Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 03/2024/KDTM-ST

Ngày: 17/7/2024

V/v tranh chấp hợp

đồng tín dụng, hợp đồng

thế chấp tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Châu Thanh Quyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Trưởng

Bà Lê Thị Diễm Thi

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Nghiên – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 12 tháng 7 năm 2024 và ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLST-KDTM ngày 11 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-KDTM ngày 13 tháng 3 năm 2024, các Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2024/QĐST- KDTM ngày 12 tháng 4 năm 2024; số 88/2024/QĐST- KDTM ngày 13 tháng 5 năm 2024; số 101/2024/QĐST- KDTM ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 (Tên viết tắt: B1); Địa chỉ: T, số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chức danh: Chủ tịch hội đồng quản trị. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc S – Chức danh: Phó Trưởng phòng phụ trách phòng khách hàng Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 – Chi nhánh H1 (Văn bản ủy quyền ngày 20/7/2022); Địa chỉ: số A N, phường I, thành phố V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

  2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn T6; Địa chỉ: số B, khu vực Long An (nay là khu vực 1), phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Văn D – Chức vụ: Giám đốc; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    1. Ông Ngô Văn T1 – Chủ Doanh nghiệp tư nhân N2; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
    2. Ông Ngô Văn T1, sinh năm: 1971; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
    3. Bà Hồ Thị Hương S1, sinh năm: 1974; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Chỗ ở hiện nay: Số C, đường V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
    4. Chị Ngô Bảo N, sinh năm: 1996; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
    5. Ông Ngô Văn P, sinh năm: 1956; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
    6. Bà Ngô Thị Đ, sinh năm: 1956; Địa chỉ: khu V, phường T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).
    7. Ông Ngô Văn T2, sinh năm: 1965; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (đã chết vào tháng 3/2024). Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn T2: Bà Nguyễn Thị Thanh N1, anh Ngô Phú Q, chị Ngô Thị Khánh V, anh Ngô Quý T3, chị Ngô Thị Khánh P1, chị Ngô Thị Phương T4; Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).
    8. Bà Nguyễn Thị Thanh N1 (vợ ông T2), sinh năm: 1967; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    9. Anh Ngô Quý T3 (con ông T2), sinh năm: 1991; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    10. Chị Ngô Thị Khánh V (con ông T2), sinh năm: 1985; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    11. Chị Ngô Thị Khánh P1 (con ông T2), sinh năm: 1987; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    12. Chị Ngô Thị Phương T4 (con ông T2), sinh năm: 1993; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    13. Ông Ngô Văn D, sinh năm: 1967; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    14. Bà Lê Thị Ngọc E, sinh năm: 1970; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    15. Chị Ngô Thị Trà M, sinh năm: 1998; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    16. Công ty TNHH MTV T7; Địa chỉ: số C, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Hoàng V1 – Chức danh: Giám đốc (vắng mặt).
    17. Ông Trương Hoàng V1, sinh năm: 1979; Địa chỉ: số C, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    18. Ông Đỗ Văn H, sinh năm: 1973; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    19. Bà Võ Thanh Đ1 (vợ ông H), sinh năm: 1974; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    20. Chị Đỗ Thị Kiều T5 (con ông H), sinh năm: 1994; Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang. (vắng mặt).
    21. Ông Nguyễn Thanh B, sinh năm: 1977; Địa chỉ: số H, đường A, khu dân cư A, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ. (có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 (gọi tắt là Ngân hàng B1), người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng ông Nguyễn Ngọc S trình bày: Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 (gọi tắt là Công ty T6) trả nợ theo các giao dịch tín dụng đã ký kết. Giữa Ngân hàng B1Công ty T6 có ký kết Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số: HM.0234.13/HĐTD ngày 25/12/2013 và 01/PL HĐTD ngày 05/11/2014, được lập ngày 15/7/2015; Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số: N.A.0224.14/HĐTD ngày 16/12/2014 và hợp đồng tín dụng hạn mức số: 01/2015/4787252/HĐTD ngày 20/8/2015 và các giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng cụ thể như sau:

  • Giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 25/08/2015. Số tiền gốc phải trả: 0 đồng. Số tiền lãi (tính đến ngày 11/07/2024): 84.274.301 đồng.
  • Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ và bảng kê rút vốn số N.C.0234.13.05/HĐTD ngày 25/04/2015. Số tiền gốc phải trả: 0 đồng. Số tiền lãi (tính đến ngày 11/7/2024): 250.349.000 đồng.
  • Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ và bảng kê rút vốn số: N.C.0234.13.03/HĐTD ngày 07/11/2014: Số tiền gốc phải trả: 1.341.639.333 đồng. Số tiền lãi (tính đến ngày 11/7/2024): 1.322.329.207 đồng.
  • Giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 20/08/2015. Số tiền gốc phải trả: 0 đồng. Số tiền lãi (tính đến ngày 11/7/2024): 86.961.334 đồng.
  • Giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 03/02/2016. Số tiền gốc phải trả: 0 đồng. Số tiền lãi (tính đến ngày 11/7/2024): 93.069.755 đồng.
  • Hợp đồng tín dụng kiêm giấy nhận nợ và bảng kê rút vốn số N.C.0234.13.04/HĐTD ngày 25/12/2014. Số tiền gốc phải trả: 0 đồng. Số tiền lãi (tính đến ngày 11/7/2024): 262.231.278 đồng.
  • Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số: N.A.0224.14/HĐTD ngày 16/12/2014. Số tiền gốc phải trả: 480.000.000 đồng. Số tiền lãi (tính đến ngày 11/7/2024): 391.481.495 đồng.
  • Giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 27/08/2015. Số tiền gốc phải trả: 0 đồng. Số tiền lãi (tính đến ngày 11/7/2024): 41.190.099 đồng.

Tổng cộng Công ty T6 còn nợ Ngân hàng B1 gốc và lãi tạm tính đến ngày 11/7/2024 là 4.353.525.802 đồng, trong đó nợ gốc là 1.821.639.333 đồng, lãi trong hạn 2.109.820.859 đồng, lãi quá hạn: 422.065.610 đồng.

Để bảo đảm khoản vay nêu trên, Công ty T6 cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã ký kết 04 hợp đồng thế chấp với Ngân hàng B1, cụ thể như sau:

  • Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số: 26/2015/4787252/HĐBĐ ngày 17/8/2015 tài sản là 10 quyền sử dụng (gọi tắt QSD) đất như sau:
    • + Giấy chứng nhận QSD đất số: BD 226878 (Số vào sổ CH 00124) do Ủy ban nhân dân (UBND) huyện P cấp ngày 09/12/2010 cho ông Ngô Văn T1. Thửa đất số: 587- Tờ bản đồ số: 06. Diện tích đất: 3.685 m².
    • + Giấy chứng nhận QSD đất số: BD 226879 (Số vào sổ CH 00133) do UBND huyện P cấp ngày 09/12/2010 cho hộ ông Ngô Văn T1. Thửa đất số: 885. Tờ bản đồ số: 06. Diện tích đất: 300 m².
    • + Giấy chứng nhận QSD đất số: BD 226880 (Số vào sổ CH 00132) do UBND huyện P cấp ngày 09/12/2010 cho hộ ông Ngô Văn T1. Thửa đất số: 1131. Tờ bản đồ số: 6. Diện tích đất: 48m².
    • + Giấy chứng nhận QSD đất số: BD 226881 (Số vào sổ CH 00131) do UBND huyện P cấp ngày 09/12/2010 cho hộ ông Ngô Văn T1. Thửa đất số: 875. Tờ bản đồ số: 6. Diện tích đất: 300 m².
    • + Giấy chứng nhận QSD đất số: BD 226882 (Số vào sổ CH 00130) do UBND huyện P cấp ngày 09/12/2010 cho hộ ông Ngô Văn T1. Thửa đất số: 1130. Tờ bản đồ số: 6. Diện tích đất: 224 m².
    • + Giấy chứng nhận QSD đất số: BD 226887 (Số vào sổ CH 00128) do UBND huyện P cấp ngày 09/12/2010 cho ông Ngô Văn T1. Thửa đất số: 899. Tờ bản đồ số: 6. Diện tích đất: 8.250m².
    • + Giấy chứng nhận QSD đất số: BD 226889 (Số vào sổ CH 00126) do UBND huyện P cấp ngày 09/12/2010 cho ông Ngô Văn T1. Thửa đất số: 657. Tờ bản đồ số: 6. Diện tích đất: 300m².
    • + Giấy chứng nhận QSD đất số: BD 226890 (Số vào sổ CH 00125) do UBND huyện P cấp ngày 09/12/2010 cho ông Ngô Văn T1. Thửa đất số: 399. Tờ bản đồ số: 6. Diện tích đất: 4.823m².
    • + Giấy chứng nhận QSD đất số: BD 226886 (Số vào sổ CH 00129) do UBND huyện P cấp ngày 09/12/2010 cho ông Ngô Văn T1. Thửa đất số: 645. Tờ bản đồ số: 6. Diện tích đất: 776m².
    • + Giấy chứng nhận QSD đất số: BD 226888 (Số vào sổ CH 00127) do UBND huyện P cấp ngày 09/12/2010 cho ông Ngô Văn T1. Thửa đất số: 1132. Tờ bản đồ số: 6. Diện tích đất: 92m².

    Các thửa đất nêu trên có địa chỉ ở ấp P, xã P, huyện P, tỉnh Hậu Giang.

  • Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số: 25/2015/4787252/HĐBĐ ngày 18/8/2015 tài sản là xe cần cẩu bánh xích theo Giấy chứng nhận đăng ký xe máy chuyên dùng số 0036/XMCD, biển số: 87XA 0036, nhãn hiệu Hitachi U106ASL; số động cơ: B40-7300; số khung: 3836 do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 20/5/2009 cho N2.
  • Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số: 0023/2015/4787252/HĐBĐ ngày 05/8/2015 tài sản là Sà Lan tự hành. Theo Giấy chứng nhận đăng ký phương tiện thủy nội địa số 1646/ĐK do Sở Giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 18/07/2013 cho ông Ngô Văn T1. Biển số HGi-1646; Năm đóng và nơi đóng: 2007-Vĩnh Long; Hiệu: Cummins.
  • Hợp đồng thế chấp số: N.A.0224.14/HĐTC ngày 16/12/2014 tài sản là Xe ô tô 5 chỗ. Theo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số: 000684 do Phòng C Công an tỉnh H cấp ngày 15/12/2014 cho Công ty TNHH T6, nhãn hiệu Toyota, số loại Corolla, biển kiểm soát: 95A-017.65; số khung: 9HEXE7501981; số máy: 2ZR X464097.

Nay Ngân hàng B1 yêu cầu Công ty T6 trả gốc và lãi tạm tính đến ngày 11/7/2024 là 4.353.525.802 đồng, trong đó nợ gốc là 1.821.639.333 đồng, lãi trong hạn 2.109.820.859 đồng, lãi quá hạn: 422.065.610 đồng và yêu cầu lãi phát sinh từ ngày 12/7/2024 đến khi trả tất nợ. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì yêu cầu phát mại tài sản đã thế chấp.

Quá trình giải quyết vụ án bị đơn Công ty T6 (có người đại diện theo pháp luật là ông Ngô Văn D) trình bày: Đề nghị thỏa thuận với Ngân hàng B1 chậm nhất đến ngày 22/02/2023 sẽ trả tất nợ cho Ngân hàng B1, trường hợp bị đơn không trả nợ thì đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

Quá trình giải quyết vụ án ông Ngô Văn T1 trình bày: Đề nghị thỏa thuận với Ngân hàng B1 về phương án trả nợ cho Ngân hàng B1, trường hợp bị đơn không trả nợ thì thống nhất phát mãi tài sản đã thế chấp.

Quá trình giải quyết vụ án bà Ngô Thị Đ trình bày: Đối với thửa đất 899, bà Đ sử dụng khoảng 02 công đất, bà Đ không có yêu cầu gì trong vụ án này, để cho ông T1 quyết định. Bà Đ yêu cầu vắng mặt trong suốt thời gian giải quyết vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án ông Nguyễn Thanh B trình bày: Trước đây, ông B và ông T1 có quan hệ quen biết, giữa các bên có thỏa thuận mua bán chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota, số loại Corolla, biển kiểm soát 95A-017.65. Hiện nay, chiếc xe do ông B đang quản lý, sử dụng. Khi mua bán thì chỉ thỏa thuận miệng, không làm hợp đồng bằng văn bản. Khi mua xe ông B đã biết ông T1 đang thế chấp xe tại Ngân hàng B1. Các bên thỏa thuận giá mua bán là 500.000.000 đồng, ông B đã trả cho ông T1 300.000.000 đồng, còn lại thỏa thuận ông B trực tiếp trả cho Ngân hàng để lấy giấy tờ xe nhưng khi trao đổi với Ngân hàng thì được biết số tiền vay của ông T1 nhiều hơn số tiền xe còn lại nên ông B cũng chưa thực hiện trả tiền xe còn lại. Ý kiến của ông B trong vụ án này thống nhất phát mãi tài sản là chiếc xe trong trường hợp phía ông T1 không có khả năng trả nợ. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định, sau này đến giai đoạn thi hành án sẽ tiếp tục thỏa thuận với các bên liên quan. Ông B đề nghị giải quyết vắng mặt trong suốt thời gian giải quyết vụ án.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại không trình bày ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ phát biểu quan điểm: Về tố tụng, quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bà Đ, ông B đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan còn lại chưa chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án. Về nội dung, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc Công ty T6 trả gốc và lãi tạm tính đến ngày 11/7/2024 là 4.353.525.802 đồng, trong đó nợ gốc là 1.821.639.333 đồng, lãi trong hạn 2.109.820.859 đồng, lãi quá hạn: 422.065.610 đồng và lãi phát sinh từ ngày 12/7/2024 đến khi trả tất nợ. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì phát mại tài sản đã thế chấp. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ bị đơn phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả nợ theo hợp đồng tín dụng, đồng thời đề nghị xử lý tài sản bảo đảm, do đó đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, Bộ luật Dân sự. Đồng thời, bị đơn có trụ sở trên địa bàn thị xã L. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

[2] Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 (có ông Ngô Văn D là người đại diện theo pháp luật). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn T1 – Chủ Doanh nghiệp tư nhân N2; ông Ngô Văn T1; bà Hồ Thị Hương S1, chị Ngô Bảo N; ông Ngô Văn P; ông Ngô Văn T2 (có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn T2: Bà Nguyễn Thị Thanh N1, anh Ngô Phú Q, chị Ngô Thị Khánh V, anh Ngô Quý T3, chị Ngô Thị Khánh P1, chị Ngô Thị Phương T4); Bà Nguyễn Thị Thanh N1; Anh Ngô Quý T3; Chị Ngô Thị Khánh V; Chị Ngô Thị Khánh P1; Chị Ngô Thị Phương T4; Ông Ngô Văn D; Bà Lê Thị Ngọc E; Chị Ngô Thị Trà M; Công ty TNHH MTV T7 (Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Hoàng V1); Ông Trương Hoàng V1; Ông Đỗ Văn H; Bà Võ Thanh Đ1; Chị Đỗ Thị Kiều T5 vắng mặt. Ông Nguyễn Thanh B; Bà Ngô Thị Đ có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự nêu trên.

[3] Xét giao dịch tín dụng:

[3.1] Xét Văn bản sửa đổi, bổ sung hợp đồng tín dụng số: HM.0234.13/HĐTD ngày 25/12/2013 và 01/PL HĐTD ngày 05/11/2014, được lập ngày 15/7/2015; Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số: N.A.0224.14/HĐTD ngày 16/12/2014 và hợp đồng tín dụng hạn mức số: 01/2015/4787252/HĐTD ngày 20/8/2015 và các giấy đề nghị giải ngân kiêm hợp đồng tín dụng cụ thể ngày 25/08/2015, ngày 25/04/2015, ngày 07/11/2014, ngày 20/08/2015, ngày 03/02/2016, ngày 25/12/2014, ngày 16/12/2014. ngày 27/08/2015 được ký kết giữa Ngân hàng B1Công ty T6. Các giao dịch trên làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên, quá trình vay vốn Công ty T6 có trả một phần vốn gốc. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn Công ty T6 trả nợ gốc tính đến ngày 11/7/2024 với tổng số tiền 1.821.639.333 đồng là có căn cứ.

[3.2] Về lãi suất: Theo thỏa thuận của các bên đã ký kết trong giao dịch tín dụng nêu trên thì các bên có thỏa thuận lãi suất trong hạn, quá hạn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 7 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm “Khi giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng, Tòa án áp dụng quy định của Luật Các tổ chức tín dụng, văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn áp dụng Luật Các tổ chức tín dụng để giải quyết...”. Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Do đó, Ngân hàng yêu cầu Công ty V2 trả lãi phát sinh tạm tính đến ngày 11/7/2024 gồm lãi trong hạn 2.109.820.859 đồng, lãi quá hạn: 422.065.610 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 12/7/2024 cho đến ngày thanh toán tất nợ là có căn cứ.

[4] Xét giao dịch thế chấp giữa các bên.

Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng B1 cung cấp 04 hợp đồng thế chấp thể hiện các bên có thế chấp tài sản gồm 10 quyền sử dụng đất, 01 xe cần cẩu bánh xích, 01 Sà lan tự hành, 01 xe ô tô 5 chỗ. Hội đồng xét xử nhận định:

[4.1] Xét Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số: 26/2015/4787252/HĐBĐ ngày 17/8/2015 tài sản là 10 QSD đất tại các thửa: 587, 885, 1131, 875, 1130, 899, 657, 399, 645, 1132.

Qua kết quả xem xét thẩm định thể hiện đối với các thửa đất 1132, 657, 645 do ông Ngô Văn T1 và ông Ngô Văn T2 đang quản lý, sử dụng; Đối với thửa 399 do ông Ngô Văn T1 đang quản lý, sử dụng; Đối với thửa 899 do ông Ngô Văn D và bà Ngô Thị Đ đang quản lý, sử dụng; Đối với thửa 587 do ông Ngô Văn T1 và ông Ngô Văn P đang quản lý, sử dụng; Đối với thửa 875, 1130 do gia đình bà Võ Thanh Đ1 đang quản lý, sử dụng một phần, ông Trương Hoàng V1 đang quản lý, sử dụng 01 phần có gắn biển hiệu Công ty TNHH MTV T7; Đối với thửa 885 và 1131 do ông Trương Hoàng V1 đang quản lý, sử dụng. Ông Ngô Văn T1 có ý kiến thống nhất phát mãi tài sản thế chấp, ông Ngô Văn D đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật trong trường hợp bị đơn không trả được nợ, bà Đ có ý kiến để ông T1 quyết định. Đối với các đương sự còn lại cũng như thành viên hộ gia đình gồm Công ty TNHH MTV T7, ông Trương Hoàng V1, bà Lê Thị Ngọc E, chị Ngô Thị Trà M, bà Hồ Thị Hương S1, chị Ngô Bảo N, ông Ngô Văn T2 (Người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn T2: Bà Nguyễn Thị Thanh N1, anh Ngô Phú Q, chị Ngô Thị Khánh V, anh Ngô Quý T3, chị Ngô Thị Khánh P1, chị Ngô Thị Phương T4), bà Nguyễn Thị Thanh N1, anh Ngô Quý T3, chị Ngô Thị Khánh V, chị Ngô Thị Khánh P1, chị Ngô Thị Phương T4, ông Ngô Văn P, bà Võ Thanh Đ1, ông Đỗ Văn H, bà Đỗ Thị Kiều T5 Tòa án đã ra các Thông báo số 06/TB-TA, số 07/TB-TA, số 08/TB-TA, số 09/TB-TA, số 10/TB-TA, số 11/TB-TA cùng ngày 20/02/2024 để tham gia tố tụng và trình bày ý kiến bằng văn bản nhưng các đương sự nêu trên không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án.

Căn cứ vào Công văn số 350/UBND-NC ngày 24/02/2023 của UBND huyện P xác định việc cấp các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Ngô Văn T1 được thực hiện theo trình tự, thủ tục hồ sơ cấp lại, cấp đổi. Đồng thời giao dịch thế chấp đã được công chứng, chứng thực, có đăng ký giao dịch bảo đảm là phù hợp với Điều 342, Điều 343 Bộ luật Dân sự năm 2005, Nghị định số 83/2010/NĐ-CP23 tháng 7 năm 2010 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 05/2012/NĐ-CP02 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, Nghị định số 11/2012/NĐ-CP22 tháng 02 năm 2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CPDo đó, Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số: 26/2015/4787252/HĐBĐ ngày 17/8/2015 phát sinh hiệu lực theo quy định pháp luật.

[4.2] Đối với Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số: 25/2015/4787252/HĐBĐ ngày 18/8/2015; Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số: 0023/2015/4787252/HĐBĐ ngày 05/8/2015; Hợp đồng thế chấp số: N.A.0224.14/HĐTC ngày 16/12/2014 tài sản là xe cần cẩu bánh xích, S tự hành, xe ô tô 5 chỗ đã được công chứng nên phát sinh hiệu lực theo quy định.

Đối với xe ô tô đang do ông Nguyễn Thanh B, ông B có ý kiến thống nhất phát mãi tài sản là chiếc xe trong trường hợp phía ông T1 không có khả năng trả nợ, sau này đến giai đoạn thi hành án sẽ tiếp tục thỏa thuận với các bên liên quan. Đối với xe cần cẩu bánh xích, S tự hành theo ý kiến của ông T1 các tài sản trên đang lưu thông, Tòa án cũng đã ban hành Thông báo số 12/TB-TA ngày 20/02/2024 yêu cầu ông T1, Công ty T6, Ngân hàng B1 cung cấp thông tin tài sản đang ở đâu, ai đang quản lý, sử dụng nhưng các đương sự không thực hiện theo yêu cầu của Tòa án.

[5] Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ để Hội đồng xét xử buộc Công ty T6 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng B1 tổng cộng số tiền tạm tính đến ngày 11/7/2024 là 4.353.525.802 đồng, trong đó nợ gốc là 1.821.639.333 đồng, lãi trong hạn 2.109.820.859 đồng, lãi quá hạn: 422.065.610 đồng và lãi phát sinh từ ngày 12/7/2024 đến khi trả tất nợ. Trường hợp bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng được quyền yêu cầu phát mại tài sản đã thế chấp.

[6] Xét thấy quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 phải nộp theo quy định của pháp luật.

[8] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 30, Điều 35, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản.

[2] Buộc bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 tổng số tiền tính đến ngày 11/7/2024 là 4.353.525.802 đồng (bốn tỷ, ba trăm năm mươi ba triệu, năm trăm hai mươi lăm nghìn, tám trăm lẻ hai đồng), trong đó nợ gốc là 1.821.639.333 đồng (một tỷ, tám trăm hai mươi mốt triệu, sáu trăm ba mươi chín nghìn, ba trăm ba mươi ba đồng), lãi trong hạn 2.109.820.859 đồng (hai tỷ, một trăm lẻ chín triệu, tám trăm hai mươi nghìn, tám trăm năm mươi chín đồng), lãi quá hạn: 422.065.610 đồng (bốn trăm hai mươi hai triệu, không trăm sáu mươi lăm nghìn, sáu trăm mười đồng).

Kể từ ngày 12/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Trường hợp bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp bằng bất động sản của bên thứ ba số: 26/2015/4787252/HĐBĐ ngày 17/8/2015; Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số: 25/2015/4787252/HĐBĐ ngày 18/8/2015; Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số: 0023/2015/4787252/HĐBĐ ngày 05/8/2015; Hợp đồng thế chấp số: N.A.0224.14/HĐTC ngày 16/12/2014.

[4] Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 phải nộp số tiền 112.353.526 đồng (Một trăm mười hai triệu, ba trăm năm mươi ba nghìn, năm trăm hai mươi sáu đồng).

Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 (có người đại diện ủy quyền là ông Nguyễn Ngọc S) được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 55.232.000 đồng (Năm mươi lăm triệu, hai trăm ba mươi hai nghìn đồng) theo biên lai thu số 0004409 ngày 11 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

[5] Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, chi phí tố tụng: số tiền 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng), bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T6 phải nộp để hoàn trả lại cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2.

[6] Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải chịu thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[7] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ2 có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/7/2024). Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn T6; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Văn T1 – Chủ Doanh nghiệp tư nhân N2; ông Ngô Văn T1; bà Hồ Thị Hương S1, chị Ngô Bảo N; ông Ngô Văn P; ông Ngô Văn T2 (có người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông Ngô Văn T2: Bà Nguyễn Thị Thanh N1, anh Ngô Phú Q, chị Ngô Thị Khánh V, anh Ngô Quý T3, chị Ngô Thị Khánh P1, chị Ngô Thị Phương T4); Bà Nguyễn Thị Thanh N1; Anh Ngô Quý T3; Chị Ngô Thị Khánh V; Chị Ngô Thị Khánh P1; Chị Ngô Thị Phương T4; Ông Ngô Văn D; Bà Lê Thị Ngọc E; Chị Ngô Thị Trà M; Công ty TNHH MTV T7; Ông Trương Hoàng V1; Ông Đỗ Văn H; Bà Võ Thanh Đ1; Chị Đỗ Thị Kiều T5; Ông Nguyễn Thanh B; Bà Ngô Thị Đ vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Các đương sự;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS TX Long Mỹ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Châu Thanh Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/KDTM-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản

  • Số bản án: 03/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger