Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/KDTM-ST

Ngày: 17/6/2024 Về việc:

“Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Chu Thị Tuyết .

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Thiện Lợi;
  2. Bà Nguyễn Thị An.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thảo Linh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Ông Lại Văn Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 10/2023/TLST-KDTM ngày 24 tháng 7 năm 2023 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2024/QĐXXST-KDTM ngày 23 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2024/QĐST-KDTM ngày 10 tháng 5 năm 2024 Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-KDTM ngày 28 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (Ngân hàng). Địa chỉ: Số A, P, Phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Thanh T - Chủ tịch Hội đồng quản trị.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Thanh P - Giám đốc phòng G - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T6.

    (Theo Quyết định số 163/QĐ-DAB-HĐQT-PC ngày 08/8/2022 của Chủ tịch HĐQT Ngân hàng TMCP Đ).

    Người đại diện theo ủy quyền lại: Bà Nguyễn Hoàng Yến N – Cán bộ Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T6 - Phòng G.

    Địa chỉ: Phòng G - số A, phố T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

    (Theo Quyết định số 01/QĐ-DAB ngày 06/01/2023 của Giám đốc phòng G - Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh T6).

  3. Bị đơn: Anh Bùi Sỹ T1, sinh năm 1980 và chị Lê Thị Quỳnh H, sinh năm 1982. Đều cư trú tại: Số nhà C, đường L, tổ G, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ông Bùi Sỹ T2, sinh năm 1948. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
    2. Chị Bùi Thị T3, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
    3. Chị Bùi Thị T4, sinh năm 1975. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.
    4. Chị Bùi Thị P1, sinh năm 1982 - Không rõ nơi cư trú.
    5. Chị Bùi Thị L, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt đại diện nguyên đơn ông Phạm Thanh P, vắng mặt những người tham gia tố tụng khác).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng đại diện nguyên đơn - Ngân hàng TMCP Đ trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau:

Ngày 20/10/2021, Ngân hàng và vợ chồng anh Bùi Sỹ T1, chị Lê Thị Quỳnh H ký kết Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số K.0429/121 với nội dung Ngân hàng đồng ý cho vợ chồng anh T1, chị H vay 150.000.000 đồng để bổ sung vốn kinh doanh sửa chữa, thay thế phụ tùng ô tô, thời hạn vay 09 tháng, lãi suất 8,3%/năm, Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Để đảm bảo cho khoản vay, ông Bùi Sỹ T2 và bà Đỗ Thị L1 đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất 658,2m² và các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 61, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông Bùi Sỹ T2 và bà Đỗ Thị L1 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số K.0108/TC20 ngày 22/4/2020.

Ngày 20/10/2021, Ngân hàng giải ngân cho anh T1, chị H vay 150.000.000 đồng. Kể từ khi được cấp vốn vay, anh T1, chị H đã thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi cho Ngân hàng. Tuy nhiên, từ ngày 19/7/2022, anh T1, chị H vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhưng anh T1, chị H mới thực hiện một phần nghĩa vụ trả nợ. Tính đến ngày 20/6/2023, tổng số tiền nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn anh T1, chị H còn nợ Ngân hàng là 147.344.726 đồng. Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án, anh T1, chị H đã trả thêm một phần nợ gốc cho Ngân hàng.

Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu:

- Yêu cầu anh T1 và chị H phải thanh toán cho Ngân hàng tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 17/6/2024 là 120.234.740 đồng, trong đó: Nợ gốc: 90.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 989.178 đồng, nợ lãi quá hạn: 29.245.562 đồng và toàn bộ tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đến ngày anh T1, chị H trả hết nợ cho Ngân hàng.

- Trường hợp anh T1, chị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mại các tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số K.0108/TC20/HĐTC ngày 22/4/2020 giữa bên thế chấp là ông Bùi Sỹ T2, bà Đỗ Thị L1, bên nhận thế chấp là Ngân hàng để thu hồi nợ. Tài sản bảo đảm gồm: Quyền sử dụng 658,2m² đất ở và đất trồng cây lâu năm tại thửa đất 61, tờ bản đồ số 04, địa chỉ thửa đất: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình (Thửa đất đã được UBND huyện T, tỉnh Thái Bình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 900647 ngày 19/10/2015 mang tên ông Bùi Sỹ T2, bà Đỗ Thị L1) và tài sản gắn liền với đất là nhà cấp 3, diện tích xây dựng 76,8 m².

- Trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, yêu cầu anh T1, chị H tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi hoàn tất thanh toán toàn bộ khoản nợ.

2. Bị đơn anh Bùi Sỹ T1 và chị Lê Thị Quỳnh H trình bày:

Ngày 20/10/2021 vợ chồng anh T1, chị H và Ngân hàng đã ký kết Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số K.0429/121 với nội dung Ngân hàng đồng ý cho anh T1, chị H vay 150.000.000 đồng để bổ sung vốn kinh doanh sửa chữa, thay thế phụ tùng ô tô, thời hạn vay 09 tháng, lãi suất 8,3%/năm. Để đảm bảo cho khoản vay bố mẹ anh T1 là ông Bùi Sỹ T2 và bà Đỗ Thị L1 đã thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất 658,2m² và các tài sản gắn liền với đất tại thửa đất 61, tờ bản đồ số 04, mang tên ông T2, bà L1. Bà L1 chết năm 2021, bố mẹ anh T1 có 05 người con gồm: Bùi Thị T3, Bùi Thị T4, Bùi Thị P1, Bùi Sỹ T1 và Bùi Thị L, anh T1 không biết chính xác năm sinh và địa chỉ của các chị, em.

Ngày 20/10/2021, vợ chồng anh T1, chị H đã được Ngân hàng giải ngân cho vay 150.000.000 đồng. Kể từ khi được cấp vốn vay, anh T1, chị H đã thực hiện đúng nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng. Tuy nhiên, từ ngày 19/7/2022, do ảnh hưởng của dịch Covid 19, kinh tế gặp nhiều khó khăn nên anh T1, chị H không thực hiện đúng thỏa thuận trả nợ theo hợp đồng nên khoản vay đã chuyển quá hạn. Đến thời điểm hiện tại, anh T1, chị H còn nợ Ngân hàng 90.000.000 đồng tiền nợ gốc, về tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn như Ngân hàng trình bày là đúng.

Đối với các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, anh T1, chị H có ý kiến:

- Kể từ khi Ngân hàng khởi kiện, hàng tháng anh T1, chị H vẫn thực hiện trả nợ dần cho Ngân hàng mỗi tháng 5.000.000 đồng trừ vào nợ gốc. Anh T1, chị H đề nghị Ngân hàng xem xét gia hạn thời hạn trả nợ cho anh T1, chị H.

- Anh T1, chị H chấp nhận trả lãi trên dư nợ gốc cho Ngân hàng với số lãi đã thỏa thuận là 8,3%/năm, đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện miễn lãi quá hạn cho anh T1, chị H.

- Mẹ anh T1 là bà Đỗ Thị L1 đã chết năm 2021, hiện nay, bố anh T1 là ông Bùi Sỹ T2 đang sinh sống trên nhà đất là tài sản thế chấp. Bố anh T1 đã già, sức khỏe yếu nên đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện để cho anh T1, chị H trả nợ dần, không phát mại tài sản thế chấp của bố, mẹ anh T1.

3. Quá trình xác minh, Ủy ban nhân dân xã T và Công an xã T, tỉnh Thái Bình cung cấp: Ông Bùi Sỹ T2, sinh năm 1948, cư trú tại: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình có vợ là bà Đỗ Thị L1, sinh năm 1951 (chết năm 2021). Ông T2, bà L1 có 05 người con chung là: Anh Bùi Sỹ T1, cư trú tại: Thành phố T. Chị Bùi Thị T3, sinh năm 1971, chị Bùi Thị T4, sinh năm 1975, chị Bùi Thị L, sinh năm 1988. Đều cư trú tại: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Chị Bùi Thị P1, sinh năm 1982, hộ khẩu thường trú: Thôn L, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình đến ngày 15/02/2009 thì chuyển nơi thường trú nhưng không rõ nơi đến. Ông T2 bà L1 không có con nuôi, bố mẹ đẻ của bà L1 đã chết trước bà L1.

4. Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Ngân hàng yêu cầu anh T1, chị H phải trả tiền nợ gốc, tiền nợ lãi theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Đề nghị tuyên buộc anh T1, chị H phải trả toàn bộ các khoản nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn theo mức lãi suất đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng kể từ ngày Tòa án ra Bản án cho đến ngày anh T1, chị H thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

Trường hợp anh T1, chị H không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ theo Bản án có hiệu lực của Tòa án thì Ngân hàng được quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp tài sản hai bên đã ký.

Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, anh T1, chị H có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng.

Về án phí: Anh T1, chị H phải chịu tiền án phí vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch đối với số tiền phải thanh toán cho Ngân hàng. Trả lại Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn toàn bộ số tiền nợ gốc và tiền nợ lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên. Nguyên đơn cho bị đơn vay vốn nhằm mục đích kinh doanh, bị đơn có giấy phép kinh doanh, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp phát sinh trong vụ kiện là tranh chấp về Kinh doanh thương mại. Bị đơn có địa chỉ tại phường H, thành phố T; phía nguyên đơn và bị đơn thống nhất lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình giải quyết nên việc thụ lý, giải quyết yêu cầu của nguyên đơn thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

Bà L1 chết ngày 02/11/2021, trước thời điểm Tòa án thụ lý vụ án do đó bà L1 không phải là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án yêu cầu nguyên đơn và bị đơn cung cấp thông tin về các con của bà L1 song không bên nào cung cấp. Tòa án xác minh, địa phương cung cấp bà L1 có 05 người con trong đó có anh T1 là bị đơn, những người con khác gồm chị T3, chị T4, chị P1, chị Lê Tòa án đưa vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 4 Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuy nhiên địa phương không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị P1 nên Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị P1, Tòa án thực hiện việc niêm yết các văn bản tố tụng của Tòa án cho chị P1 tại nơi cư trú cuối cùng của chị P1.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thì thấy: Anh T1, chị H với Ngân hàng đã ký Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số K.0429/121 ngày 20/10/2021 mục đích để bổ sung vốn kinh doanh sửa chữa, thay thế phụ tùng ô tô. Ngân hàng giải ngân đủ số tiền 150.000.000 đồng cho anh T1, chị H vay. Tại thời điểm ký hợp đồng anh T1, chị H và đại diện Ngân hàng đều là người có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện ký kết hợp đồng, tự nguyện thỏa thuận về nội dung hợp đồng, mục đích của giao kết hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Các thỏa thuận phù hợp với Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1, phù hợp với quy định tại Điều 117, 118, 119, 401, 463 Bộ luật Dân sự năm 2015. Do nội dung và hình thức của hợp đồng tuân thủ đúng quy định của pháp luật nên Hợp đồng tín dụng có giá trị pháp lý.

Quá trình thực hiện hợp đồng anh T1, chị H không trả nợ cho Ngân hàng tiền gốc và tiền lãi như đã thỏa thuận, Ngân hàng đã đôn đốc anh T1, chị H có kế hoạch trả nợ nhưng không có kết quả. Người vi phạm hợp đồng là anh T1, chị H nên anh T1, chị H phải chịu hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số dư nợ từ khi anh T1, chị H vi phạm nghĩa vụ sang nợ quá hạn là đúng quy định.

[2.1] Về hợp đồng tín dụng:

[2.1.1] Về tiền nợ gốc: Giao dịch giữa Ngân hàng với anh T1, chị H được thể hiện bằng Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số K.0429/121 ngày 20/10/2021. Anh T1, chị H thừa nhận đã vay tiền của Ngân hàng và đã được giải ngân tổng số tiền 150.000.000 đồng. Anh T1, chị H đã trả cho Ngân hàng số tiền nợ gốc tính đến ngày 17/6/2024 là 60.000.000 đồng, số tiền nợ gốc còn lại 90.000.000 đồng nên yêu cầu khởi kiện này của Ngân hàng là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.1.2] Về tiền nợ lãi: Đối với lãi suất trong hạn các bên thỏa thuận trong hợp đồng là 8,3%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Xét thấy sự thỏa thuận này là phù hợp với quy định tại Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; điểm a, điểm c khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng.

Anh T1, chị H có ý kiến đề nghị xin được Ngân hàng miễn tiền lãi quá hạn, song Ngân hàng không chấp nhận nên cần buộc anh T1, chị H phải trả tiền lãi theo yêu cầu của Ngân hàng. Tính đến ngày 17/6/2024 anh T1, chị H phải trả cho Ngân hàng số tiền nợ lãi trong hạn: 989.178 đồng, số tiền nợ lãi quá hạn 29.245.562 đồng.

[2.2] Về Hợp đồng thế chấp tài sản: Trường hợp anh T1, chị H không trả được nợ, Ngân hàng được quyền đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp: Xét thấy khi ký hợp đồng thế chấp tài sản số K.0108/TC/20 ngày 22/4/2020 các bên tự nguyện thỏa thuận, hợp đồng thế chấp được công chứng, được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật, các bên phải thực hiện nghĩa vụ đã cam kết trong Hợp đồng thế chấp tài sản. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu anh T1, chị H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.

[2.3] Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, anh T1, chị H có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng.

[3] Về chi phí tố tụng: Ngân hàng đã nộp 5.000.000 đồng tiền tạm ứng chi phí tố tụng. Đã chi phí tố tụng hết 5.000.000 đồng. Anh T1 và chị H phải nộp 5.000.000 đồng tiền chi phí tố tụng để trả cho Ngân hàng.

[4] Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng được Tòa án chấp nhận, do vậy sẽ hoàn trả số tiền đã nộp tạm ứng án phí. Anh T1, chị H phải chịu án phí vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 463, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N1. Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ1.

  1. Buộc anh Bùi Sỹ T1 và chị Lê Thị Quỳnh H phải trả cho Ngân hàng các khoản nợ gồm: Tiền nợ gốc: 90.000.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn: 989.178 đồng, tiền nợ lãi quá hạn: 29.245.562 đồng. Tổng cộng: 120.234.740 đồng (Một trăm hai mươi triệu hai trăm ba mươi tư nghìn bẩy trăm bốn mươi đồng).
  2. Về việc trả lãi sau khi xét xử sơ thẩm: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ngày 18/6/2024 anh Bùi Sỹ T1 và chị Lê Thị Quỳnh H tiếp tục phải trả tiền lãi cho Ngân hàng theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng ngắn hạn số K.0429/121 cho đến khi anh Bùi Sỹ T1 và chị Lê Thị Quỳnh H thực tế thanh toán hết nợ cho Ngân hàng.
  3. Về Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm: Khi bản án có hiệu lực pháp luật, anh Bùi Sỹ T1 và chị Lê Thị Quỳnh H không thực hiện hoặc thực hiện không đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp số K.0108/TC20 ngày 22/4/2020 để thu hồi nợ.
  4. Trường hợp số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ trả nợ, anh T1, chị H có nghĩa vụ tiếp tục trả hết nợ cho Ngân hàng.

  5. Về chi phí tố tụng: Anh Bùi Sỹ T1 và chị Lê Thị Quỳnh H phải nộp 5.000.000 đồng tiền chi phí tố tụng để trả cho Ngân hàng.
  6. Về án phí: Anh Bùi Sỹ T1 và chị Lê Thị Quỳnh H phải nộp 6.011.737 đồng tiền án phí vụ án kinh doanh thương mại sơ thẩm. Trả lại Ngân hàng số tiền 3.864.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0001500 ngày 07/7/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
  7. “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

  8. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 17/6/2024). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Tòa án ND tỉnh Thái Bình;
  • - VKSND thành phố Thái Bình;
  • - Chi cục THA thành phố Thái Bình;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/KDTM-ST ngày 17/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 03/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger