đơn phần đất phía Nam của thửa đất số 321 tiếp giáp với thửa đất số 5, diện tích theo đo đạc thực tế là 7.4m². Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tại phiên toà không vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên được chấp nhận.

      Hội đồng xét xử xét thấy:

      1. Ông Nguyễn Văn T được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BY 907905, số vào số cấp GCN: CS09329 ngày 03/11/2015 đối với thửa đất số 321 (gốc 320), tờ bản đồ số 70 có diện tích 289,8 m² tọa lạc tại: Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thể hiện: Cạnh phía Đông Bắc giáp đường có chiều dài 15m; cạnh phía Đông Nam giáp thửa 05 có chiều dài 19.17m.
      2. Đối chiếu giữa diện tích và độ dài các cạnh của thửa đất số 231 theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với số liệu đo đạc thực tế tại Mảnh trích lục địa chính có đo đạc, chỉnh lý số 132-2023 ngày 18/8/2023; Công văn số 2695/CNTA-ĐĐBĐ ngày 15/9/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T có cơ sở xác định diện tích đất tranh chấp 7,4m² hoàn toàn thuộc thửa đất số 321 (gốc 320), tờ bản đồ số 70 trong đó có: 1.9m² ODT và 5.5 m² HNK (trong đó có 5m² thuộc HLATĐB).
      3. Tại phiên toà, bị đơn xác định con mương tồn tại trên phần đất tranh chấp là do bị đơn tự xây dựng vào năm 2000 (tức sau thời điểm bị đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Vị trí con mương được xác định: Mép con mương được đào tính từ ranh của thửa 20 quay trở về đất của bị đơn là thửa số 5, khi đào mương thì có chủ sử dụng của thửa đất số 20 trước đây chứng kiến. Tuy nhiên, khi bị đơn đào mương thì xung quanh đều là đất ruộng, không có công trình, nhà cửa xây dựng, bị đơn cũng không yêu cầu cơ quan chuyên môn đến đo đạc thực tế để xác định lại ranh mà bị đơn chỉ tự xác định ranh đất. Trong khi đó, việc chứng kiến của chủ sử dụng thửa đất số 20 trước đây với ông X không có lập văn bản có chứng kiến, xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nên không có căn cứ để khẳng định vị trí ông X đào con mương vào năm 2000 chính là ranh được cấp theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, ý kiến của bị đơn là không có căn cứ.
      4. Nguyên đơn thống nhất với biên bản đo đạc, biên bản xem xét, thẩm định tại chổ, biên bản định giá ngày 07/6/2023 và M trích lục địa chính có đo đạc chỉnh lý số 132-2023. Nguyên đơn không có ý kiến và không yêu cầu đối với phần diện tích đất giảm xuống sau khi đo đạc thực tế, chỉ yêu cầu bị đơn trả lại phần diện tích 7.4m² có độ dài các cạnh như sơ đồ bản vẽ thể hiện. Xét đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử không xem xét đối với phần diện tích đất còn thiếu so với yêu cầu.
      5. Thửa đất số 5 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Huỳnh Văn X vào ngày 27/5/1999. Tại Công văn số 1884/CATP-QLHC ngày 12/6/2023 của Công an thành phố T, tỉnh Bình Dương xác định: Vào thời điểm 27/5/1999, hộ ông Huỳnh Văn X có những thành viên sau: Ông Huỳnh Văn X, bà Nguyễn Thị Bạch V, ông Huỳnh Ngọc P, ông Huỳnh Ngọc H1, bà Huỳnh Ngọc N1 và bà Huỳnh Ngọc T1. quá trình tố tụng, bị đơn và nguyên đơn đều thừa nhận con mương tồn tại trên phần đất có tranh chấp là do bị đơn tự đào và sử dụng cho đến nay. Vấn đề nay cũng phù hợp với nội dung xác minh ngày 28/7/2023 tại Ủy ban nhân dân phường A. Do bị đơn đào mương không thực hiện đúng mốc giới, ranh giới đất được cấp, đã lấn sang đất của nguyên đơn với diện tích 7.4m², nên bị đơn và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phải có trách nhiệm trả lại cho nguyên đơn phần đất tranh chấp có diện tích 7.4m² đã nêu trên.
    2. Tại phiên toà, nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc buộc bị đơn chấm dứt hành vi ngăn cản nguyên đơn xây hàng rào trên phần đất tranh chấp. Xét đây là ý chí tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với yêu cầu trên.
    3. Từ những phân tích trên, có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với bị đơn ông Huỳnh Văn X.
    4. Ý kiến phát biểu và đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận.
  3. Về chi phí đo đạc, định giá tài sản: Nguyên đơn tự nguyện chịu.
  4. Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên giá trị phần quyền sử dụng đất phải trả cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, bị đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.

    Hoàn trả lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ vào:
  • Khoản 9 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm c Khoản 1 Điều 39; Điều 228; Điều 147; Điều 157; khoản, khoản 2 Điều 244; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Các Điều 166, 170 của Luật Đất đai năm 2013;
  • Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T đối với bị đơn ông Huỳnh Văn X về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

    Buộc ông Huỳnh Văn X, bà Nguyễn Thị Bạch V, ông Huỳnh Ngọc P, ông Huỳnh Ngọc H1, bà Huỳnh Ngọc N1 và bà Huỳnh Ngọc T1 phải giao trả cho ông Nguyễn Văn T diện tích 7.4m², bao gồm: 1.9m² ODT và 5.5 m² HNK (trong đó có 5m² thuộc HLATĐB); đất có các cạnh như sau: Chiều ngang cạnh hướng Đông Bắc 0.83m, chiều dài cạnh hướng Đông Nam (giáp thửa số 5 của hộ ông Huỳnh Văn X) 17.86m, chiều dài cạnh hướng T (giáp thửa số 321 của ông Nguyễn Văn T) 17.77m, được ký hiệu “Phần C” trên sơ đồ bản vẽ. (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).

  2. Đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Văn T về việc buộc bị đơn ông Huỳnh Văn X chấm dứt hành vi ngăn cản nguyên đơn xây dựng hàng rào trên phần diện tích đất 7.4m² đang tranh chấp.
  3. Về án phí:

    Bị đơn ông Huỳnh Văn X là người cao tuổi nên được miễn án phí;

    Trả lại cho ông Nguyễn Văn T số tiền 12.300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số AA/2021/0003682 ngày 29/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

  4. Về chi phí đo đạc, định giá tài sản: Nguyên đơn tự nguyện chịu số tiền 7.154.936 đồng, nguyên đơn đã nộp đủ.
  5. Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tố Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 112/2023/DS-ST ngày 01/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)

  • Số bản án: 112/2023/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất (ranh đất)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/11/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ranh đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger