TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/KDTM - ST Ngày 16/8/2024 (V/v: Kiện đòi thanh toán hợp đồng giao khoán và hợp đồng mua bán) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Lan Hương.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Bùi Thanh Nhiến, bà Nguyễn Thị Lan
Thư ký phiên tòa: ông Lê Tuấn Huy – Thư ký Tòa án nhân dân (TAND) Thành phố (TP) Hòa Bình.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hòa Bình tham gia phiên toà: bà Nguyễn Thị Vân.
Ngày 16/8/2024, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân (TAND) Thành phố H, tỉnh Hòa Bình; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số: 12/2023/TLST-KDTM ngày 18/10/2023 về Kiện đòi thanh toán “Hợp đồng giao khoán...” và “Hợp đồng mua bán...” giữa:
- * Nguyên đơn: Công ty cổ phần X;
- Địa chỉ: Số I, Đường H, Tổ C, Phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình.
- Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Văn T - Giám đốc (Có mặt.)
- * Bị đơn: Công ty cổ phần X1;
- Địa chỉ văn phòng liên hệ: Tầng A, CT3 – 1; KĐT Mễ Trì, N, Hà Nội; Đại diện: ông Nguyễn Lộc H – Tổng giám đốc (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo đơn khởi kiện, sửa đổi bổ sung khởi kiện và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày: Công ty cổ phần (sau đây viết tắt là: CP) xây dựng (Sau đây viết tắt là: XD) Đ và Công ty CP X2 (Sau đây viết tắt là TM) Việt Nam có ký kết 03 hợp đồng, trong đó 02 hợp đồng giao khoán và 01 hợp đồng nguyên tắc về mua bán cọc bê tông; cung cấp vật liệu cọc bê tông và thi công ép móng cọc hai Công trình xây dựng trụ sở Bảo hiểm xã hội (BHXH) huyện K và BHXH huyện M, thuộc tỉnh Hòa Bình.
*/ Đối với phần công việc ở công trình xây dựng Trụ sở B:
- - Thứ nhất: Hai bên ký kết Hợp đồng số 05/2019/HĐKT, ngày 20/02/2019 V/v thi công ép cọc nền móng công trình Trụ sở làm việc BHXH K, tỉnh Hòa Bình; ép bằng Robot thủy lực; Giá trị Hợp đồng là: 100.000.000 đồng.
- Thỏa thuận với nội dung:
- Bên A (Công ty CP X2) giao cho bên B (Công ty CP X) thi công ép cọc bê tông cốt thép móng công trình Trụ sở làm việc BHXH Huyện K - Hòa Bình. Khối lượng công việc được liệt kê theo bảng trong hợp đồng, kèm theo giá trị tiền (Đã bao gồm VAT và các chi phí khác theo quy định).
- Tiền độ thi công 05 ngày kể từ ngày bên B nhận được tiền cọc của bên A; nếu chậm phải chịu phạt 3% giá trị hợp đồng/5 ngày chậm trễ đầu tiên. Có thể điều chỉnh tiến độ do bất khả kháng và các bên sẽ cùng nhau thảo luận để xác định lại tiến độ thi công phù hợp với thời điểm.
- Nghiệm thu, tạm ứng và thanh toán:
- + 40% giá trị hợp đồng khi bên B chuyển máy đến và ép thí nghiệm xong.
- + Sau nghiệm thu, bên B cấp hóa đơn tại chính. Bên A căn cứ vào biên bản này và yêu cầu của bên A; bên A sẽ thanh toán hết số tiền cho bên B trong vòng 30 ngày, quá hạn phải chịu lãi suất quá hạn theo Ngân hàng.
- - Thứ hai, hai bên ký Hợp đồng nguyên tắc số 03/2019/HĐNT (V/v: mua bán cọc bê tông) ngày 25/3/2019, giá trị Hợp đồng 269.490.000 đồng.
- Thỏa thuận:
- + Hợp đồng nguyên tắc áp dụng chung cho mọi giao dịch liên quan đến việc mua bán cọc giữa hai bên.
- + Bên A (Công ty CP X) sản xuất, cung cấp và vận chuyển cho bên B (Công ty CP X2) cọc BTCT 250x250, BT mác 250 với khối lượng và đơn giá có bản kê trong hợp đồng (Đã bao gồm VAT và phí vận chuyển).
- + Đặt hàng: Bên B phải gửi cho bên A đơn hàng hoặc thông báo đặt hàng (Điện thoại, F...), ghi rõ số lượng từng loại, thời gian giao hàng... địa điểm giao hàng: Nơi bên B thi công công trình.
- + Thanh toán trước cho bên A 20% giá trị đơn hàng, 80% giá trị còn lại, bên B thanh toán cho bên A sau khi bên B giao đủ hàng và cung cấp cho bên A đủ hồ sơ thanh toán. Hồ sơ thanh toán bao gồm: Hồ sơ chất lượng (Giấy chứng nhận xuất xưởng, kết quả thí nghiệm cường độ bê tông của cọc và các thí nghiệm của sắt); Biên bản giao nhận hàng hóa và hóa đơn giá trị gia tăng.
Tổng giá trị 02 hợp đồng vào công trình xây dựng Trụ sở B là: 369.490.000 đồng. Sau thực hiện, hai bên chốt ký:
- + Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành số 01 ngày 01/12/2020 tương ứng với giá trị cả hai hợp đồng là: 369.490.000 đồng.
- + Biên bản thanh lý Hợp đồng vào ngày 23/12/2020. Chốt tổng giá trị quyết toán & thi công thực tế khớp là 369.490.000 đồng;
- + Ngày 24/12/2020, Công ty CP X xuất “Hóa đơn giá trị gia tăng” với số tiền 369.490.000 đồng cho Công ty CP X2.
- + Quá trình thanh toán như sau: Đối trừ vào khoản Công ty CP X đã tạm ứng và nhiều lần thanh toán: tổng là 320.000.000 đồng. Số tiền Công ty CP X2 còn nợ Công ty CP X là: 49.490.000 đồng.
2
Công ty CP X cho rằng đã thực hiện đúng Hợp đồng; thời điểm chốt khối lượng hoàn thành và thanh lý hợp đồng hai bên đều thống nhất, không bên nào có thắc mắc gì. Tuy nhiên số tiền dư nợ Công ty CP X2 không chịu thanh toán cho Công ty CP X. Do vậy Công ty CP X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty CP X2 phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán và nghĩa vụ chậm trả.
Ngoài ra, hai bên ký kết Hợp đồng kinh tế số 1809/2020/HĐKT, ngày 18/9/2020, V/v: thi công móng cọc bê tông cốt thép – nền móng công trình (Trụ sở B). Giá trị Hợp đồng kinh tế số 1809/2020/HĐKT tạm tính là: 265.650.000 đồng (Bao gồm cả thuế VAT 10%). Đối chiếu công nợ thực tế và thanh lý hợp đồng đối với Công trình B là ngày 18/11/2020. Trong đó khối lượng và giá trị hoàn thành phát sinh lên so với hợp đồng tạm tính và được hai bên chốt nghiệm thu, thanh lý với nhau là: 481.569.000 đồng, ký kết, không thắc mắc gì. Công ty CP X đã xuất Hóa đơn VAT số 01 ngày 04/11/2020 = 345.169.000 đồng (Tương ứng với khối lượng nghiệm thu lần 1 vào ngày 03/11/2020); Hóa đơn VAT số 02 ngày 26/12/2020 = 136.400.000 đồng (tương ứng khối lượng của nghiệm thu lần 2 ngày 18/11/2020)
Tổng phần việc tại Công trình BHXH huyện M, Công ty CP X2 đã thanh toán cho Công ty CP X là: 433.130.000 đồng;
Còn dư nợ: 48.439.000 đồng.
Khởi kiện ban đầu của nguyên đơn bao gồm cả khoản dư nợ từ phần việc thực hiện theo Hợp đồng kinh tế số 1809/2020/HĐKT tại BHXH huyện M – Hòa Bình nhưng nay Công ty CP X rút phần khởi kiện (đối với khoản tiền dư nợ của Hợp đồng kinh tế số 1809/2020/HĐKT) để khởi kiện bằng vụ án khác tại Tòa án có thẩm quyền khi thấy cần thiết. Như vậy, nay nguyên đơn chỉ duy trì phần nội dung khởi kiện là: yêu cầu Tòa án buộc Công ty CP X1 phải trả khoản dư nợ từ hai hợp đồng số 05/2019/HĐKT ngày 20/02/2019 và Hợp đồng nguyên tắc số 03/2019/HĐNT (V/v: mua bán cọc bê tông) ngày 25/3/2019 với số tiền dư nợ gốc là:
49.490.000 đồng
cùng với lãi chậm trả theo quy định chung của pháp luật. Rút yêu cầu tính lãi theo Hợp đồng và chỉ yêu cầu tính lãi chậm thi hành án theo pháp luật.
2. Đối với Bị đơn Công ty CP X1:
Quá trình giải quyết, Công ty CP X2, trong suốt từ khi thụ lý vụ án cho đến sau khi Tòa án ban hành Quyết định đưa vụ án ra xét xử (B1 vào ngày 27/6/2024), phía Công ty CP X2 không đến tham gia tố tụng, không nộp tài liệu, chứng cứ dù đã được Tòa án gửi Văn bản yêu cầu, Thông báo, Triệu tập hợp lệ.
Ngày 19/6/2024, ông Nguyễn Lộc H – Tổng giám đốc Công ty CP X2 mới đến Tòa án trình bày: xác nhận đã nhận được các văn bản tố tụng của TAND TP Hòa Bình gửi cho Công ty CP X2 trong vụ án tranh chấp KDTM nêu trên. Ông H cũng xác nhận đã nhận được Quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án; đã nắm được nội dung khởi kiện của nguyên đơn; đã hiểu rõ về quyền, nghĩa vụ của mình; nhất trí buổi làm việc và trình bày ý kiến của Công ty CP X2 đối với nội dung khởi kiện của nguyên đơn như sau:
3
Công ty CP X1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện nêu trên của Công ty CP X. Vì lý do:
*/ Đối với công trình xây dựng Trụ sở làm việc BHXH Kỳ Sơn:
Lý do không đồng ý là: không khớp tài chính. Hợp đồng số 05/2019 ngày 20/2/2019 ký là: 100.000.000 đồng. Tiền thực tế Công ty CP X2 đã chuyển: 320.000.000 đồng. Phiếu giao nhận hàng hóa không có ký của chỉ huy trưởng công trình là người bên Công ty CP X2. Có “Biên bản thanh lý hợp đồng kinh tế” (Đối với Hợp đồng kinh tế số: 1809/2020/HĐKT ký ngày 18/9/2020”) còn không có ghi ngày, tháng và chỉ có một bên Công ty CP X ký đóng dấu, bản này Công ty CP X2 nộp cho Tòa án ngày 19/6/2024. Hợp đồng số 1809/2020/HĐKT ngày 18/9/2020, tiến độ hoàn thành là 15 ngày nhưng thực tế bên Công ty CP X lại chậm 40 ngày; thể hiện tại “Biên bản nghiệm thu..” số 01 ngày 12/10/2020 Công ty CP X2 nộp ngày 19/6/2024 tại Tòa án.
Hợp đồng kinh tế 1809/2020/HĐKT (trụ sở B) ký giá trị 265.655.000 đồng nhưng Công ty CP X1 đã chuyển cho Công ty CP X 433.130.000 đồng. Hình thức: Chuyển khoản. Biểu kê chuyển thể hiện tại trang đầu tiên của “Sổ chi tiết theo dõi đối tượng 331 Công ty CP X” ông H nộp tại Tòa án ngày 19/6/2024 (có chữ ký “Anh” là Ngô Lan A kế toán của Công ty CP X1); các mã chuyển cụ thể như sau:
- - Ngày 29/9/2020: 53.130.000 đồng
- - Ngày 11/11/2020: 250.000.000 đồng
- - Ngày 20/11/2020: 50.000.000 đồng
- - Ngày 08/2/2021: 80.000.000 đồng
Theo ông H thì cho đến bây giờ bên Công ty CP X1 chỉ còn nợ bên Công ty CP X khoảng 50.000.000 đồng của cả hai công trình. Việc ký đối chiếu công nợ như Công ty CP X xuất trình - Đó mới chỉ là đối chiếu để xác định doanh thu nộp cho cơ quan thuế. Nay theo quan điểm ông H thì hai bên cần gặp nhau để đối chiếu, hoàn thiện tất cả các thủ tục để thanh toán hợp lý cho nhau. Nhưng bên ông H bận không đến được.
3. Những nội dung trình bày thống nhất, không thống nhất:
- Nội dung thống nhất:
Hai bên đều có bản khai thừa nhận: hai bên ký kết 03 Hợp đồng như sau:
- + Hợp đồng số 05/2019/HĐKT ngày 20/02/2019 V/v thi công ép cọc nền móng công trình Trụ sở làm việc B, giá trị 100.000.000 đồng.
- + Hợp đồng nguyên tắc số 03/2019/HĐNT (VV mua bán cọc bê tông) ngày 25/3/2019 giá trị hợp 269.490.000 đồng.
Tổng giá trị ký kết và thực tế hoàn thành là: 369.490.000 đồng.
Số tiền bên Công ty CP X2 đã chuyển thanh toán cho hai Hợp đồng nêu trên là: 320.000.000 đồng.
- + Hợp đồng kinh tế số 1809/2020/HĐKT V/v: thi công móng cọc bê tông cốt thép – nền móng công trình (Trụ sở B), ký ngày 18/9/2020. Giá trị tạm tính: 265.650.000 đồng.
- Nội dung không thống nhất:
4
+ Công ty CP X yêu cầu Công ty CP X2 phải thanh toán cho Công ty CP X số tiền dư nợ của 02 hợp đồng 05/2019/HĐKT, ngày 20/02/2019 và Hợp đồng số 03/2019/HĐNT, ngày 25/3/2019 - với số tiền là: 49.490.000 đồng cùng với tiền lãi như đã nêu trên. Bởi: sau khi ký và thực hiện hợp đồng, hai bên đã ký các văn bản đối chiếu khối lượng hoàn thành, nghiệm thu, chốt số tiền phải thanh toán, đối trừ các khoản đã chuyển tạm ứng, chuyển trả, chốt công nợ với nhau. Không có bên nào thắc mắc gì. Bên Công ty CP X đã xuất hóa đơn VAT đúng nguyên tắc tài chính.
+ Công ty CP X2 không đồng ý và cho rằng Công ty CP X2 không còn nợ Công ty CP X số tiền lớn như thế mà chỉ còn nợ khoảng 50.000.000 đồng là tổng của cả 03 Hợp đồng. Công ty CP X2 chưa thanh toán vì số liệu về tài chính không khớp, chốt khối lượng hoàn thành chưa có chữ ký của Chỉ huy trưởng công trình bên Công ty CP X2. Việc chốt và xuất hóa đơn chỉ là thủ tục xác nhận doanh thu để nộp cho cơ quan thuế.
4. Tại phiên tòa: Bên Công ty CP X có mặt tiếp tục duy trì phần khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc Công ty CP X2 phải thanh toán số tiền dư nợ của phần việc thi công và cung cấp cọc bê tông tại Trụ sở BHXH huyện B theo hai Hợp đồng: số 05/2019/HĐKT ngày 20/02/2019 và Hợp đồng nguyên tắc số 03/2019/HĐNT (V/v: mua bán cọc bê tông) ngày 25/3/2019 với số tiền yêu cầu cụ thể là: 49.490.000 đồng; trường hợp Công ty CP X2 không thanh toán thì yêu cầu Tòa án tuyên nghĩa vụ trả lãi chậm trả theo quy định pháp luật kể từ ngày phán quyết của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
5. Phát biểu của Kiểm sát viên
Về thủ tục tố tụng:
Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định pháp luật tố tụng. Bảo đảm các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự (TTDS) từ khi thụ lý Đơn khởi kiện cho đến tại phiên tòa. Việc xét xử vắng mặt Bị đơn - Công ty CP X2 đã bảo đảm quy định pháp luật. Thời hiệu khởi kiện, bên có nghĩa vụ Công ty CP X2 có bản khai thừa nhận một phần nghĩa vụ với bên Công ty CP X nên vẫn bảo đảm về thời hiệu khởi kiện theo quy định pháp luật.
Về phạm vi khởi kiện: Trước khi tiến hành mở phiên tòa, phía nguyên đơn đã có đơn rút một phần khởi kiện đối với số tiền yêu cầu từ công trình Trụ sở BHXH huyện M, rút yêu cầu tính lãi theo hợp đồng; việc rút một phần yêu cầu khởi kiện này của nguyên đơn là phù hợp nên đề nghị HĐXX đình chỉ phần này. Yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP Hòa Bình cần được xem xét giải quyết.
Về nội dung vụ án: việc giao kết và xác lập “Hợp đồng giao khoán” về việc thi công ép cọc bê tông cốt thép móng công trình” số 05/2019/HĐKT ngày 20/02/2019, “Hợp đồng nguyên tắc” số 03/2019/HĐNT về việc mua bán cọc bê tông ngày 25/3/2019 giữa hai bên nguyên đơn và bị đơn là bằng văn bản, có ký, đóng dấu của hai Công ty với nhau. Có thể hiện quyền, nghĩa vụ các bên. Sau khi thực hiện xong các phần việc theo nội dung của hợp đồng, hai bên đã ký chốt biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành, đối thứ thanh toán, xác nhận dư nợ. Các văn bản hợp đồng, xác nhận giữa hai bên đều không trái đạo đức, phù hợp với quy định pháp luật; tự nguyện nên cần được tôn trọng. Đề nghị HĐXX chấp nhận phần yêu cầu khởi kiện còn lại của nguyên đơn, buộc bị đơn thanh toán số tiền dư nợ của hai hợp đồng từ phần việc Công trình trụ sở BHXH huyện B – Hòa Bình.
5
Về điều luật áp dụng: đề nghị HĐXX áp dụng các quy định:
- Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35, Điểm g Khoản 1 Điều 40; Điều 147; Điều 244; Điều 227, 228, 264, 271, 273 - Bộ luật TTDS;
- Điều 11, Điều 24, Điều 50, 55 - Luật thương mại;
- Điều 117, 118, 119, 274, 275, 385, 401, 429 của BLDS;
- Khoản 2 Điều 26 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 - danh mục quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền, thời hiệu giải quyết vụ án:
Đây là tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh thương mại, cụ thể là tranh chấp Hợp đồng giao khoán về thi công ép móng cọc bê tông công trình và Hợp đồng mua bán. Giữa hai bên pháp nhân đều có đăng ký kinh doanh. Hợp đồng số 05/2019/HĐKT, ngày 20/02/2019 thực hiện tại BHXH huyện B cũ, nay thuộc TP H; Hợp đồng số 03/2019/HĐNT ngày 25/3/2019, ký kết tại Công ty CP X (Có trụ sở: Phường T, TP H) và đồng thực hiện tại BHXH huyện B, nay thuộc TP H; theo thanh quyết toán còn dư nợ 49.490.000 đồng; nay Công ty CP X khởi kiện, lựa chọn Tòa án TAND TP Hòa Bình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND TP Hòa Bình theo quy định: Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35; Điểm g Khoản 1 Điều 40 – Luật TTDS.
Phần yêu cầu khởi kiện nguyên đơn đã rút cần chấp nhận và đình chỉ giải quyết theo quy định Điều 5, Khoản 2 Điều 244 – Bộ luật TTDS.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 24/12/2020, Công ty CP X xuất hóa đơn giá trị gia tăng cho Công ty CP X2; ngày 22/4/2023, Công ty CP X khởi kiện; ngày 19/6/2024, ông Nguyễn Lộc H – Đại diện theo pháp luật của Công ty CP X2 có lời khai trình bày ý kiến xác nhận Công ty CP X2 còn nợ Công ty CP X khoảng 50.000.000 đồng (Thừa nhận một phần nghĩa vụ).
- Điều 157 - BLDS 2015 quy định:
1. Thời hiệu khởi kiện vụ án .... bắt đầu lại trong trường hợp sau đây:
a) Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện;
...
- Điều 185 Bộ luật TTDS quy định: “các quy định của Bộ luật dân sự về thời hiệu được áp dụng trong tố tụng dân sự”. Điều 1 - Bộ luật TTDS quy định về phạm vi điều chỉnh và nhiệm vụ của Bộ luật TTDS: “....Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại...”
6
Nên quy định của Bộ luật dân sự về bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện như viện dẫn trên được áp dụng trong cả giải quyết vụ án kinh doanh - thương mại. Bởi vậy, vụ án này đáp ứng về thời hiệu khởi kiện theo quy định của pháp luật.
Bị đơn vắng mặt nhưng đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần không đến Tòa án để giải quyết. Căn cứ theo Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật TTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
2. Về nội dung vụ án:
(1) Đối với 02 Hợp đồng: Số 05/2019/HĐKT ngày 20/02/2019 (về việc thi công ép cọc nền móng công trình Trụ sở làm việc BHXH Kỳ Sơn); Hợp đồng nguyên tắc số 03/2019/HĐNT (về việc mua bán cọc bê tông) ngày 25/3/2019: Công ty CP X thi công ép cọc nền móng công trình, sản xuất và cung cấp cọc bê tông cho bên Công ty CP X2 là cung - đối diện Công ty CP X2 có ký kết Hợp đồng số 20/2018/HĐXD ngày 29/12/2018 với BHXH tỉnh H xây dựng Trụ sở BHXH huyện B.
(2) Về hình thức của Hợp đồng bảo đảm quy định tại Điều 24 Luật Thương mại. Nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, các bên đủ điều kiện về chủ thể khi hiện tại trang đầu tiên của “Sổ chi tiết theo dõi đối tượng 331 Công ty CP X” ông H nộp tại Tòa án ngày 19/6/2024 (có chữ ký “Anh” là Ngô Lan A kế toán của Công ty CP X1); các mã chuyển cụ thể như sau: Ngày 29/9/2020: 53.130.000 đồng; Ngày 11/11/2020: 250.000.000 đồng; Ngày 20/11/2020: 50.000.000 đồng; Ngày 08/2/2021: 80.000.000 đồng. Việc ký đối chiếu công nợ như Công ty CP X xuất trình - Đó mới chỉ là đối chiếu để xác định doanh thu nộp cho cơ quan thuế. Nay theo quan điểm ông H thì hai bên cần gặp nhau để đối chiếu, hoàn thiện tất cả các thủ tục để thanh toán hợp lý cho nhau. Nhưng bên ông H bận không đến được.
(3) HĐXX thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về nội dung phù hợp với các quy định pháp luật như sau:
Khoản 1 Điều 4; Điều 11, Điều 24, Điều 50, 55 - Luật thương mại.
Điểm a, b, c Khoản 1 - Điều 117; Điều 274; Điều 275; Điều 401 - Bộ luật dân sự;
(4) Số tiền nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Công ty CP X2 phải trả là số tiền đã được hai bên thống nhất đối chiếu chốt nợ, ký nhận nợ sau khi thực hiện Hợp đồng. Bên có nghĩa vụ trả tiền - cho đến thời điểm nguyên đơn khởi kiện ra Tòa án vẫn không hề có văn bản, thông tin trao đổi lại hay thắc mắc gì. Nay bên có quyền khởi kiện đòi quyền lợi về tài sản (khoản tiền đã được bên có nghĩa vụ thừa nhận một phần) là hợp lệ công bằng.
(5) Ý kiến bị đơn cho rằng: “Biên bản thanh lý hợp đồng kinh tế” bị đơn xuất trình ngày 19/6/2024 không ghi ngày, tháng, HĐXX đối chiếu thấy đây là thanh lý đối với Hợp đồng 1809 và cũng không có bên Công ty CP X2 ký, đóng dấu – đồng thời không thuộc phạm vi giải quyết trong vụ án này. Với ý kiến bị đơn cho rằng “ Không có chữ ký của chỉ huy trưởng công trình”, HĐXX thấy đó là người bên Công ty của bị đơn, thuộc phần nghĩa vụ kiểm tra, ký xác nhận của bên Công ty CP X2; việc các biên bản chốt khối lượng hoàn thành, thanh lý Hợp đồng, xác nhận dư nợ phía nguyên đơn xuất trình đã có ký, đóng dấu của Công ty CP X2 (Tổng giám đốc Nguyễn Lộc H) được coi là là căn cứ pháp lý. Đồng thời phía Công ty CP X2 đã nhận hóa đơn tài chính theo quy định, không thắc mắc gì.
(6) Bị đơn xuất trình “Biên bản nghiệm thu khối lượng hoàn thành số 01” (Bút lục số 115) có điền bằng bút mực bị là “ngày 24/03/2019, với tổng giá trị của hai Hợp đồng Số 05/2019/HĐKT ngày 20/02/2019 và Hợp đồng nguyên tắc số 03/2019/HĐNT, ngày 25/3/2019 được thể hiện rõ trong biên bản này là: 369.490.000 đồng; “Biên bản thanh lý Hợp đồng kinh tế” (Bút lục số 116) cũng là thanh lý đối với hai hợp đồng này, không ghi ngày, tháng, đều không có Công ty CP X ký. Số tiền và nội dung không có sai lệch so với bản Công ty CP X xuất trình. Do vậy, trình bày của phía bị đơn Công ty CP X2 là không có căn cứ pháp lý.
(7) Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn không chấp hành đúng Thông báo, Triệu tập, Yêu cầu cung cấp chứng cứ của Tòa án (Ngày 19/6/2024 mới đến trình bày 1 lần và cung cấp một số tài liệu chứng cứ, sau đó có ý kiến là “không đến nữa, vì rất bận”. Bị đơn không chủ động bàn bạc, đối chiếu nếu thấy chưa thỏa đáng, như vậy là từ bỏ quyền của mình).
Điều 91 – Luật TTDS quy định:
“ 2. Đương sự phản đối yêu cầu của người khác đối với mình phải thể hiện bằng văn bản và phải thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho sự phản đối đó.
4. Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết ... theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”.
HĐXX căn cứ vào tài liệu, chứng cứ nguyên đơn nộp đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và đánh giá chứng cứ để giải quyết vụ án.
(8) Tại văn bản số 1491/BHXH-KHTC ngày 14/8/2024 của chủ đầu tư Bảo hiểm xã hội tỉnh H đã xác nhận việc Công ty CP X2 là đơn vị thi công xây dựng công trình Trụ sở BHXH huyện B thời điểm ký hợp đồng là tháng 12/2018, khởi công xây dựng tháng 01/2019; đã được quyết toán dự án hoàn thành, bàn giao đưa vào sử dụng; đã thanh toán hết công nợ và thực hiện thanh lý hợp đồng với Công ty CP X2.
Từ những phân tích và viện dẫn trên, HĐXX thấy cần: đình chỉ khởi kiện của nguyên đơn đối với nội dung khởi kiện Hợp đồng số 1809/2020/HĐKT ngày 18/9/2020, yêu cầu thanh toán số tiền 48.439.000 đồng.
Đồng thời cần chấp nhận khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu Công ty CP X2 thanh toán nốt cho Công ty CP X số tiền dư nợ của hai Hợp đồng: số 05/2019/HĐKT ngày 20/02/2019 (V/v thi công ép cọc nền móng công trình Trụ sở làm việc BHXH Kỳ Sơn) và Hợp đồng nguyên tắc số 03/2019/HĐNT (V/v mua bán cọc bê tông)
8
ngày 25/3/2019 là: 49.490.000 đồng. T1 về bảo đảm nghĩa vụ thi hành án dân sự của bên có nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm (KDTMST), bị đơn phải chịu án phí KDTMST theo quy định Khoản 1 Điều 147 - Luật TTDS và Khoản 2, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội (Tiết a, điểm 1.4, mục 1, II - Phần A - Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326). Trả lại cho nguyên đơn tạm ứng án phí đã nộp. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
Quyền kháng cáo được tuyên theo quy định Điều 271, 273 của Bộ luật TTDS.
Vì các lẽ trên, HĐXX – TAND TP Hòa Bình
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 30; Điểm b Khoản 1 Điều 35; Điểm g Khoản 1 Điều 40; Khoản 2, 4 Điều 91; Khoản 1 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228; Điều 244; Điều 264; 271; 273 - Bộ luật TTDS;
Điều 11; Khoản 1 Điều 24; Điều 50; Điều 55 - Luật thương mại;
Điểm a, b, c Khoản 1 - Điều 117; Điều 118; Khoản 1 Điều 119; Điều 157, 274, 275, 385, 398, 401, 429 của Bộ luật dân sự;
Khoản 2 Điều 26 - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án (Tiết a, điểm 1.4, mục 1, II - Phần A - Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết 326);
Tuyên xử:
1. Đình chỉ phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đối với số tiền 48.439.000 đồng dư nợ khởi kiện theo Hợp đồng số 1809/2020/HĐKT, ngày 18/9/2020 - phần việc tại BHXH M, Hòa Bình và phần yêu cầu tính lãi theo hợp đồng.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu Công ty cổ phần X2 thanh toán số tiền dư nợ của 02 Hợp đồng: số 05/2019/HĐKT, ngày 20/02/2019 và Hợp đồng nguyên tắc số 03/2019/HĐNT, ngày 25/3/2019; cụ thể: Buộc Công ty cổ phần X1 phải thanh toán trả cho Công ty cổ phần X số tiền: 49.490.000 đồng (Bốn mươi chín triệu bốn trăm chín mươi nghìn đồng).
Nếu Công ty cổ phần X1 không thực hiện nghĩa vụ thì kể từ ngày Công ty cổ phần X có đơn yêu cầu thi hành án hợp lệ, hàng tháng Công ty cổ phần X1 còn phải chịu một khoản tiền lãi chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 – Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
3. Về án phí sơ thẩm: Công ty cổ phần X1 phải chịu án phí KDTM ST là: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng).
Công ty cổ phần X được trả lại tạm ứng án phí KDTM ST đã nộp: 10.280.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0000012 ngày 16/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Trong trường hợp Quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, nguyên đơn, bị đơn, được quyền kháng cáo để xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo của bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được tính từ ngày Tòa án cấp, tống đạt hợp lệ Bản án.
9
HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA |
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Đinh Lan Hương |
10
11
Bản án số 03/2024/KDTM - ST ngày 16/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH về kiện đòi thanh toán hợp đồng giao khoán và hợp đồng mua bán (tranh chấp kinh doanh thương mại)
- Số bản án: 03/2024/KDTM - ST
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi thanh toán hợp đồng giao khoán và hợp đồng mua bán (Tranh chấp Kinh doanh thương mại)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Kinh doanh thương mại
