TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/DS-ST
Ngày: 16/4/2024
“V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Văn Công Cường.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Xuân Thành;
- Bà Hà Thị Thủy.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Bách - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Thạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 16/4/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 12/2024/TLST-DS ngày 17 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐXXST-DS ngày 19/3/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1983,
Địa chỉ: Tổ dân phố 3, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk;
- Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Phú Q, sinh năm 1988,
Địa chỉ: 160 N, tổ dân phố 1, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D trình bày:
Do có mối quan hệ quen biết nên ngày 04/4/2019 tôi có cho bà Huỳnh Thị Phú Q vay số tiền 25.000.000 đồng (hai mươi năm triệu đồng) với lãi suất thỏa thuận 1%/tháng. Thời hạn vay hai bên thỏa thuận đến ngày 06/8/2021 bà Q trả toàn bộ tiền gốc cho tôi, còn tiền lãi trả theo hàng tháng. Tuy nhiên cho đến nay đã quá thời hạn trả nợ nhưng bà Q vẫn chưa trả cho tôi khoảng tiền nào.
Nay tôi khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Huỳnh Thị Phú Q trả lại cho tôi số tiền nợ gốc đã vay là 25.000.000 đồng (hai mươi năm triệu đồng) và tiền lãi trong hạn là 28 tháng với mức lãi 1%/tháng x 25.000.000 đồng = 7.000.000 đồng; lãi quá hạn tính từ ngày 07/8/2021 đến ngày 16/4/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 32 tháng với mức lãi 1,5%/tháng x 25.000.000 đồng x 32 tháng = 12.000.000 đồng. Tổng số tiền bà Q phải trả cho tôi là 25.000.000 gốc + 7.000.000 đồng tiền lãi trong hạn và 12.000.000 đồng lãi quá hạn = 44.000.000 đồng, ngoài ra tôi không có yêu cầu gì thêm.
Quá trình tham gia tố tụng tại bản tự khai ngày 27/02/2024, bị đơn bà Huỳnh Thị Phú Q trình bày:
Vì có mối quan hệ đồng nghiệp công tác tại Trường TH Đặng Thùy Trâm nên trong quá trình quen biết tôi có kêu gọi chị em trong trường hùn nhau góp vốn làm ăn, giúp đỡ những người khó khăn hơn, sau khoảng thời gian hùn vốn vì bản thân gặp rủi ro trong việc mua bán nên đã dùng số tiền trên làm ăn và bị bể nợ. Trong thời gian từ ngày 10/3/2019 tôi có xin chị Nguyễn Thị Kim D khất nợ và trả dần, ngày 04/4/2019 chị D gặp trao đổi và ép tôi viết giấy nợ và phải trả lãi hàng tháng nên buộc tôi phải viết giấy nợ là 25.000.000 đồng và trả lãi hàng tháng là 375.000 đồng. Vì tin tưởng đồng nghiệp và vì sự am hiểu pháp luật còn hạn chế trong lúc bối rối vì những chuyện rủi ro vừa qua nên tôi đã viết giấy vay tiền với chị D chứ trên thực tế số tiền trên là tiền hàng tháng đóng góp cho nhau chơi huê, hụi chứ không phải tôi vay mượn, cầm tiền, tôi cũng chưa vi phạm nghĩa vị trả nợ đối với chị D và tôi xin nhận nợ số tiền phải trả là 25.000.000 đồng với trách nhiệm nhận nợ và trả nợ dần cho chị D.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk phát biểu:
Về thẩm quyền thụ lý vụ án: Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng Dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Vấn đề thu thập chứng cứ, lấy lời khai, thời hạn chuẩn bị xét xử và chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đã thực hiện đúng theo quy định tại Điều 97, 98, 203, 220 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và cho Viện kiểm sát đúng theo quy định tại Điều 170 đến Điều 175, Điều 178 Bộ luật tố tụng Dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự cơ bản đã thực hiện đúng các quy định Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật tố tụng Dân sự. Tuy nhiên tại phiên tòa lần hai bị đơn tiếp tục vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử (viết là HĐXX) xét xử vắng mặt bị đơn.
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Ý kiến về giải quyết vụ án: Căn cứ giấy vay tiền do nguyên đơn cung cấp thể hiện nội dung: Ngày 04/4/2019 bà Nguyễn Thị Kim D có cho bà Huỳnh Thị Phú Q vay số tiền 25.000.000 với lãi suất thỏa thuận 1%/tháng. Thời hạn vay hai bên thỏa thuận đến ngày 06/8/2021 bà Q trả toàn bộ tiền gốc cho bà D, còn tiền lãi trả theo hàng tháng. Tuy nhiên cho đến nay đã quá thời hạn trả nợ nhưng bà Q vẫn chưa trả cho bà D khoản tiền nào là xâm phạm đến quyền lợi của nguyên đơn, vi phạm theo cam kết về nghĩa vụ trả nợ. Quá trình giải quyết bị đơn đã thừa nhận có vay tiền của nguyên đơn nhưng việc ký vào giấy vay tiền là do nguyên đơn ép buộc mà không có tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nên không có cơ sở xem xét, do đó việc nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải có nghĩa vụ trả số nợ 25.000.000 đồng tiền gốc và tiền lãi trong hạn 1%/tháng, tiền lãi quá hạn 1,5%/tháng là đúng với quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.
Về án phí và tam ứng án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc đã vay và tiền lãi phát sinh nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện L, tỉnh Đắk Lắk nên căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk, do đó Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền.
[2] Về thủ tục tố tụng: Đối với bị đơn bà Huỳnh Thị Phú Q đã được Tòa án cấp, tống đạt, thông báo các văn bản và triệu tập tham gia tố tụng để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình nhưng tại phiên tòa lần hai tiếp tục vắng mặt không có lý do, vi phạm quyền, nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng Dân sự. Do đó căn cứ Điều 227 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự, HĐXX thực hiện việc xét xử vắng mặt bà Q.
[3] Về thời hiệu khởi kiện: Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa các đương sự không yêu cầu Tòa án áp dụng thời hiệu khởi kiện. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 Toà án không áp dụng quy định về thời hiệu khởi kiện để giải quyết vụ án.
[4] Về nội dung vụ án:
[4.1] Đối với số tiền vay 25.000.000 đồng: Theo giấy ghi nội dung vay tiền mà nguyên đơn dùng để làm căn cứ khởi kiện bị đơn và lời khai của các đương sự, HĐXX xác định vào ngày 06/4/2019 giữa nguyên đơn và bị đơn có thỏa thuận nguyên đơn cho bị đơn vay số tiền gốc 25.000.000 đồng, thời hạn vay là 28 tháng với lãi suất là 250.000 đồng/tháng tương đương với 1%/tháng. Nay đã quá thời hạn trả nợ mà bị đơn chưa thanh toán cho nguyên đơn khoản tiền gốc và tiền lãi nào là xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn vi phạm sự thỏa thuận về việc vay tài sản giữa các bên, vi phạm nguyên tắc thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Quá trình tham gia tố tụng bị đơn thừa nhận và nhận nợ đối với số tiền vay 25.000.000 đồng nhưng cho rằng đây là tiền chơi huê, hụi và giấy vay tiền là do nguyên đơn ép buộc bị đơn viết và ký nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì để chứng minh nên không có cơ sở xem xét. Căn cứ vào các điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, HĐXX xét thấy việc vay tiền giữa các bên là phù hợp với quy định của pháp luật nên buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền gốc đã vay là 25.000.000 đồng.
[4.2] Đối với tiền lãi: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi trong hạn với mức là 1%/tháng tính từ ngày vay 06/4/2019 đến ngày trả nợ 06/8/2021 là 28 tháng, xét thấy đây là hợp đồng vay có lãi nên xác định yêu cầu trả lãi suất của nguyên đơn không trái với quy định của pháp luật tại Điều 468 Bộ luật Dân sự là 1,66%/tháng nên được chấp nhận (25.000.000 đồng x 1% x 28 tháng = 7.000.000 đồng). Về tiền lãi quá hạn nguyên đơn cũng chỉ yêu cầu với mức lãi suất 1,5%/tháng tính từ ngày bị đơn vi phạm nghĩa vụ trả nợ 7/8/2021 đến ngày Tòa án xét xử vụ án, ngày 16/4/2024 là 32 tháng (làm tròn) xét thấy phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận (25.000.000 đồng x 1,5% x 32 tháng = 12.000.000 đồng). Như vậy tiền lãi buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn là lãi trong hạn 7.000.000 đồng + lãi quá hạn 12.000.000 đồng = 19.000.000 đồng.
[4.3] Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bị đơn còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[5] Về tiền án phí và tạm ứng án phí: Áp khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết, xác định tiền án phí mà đương sự phải nộp như sau:
[5.1] Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 5% đối với nghĩa vụ phải trả số tiền gốc và tiền lãi cho nguyên đơn là 25.000.000 đồng + 19.000.000 đồng = 44.000.000 đồng x 5% = 2.200.000 đồng.
[5.2] Nguyên đơn được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Đắk Lắk.
[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 203, 220, 227, 228, 235, 266, 271 và 273 Bộ luật tố tụng Dân sự;
Căn cứ các điều 157, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự 2015; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.
Tuyên xử:
- Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D.
- - Về nghĩa vụ trả nợ: Buộc bà Huỳnh Thị Phú Q có nghĩa vụ trả cho bà Nguyễn Thị Kim D số tiền nợ tổng cộng là 44.000.000 đồng (bốn mươi bốn triệu đồng), trong đó tiền nợ gốc 25.000.000 đồng (hai mươi năm triệu đồng), tiền lãi 19.000.000 đồng (mười chín triệu đồng)
- - Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về tiền án phí và tạm ứng án phí:
- - Về tiền án phí: Buộc bị đơn bà Huỳnh Thị Phú Q phải nộp 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- - Về tiền tạm ứng án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim D được nhận lại 1.072.000 đồng (một triệu không trăm bảy mươi hai nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện L, tỉnh Đắk Lắk theo biên lai thu số AA/2022/0003854 ngày 17 tháng 01 năm 2024.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật THADS thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS./.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Văn Công Cường |
Bản án số 03/2024/DS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 03/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà Q có nghĩa vụ trả cho bà D tổng số tiền 44.000.000 đồng
