TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/KDTM-PT Ngày 11 tháng 7 năm 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Anh.
Các Thẩm phán: Bà Điêu Thị Bích Lượt, ông Nguyễn Hán Hưởng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Đặng Nguyễn Hải Ninh – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 14/6/2024 và 11/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 10/2023/TLPT-KDTM ngày 18/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2023/KDTM-ST ngày 22/9/2023 của Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 01/2024/QĐ-PT ngày 15/3/2024 và các quyết định hoãn phiên tòa, tạm ngừng phiên tòa giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần N1
- Địa chỉ trụ sở: Số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Nghiêm Xuân T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Văn Tiến T1 – Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh P.
- Đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Ngọc T2 – Chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP N1 – Chi nhánh P;
- - Bị đơn: Công ty cổ phần T5
- Địa chỉ: Số nhà C, đường H, khu D, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Anh T3 – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
- Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Cẩm T4 – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị;
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Lê Văn C, Luật sư Công ty L, Đoàn luật sư tỉnh P; Địa chỉ: Số nhà B, đại lộ H, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ;
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Công ty cổ phần T5
- Địa chỉ: Ô, TT Công ty B, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội.
- Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đại N – Chức vụ: Giám đốc;
- + Ông Trần Cẩm T4, sinh năm 1975
- Địa chỉ: Số nhà C, đường H, khu D, phường V, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.
- - Người kháng cáo: Công ty cổ phần T5 – Bị đơn.
(Ông T2, ông T4 có mặt; các đương sự khác vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu bổ sung, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đại diện nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần N1 (gọi tắt là Ngân hàng) trình bày:
Ngân hàng có cho Công ty cổ phần T5 và Đấu giá DATC phía Bắc tại Phú Thọ (đã đổi tên thành Công ty cổ phần T5 theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp số 94/2018/CNDN ngày 18/01/2018 của Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh P) (gọi tắt là Công ty) vay tiền theo 02 khoản vay như sau:
- Hợp đồng tín dụng thứ nhất: (khoản vay trung hạn)
- Ngày 27/04/2016, Công ty cổ phần T5 và Đấu giá DATC phía Bắc tại Phú Thọ và Ngân hàng đã ký Hợp đồng tín dụng theo dự án đầu tư số: 16/DN-ĐB/ĐTDA225 ngày 27/04/2016 tại Ngân hàng TMCP N1 - CN Phú Thọ.
- - Giá trị khoản vay: 1.500.000.000 VNĐ (Một tỷ năm trăm triệu đồng).
- - Mục đích vay vốn: Đầu tư xây dựng Văn phòng làm việc và nhà ở.
- - Thời hạn cho vay: 60 tháng kể từ ngày 27/04/2016.
- - Thời gian ân hạn: 09 tháng.
- - Phân kỳ trả nợ như sau:
| Kỳ | Ngày trả | Số tiền (VND) | Kỳ | Ngày trả | Số tiền (VND) |
|---|---|---|---|---|---|
| 1 | 27/07/2017 | 165.000.000 | 6 | 27/01/2020 | 165.000.000 |
| 2 | 27/01/2018 | 165.000.000 | 7 | 27/07/2020 | 165.000.000 |
| 3 | 27/07/2018 | 165.000.000 | 8 | 27/01/2021 | 165.000.000 |
| 4 | 27/01/2019 | 165.000.000 | 9 | 27/04/2021 | 180.000.000 |
| 5 | 27/07/2019 | 165.000.000 |
Lãi suất cho vay:
- + Lãi suất cho vay trong hạn: cố định 9,2%/năm trong 2 năm đầu tiên kể từ ngày giải ngân đầu tiên, sau thời gian cố định sẽ theo thông báo của Ngân hàng tại thời điểm đó, thay đổi 03 tháng/lần. Thời gian chuyển lãi quá hạn: 02/9/2018.
- + Lãi suất áp dụng đối với khoản nợ gốc quá hạn: 140% lãi suất cho vay trong hạn. Thời gian tính lãi phạt chậm trả gốc là từ ngày 28/01/2019 đến ngày 12/04/2019 với số tiền gốc quá hạn là 165.000.000đồng.
Số nợ gốc đã trả:
| STT | Ngày trả nợ | Số tiền (VND) |
|---|---|---|
| 1 | 23/12/2016 | 165.000.000 |
| 2 | 02/02/2018 | 165.000.000 |
| 3 | 06/08/2018 | 165.000.000 |
| 4 | 12/04/2019 | 1.005.000.000 |
| Tổng | 1.500.000.000 | |
Như vậy dư nợ của khoản vay thứ nhất này của Công ty tính đến hết ngày 22/09/2023: số tiền gốc là: 0 đồng; Dư nợ lãi trong hạn là: 73.972.459đồng; Lãi phạt quá hạn là: 1.397.367đồng.
- Hợp đồng tín dụng thứ hai (khoản vay ngắn hạn)
- Ngày 12/07/2017, Công ty cổ phần T5 và Đấu giá DATC phía Bắc tại Phú Thọ và Ngân hàng đã ký Hợp đồng cho vay theo hạn mức số: 17/DN-DB/NHHM 483 ngày 12/07/2017 và các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung ngày 18/8/2017, ngày 16/01/2018, ngày 19/01/2019 và ngày 05/7/2018 tại Ngân hàng thương mại cổ phần N1 –Chi nhánh P:
- - Giá trị hạn mức được cấp là 17.000.000.000 VNĐ (Mười bảy tỷ đồng)
- - Thời hạn duy trì hạn mức: 12 tháng
- - Thời gian vay: 09 tháng/lần nhận nợ
- - Mục đích vay vốn: Bổ sung vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh
- - Lãi suất cho vay:
- + Lãi suất cho vay trong hạn: được xác định tại thời điểm giải ngân vốn cho vay theo thông báo lãi suất cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ và được ghi trên từng Giấy nhận nợ. Thời gian chuyển nợ lãi quá hạn bắt đầu từ ngày 01/8/2018.
- + Lãi suất áp dụng đối với dư nợ gốc bị quá hạn: 140% lãi suất cho vay trong hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn cho đến khi khách hàng trả hết Dư nợ gốc bị quá hạn. Thời gian tính lãi phạt chậm trả gốc bắt đầu từ ngày 17/10/2018.
Như vậy dư nợ của khoản vay thứ hai này của Công ty tính đến hết ngày 22/09/2023: Số tiền gốc là 5.929.048.081đ (Năm tỷ, chín trăm hai mươi chín triệu, không trăm bốn mươi tám nghìn, không trăm tám mươi mốt đồng); nợ lãi trong hạn là 3.801.615.560₫ (Ba tỷ tám trăm linh một triệu sáu trăm mười lăm nghìn năm trăm sáu mươi đồng); Lãi phạt chậm trả gốc: 1.170.383.485đ (Một tỷ một trăm bảy mươi triệu ba trăm tám mươi ba nghìn bốn trăm tám mươi lăm đồng).
Để đảm bảo cho các khoản vay trên Công ty, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty Cổ phần T5 và ông Trần Cẩm T4 thế chấp các tài sản như sau:
- Tài sản 1: Quyền sở hữu 01 xe ô tô con TOYOTA LANDCRUISER VX, màu đen, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 427304 do Công an thành phố H cấp ngày 04/01/2018, tên chủ sở hữu Công ty Cổ phần T5 theo Hợp đồng thế chấp phương tiện giao thông đường bộ số: 18/PTVT/41 ký ngày 16/01/2018 giữa Ngân hàng và Công ty Cổ phần T5 và các hợp đồng sửa đổi bổ sung kèm theo.
- Tài sản 2: Quyền sở hữu căn hộ chung cư theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CE 086357 do Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố H cấp ngày 17/08/2016 tên chủ sở hữu ông Trần Cẩm T4. Theo hợp đồng thế chấp số: 16/BĐS/295.2 ký ngày 19/09/2016 giữa Ngân hàng và ông Trần Cẩm T4 và các hợp đồng sửa đổi bổ sung kèm theo.
- Tài sản 3: Quyền sở hữu 01 xe ô tô Toyota Fortuner theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001283 do Công an tỉnh P cấp ngày 22/08/2014, tên chủ sở hữu ông Trần Cẩm T4; Theo Hợp đồng thế chấp phương tiện giao thông đường bộ số: 17/PTVT/15 ký ngày 05/01/2017 giữa Ngân hàng và ông Trần Cẩm T4 và các hợp đồng sửa đổi bổ sung kèm theo.
Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty trình bày gặp khó khăn nên đã để nợ quá hạn từ tháng 8/2018, Ngân hàng thương lượng tạo điều kiện cho Công ty, sau đó Công ty có trả 3.000.000.000đ (Ba tỷ đồng) vào ngày 20/12/2019, Công ty nộp tiền thanh toán nợ gốc; Ngày 13/01/2020, Công ty nộp tiền thanh toán nợ gốc 700.000.000₫ (Bảy trăm triệu đồng); Ngày 05/07/2021, Công ty nộp tiền thanh toán nợ gốc 60.000.000₫ (Sáu mươi triệu đồng); Ngày 11/08/2021, Công ty nộp tiền thanh toán nợ gốc 1.000.000.000đ (Một tỷ đồng), sau đó Công ty không có động thái trả nợ nữa. Ngân hàng đã nhiều lần gửi thông báo nợ quá hạn và yêu cầu Công ty trả nợ, nhiên đến nay Công ty vẫn không thanh toán hết khoản nợ gốc, nợ lãi cho Ngân hàng. Ngân hàng đã thông báo và làm việc với Công ty nhiều lần về việc vi phạm trên, nhưng Công ty không hợp tác. Đến ngày 31/03/2021 Ngân hàng đã nộp đơn khởi kiện bị đơn ra Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì và đề nghị thực hiện thủ tục hòa giải viên, tuy nhiên đại diện Công ty có đến hai bên cũng đã thỏa thuận về số nợ gốc, số nợ lãi về thời hạn trả nợ, nhưng thiếu người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là đại diện Công ty Cổ phần T5 nên không ra quyết định được, nhưng Ngân hàng vẫn cho Công ty T6 để trả nợ theo thỏa thuận của hai bên, nhưng Công ty cũng không thực hiện.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty Cổ phần T5 phải hoàn trả nợ vay cho Ngân hàng toàn bộ số tiền gốc còn nợ cùng số tiền lãi quá hạn, phí theo 02 Hợp đồng tín dụng nêu trên tạm tính đến hết ngày 22/09/2023 là: 10.976.416.952đồng, trong đó: nợ gốc: 5.929.048.081đồng; nợ lãi trong hạn: 3.875.588.019đồng, nợ lãi phạt chậm trả gốc: 1.171.780.852đồng và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả nợ xong và xử lý các tài sản bảo đảm theo quy định của pháp luật nếu Công ty không trả nợ. Về chi phí tố tụng đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện Công ty Cổ phần T5 và cũng là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Cẩm T4 trình bày tại bản tự khai ngày 07/6/2021 trong quá trình hòa giải, đối thoại theo Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án và Biên bản hòa giải trong quá trình tố tụng:
Ông xác định Công ty Cổ phần T5 có ký 02 Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng thương mại cổ phần N1. Toàn bộ số tiền vay đó mục đích để phục vụ các hoạt động kinh doanh của Công ty; Để đảm bảo cho các khoản vay trên Công ty Cổ phần T5, Công ty Cổ phần T5 và ông đã thế chấp các tài sản như Ngân hàng đã nêu trên, đến nay Công ty nợ gốc và lãi nêu trên là đúng, nhưng do Công ty làm ăn khó khăn nên chưa có tiền để trả cho Ngân hàng.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần T5 do ông Nguyễn Đại N, sinh năm 1994 là đại diện theo pháp luật Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã tiến hành triệu tập nhiều lần Công ty Cổ phần T5. Tại biên bản xác minh Chi cục Thuế quận C, thành phố Hà Nội thì được biết Công ty cổ phần T5 đã không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký là Ô 51, TT Công ty bao bì XNK 27/7/, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Chi cục thuế đã ra Thông báo về việc người nộp thuế không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký vào ngày 10/9/2018. Để đảm bảo quyền của Công ty Cổ phần T5, Tòa án cũng đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng theo quy định, nhưng phía Công ty Cổ phần T5 và đại diện Công ty cũng không có phản hồi gì. Ngày 18/9/2023 Tòa án đã xác minh tại tại Công an phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ xác định được ông Nguyễn Đại N đại diện Công ty đang cư trú tại tổ C, khu N, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Tòa án đã đến nơi ở của ông N giao văn bản tố tụng ông N đã nhận nhưng từ chối ký vào biên bản giao nhận.
Về chi phí tố tụng: Ngân hàng đã nộp số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) chi phí thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng gồm B1 và Đ.
Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số: 03/2023/KDTM-ST ngày 22/9/2023, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì đã quyết định:
Căn cứ vào các Điều: 463, 464,465, 466,467, 468, 317, 318, 320, 321, 322, 323 của Bộ luật Dân sự; Các Điều 90,91,93,94,95 của Luật các tổ chức tín dụng; Khoản 1 Điều 147, Điều 180, khoản 2 Điều 227của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 24 và khoản 2 Điều 26 của Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần N1.
Buộc Công ty Cổ phần T5 phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần N1 số tiền gốc và lãi tính đến hết ngày 22/9/2023 là: 10.976.416.952₫ (Mười tỷ chín trăm bảy mươi sáu triệu bốn trăm mười sáu nghìn chín trăm năm mươi hai đồng), cụ thể:
- - Nợ của Hợp đồng tín dụng theo dự án đầu tư số: 16/DN-ĐB/ĐTDA225 ngày 27/04/2016 tính đến hết ngày 22/09/2023 là 75.369.826đồng, trong đó: dư nợ gốc là 0 đồng, nợ lãi trong hạn là 73.972.459đồng; nợ lãi phạt quá hạn là 1.397.367đồng.
- - Nợ của Hợp đồng cho vay theo hạn mức số: 17/DN-DB/NHHM 483 ngày 12/07/2017 và các Hợp đồng sửa đổi, bổ sung ngày 18/8/2017, ngày 16/01/2018, ngày 19/01/2019 và ngày 05/7/2018 tính đến hết ngày 22/09/2023 là 10.901.047.126đồng, trong đó: dư nợ gốc là 5.929.048.081đồng, nợ lãi trong hạn là: 3.801.615.560đồng; nợ lãi phạt quá hạn là: 1.170.383.485đồng.
Trường hợp Công ty không thực hiện nghĩa vụ hoặc thực hiện nghĩa vụ trả nợ không đầy đủ của một kỳ trả nợ, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp của ông Trần Cẩm T4 và Công ty Cổ phần T5 để thu hồi khoản nợ. Cụ thể theo các Hợp đồng thế chấp sau:
- - Hợp đồng thế chấp phương tiện giao thông đường bộ số: 18/PTVT/41 ký ngày 16/01/2018 giữa Ngân hàng và Công ty Cổ phần T5 và các hợp đồng sửa đổi bổ sung kèm theo, tài sản thế chấp là quyền sở hữu 01 xe ô tô con TOYOTA LANDCRUISER VX, màu đen, theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 427304 do Công an thành phố H cấp ngày 04/01/2018, tên chủ sở hữu Công ty Cổ phần T5 đã được Văn phòng C1 chứng nhận ngày 16/01/2018, số công chứng: 49/01.2018, Q số 02.TP/CC-SCC/HĐGD. Đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm của Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Hà Nội tài sản là 01 xe ô tô biển kiểm soát 30F-035.62, số loại TOYOTA LANDCRUISER VX.
- - Hợp đồng thế chấp nhà ở số: 16/BĐS/295.2 ký ngày 19/09/2016 giữa Ngân hàng và ông Trần Cẩm T4 và các hợp đồng sửa đổi bổ sung kèm theo, tài sản thế chấp là quyền sở hữu căn hộ chung cư theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CE 086357 do Sở tài nguyên và môi trường thành phố H cấp ngày 17/08/2016 tên chủ sở hữu ông Trần Cẩm T4, được Văn phòng C2, huyện P, thành phố Hà Nội chứng nhận, số công chứng: 891/2016/HĐTC, Quyển số 01-TP/CC-SCC/HĐGD, giao dịch thế chấp đã được đăng ký tại Văn phòng Đ1 ngày 19/9/2016.
- - Hợp đồng thế chấp phương tiện giao thông đường bộ số: 17/PTVT/15 ký ngày 05/01/2017 giữa Ngân hàng và ông Trần Cẩm T4 và các hợp đồng sửa đổi bổ sung kèm theo là quyền sở hữu 01 xe ô tô Toyota Fortuner theo Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô số 001283 do Công an tỉnh P cấp ngày 22/08/2014, tên chủ sở hữu ông Trần Cẩm T4 được Văn phòng C3 chứng nhận ngày 05/01/2017, số công chứng:32/2017/HĐTD-CN, Quyển số: 08TP/CC-SCC/HĐGD; Đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo Giấy chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm của Trung tâm đăng ký giao dịch tài sản tại Hà Nội tài sản là 01 xe ô tô biển kiểm soát 19A-07268, số loại Fortuner.
Trường hợp Công ty hoàn thành các nghĩa vụ tài chính trước thời hạn, thì Ngân hàng có nghĩa vụ giải chấp và trả lại các giấy tờ liên quan cho bên thế chấp.
Kể từ ngày 23/9/2023, Công ty còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi phát sinh của số tiền còn phải thi hành án, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết cho đến khi thanh toán xong khoản vay này. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 25 tháng 10 năm 2023 và tại phiên tòa phúc thẩm đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần T5 kháng cáo với nội dung: Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm vì các lý do:
- Thứ nhất: Khi ký kết hợp đồng tín dụng, vốn điều lệ của Công ty C4 có 1.800.000.000 đồng mà Ngân hàng ký hợp đồng cho công ty V 8 tỷ đồng là vi phạm quy định cho vay của Ngân hàng.
- Thứ hai: Về phương án vay vốn: Phương án vay vốn theo quy định phải là do Công ty lập nhưng thực tế lại là do Ngân hàng S cho Công ty, Công ty chỉ ký vào các văn bản theo yêu cầu của Ngân hàng. Do vậy, là không đúng quy định của pháp luật.
- Thứ ba: Khi cho vay và thế chấp tài sản, Ngân hàng không tiến hành thẩm định giá tài sản thế chấp theo quy định.
- Thứ tư: Sau khi giải ngân, Ngân hàng không tiến hành việc kiểm tra việc Công ty sử dụng nguồn vốn đã được giải ngân có đúng mục đích không.
- Thứ năm: Thời điểm xảy ra dịch bệnh Covid-19, Công ty gặp khó khăn trong việc kinh doanh nên không thể thanh toán được khoản nợ, các cơ quan có thẩm quyền đều có văn bản hướng dẫn về việc giãn nợ, chậm thanh toán nợ nhưng Ngân hàng không thực hiện cơ cấu giãn nợ cho Công ty.
- Thứ sáu: Khi Công ty trả được một số khoản vay thì Ngân hàng không giải chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay mà vẫn giữ lại để thế chấp cho toàn bộ các khoản vay còn lại. Tòa án cấp sơ thẩm chưa xác định việc Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty B2 mà chỉ tuyên luôn về phần gốc và lãi Công ty còn nợ.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn không nhất trí với nội dung kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của Công ty cổ phần T5 trong hạn luật định, đơn hợp lệ, nội dung kháng cáo trong phạm vi của bản án sơ thẩ, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Đối với việc vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Công ty cổ phần T5:
Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP N1 đã cung cấp địa chỉ của Công ty cổ phần T5 theo đúng Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Ô 51, TT Công ty B, phường Y, quận C, thành phố Hà Nội. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xác minh về việc Công ty cổ phần T5 đã không còn hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký nêu trên. Như vậy, Công ty cổ phần T5 thay đổi trụ sở nhưng không công bố công khai theo quy định tại khoản 1 Điều 79 Bộ luật dân sự năm 2015 nên được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung theo quy định tại điểm b Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định. Đối với đại diện theo pháp luật của Công ty cổ phần T5 là ông Nguyễn Đại N, sinh năm 1994, đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ C, khu N, phường G, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành tống đạt văn bản tố tụng cho ông N tại nơi cư trú, ông N đã nhận nhưng từ chối ký vào biên bản giao nhận. Trong giai đoạn phúc thẩm, Tòa án đã tiến hành xác minh, xác định ông N vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ trên, vẫn có mặt tại địa phương nên Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật. Ông N đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt ông Nghĩa 1 đúng theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung kháng cáo:
Thứ nhất: Công ty cổ phần T5 kháng cáo cho rằng vốn điều lệ của Công ty 1.800.000.000 đồng mà Ngân hàng ký hợp đồng cho Công ty vay 8 tỷ đồng là vi phạm quy định cho vay của Ngân hàng. Tại phiên toà phúc thẩm phía Ngân hàng đã trả lời Công ty cổ phần T5, không có quy định nào của pháp luật quy định điều lệ của Công ty chỉ có 1.800.000.000 đồng mà Ngân hàng ký hợp đồng cho vay Công ty vay 8 tỷ đồng là vi phạm pháp luật. Việc ngân hàng cho Công ty vay vốn dựa trên cơ sở phương án vay vốn mà Công ty đã gửi kèm theo hồ sơ vay vốn. Về phía Công ty cổ phần T5, không đưa ra được căn cứ pháp lý chứng minh cho nội dung kháng cáo của mình là có căn cứ, nên nội dung kháng cáo này của bị đơn không được chấp nhận.
Thứ hai: Công ty cổ phần T5 kháng cáo về việc lập hồ sơ phương án vay vốn: Công ty cho rằng phương án đề nghị vay vốn không phải do công ty lập, thực tế là do Ngân hàng S cho Công ty, Công ty chỉ ký vào các văn bản theo yêu cầu của Ngân hàng. Việc Ngân hàng S vay vốn cho Công ty là không đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại phiên toà phúc thẩm, Công ty không đưa ra được căn cứ pháp lý cho rằng phương án đề nghị vay vốn của công ty là do Ngân hàng S. Chữ ký trong giấy đề nghị vay vốn kèm theo tóm tắt phương án vay vốn đại diện cho Công ty cổ phần T5 do ông Trần Cẩm T4 tại phiên tòa xác định đó là chữ ký của ông T4. Do vậy, nội dung kháng cáo của Công ty cổ phần T5 không có căn cứ không được chấp nhận.
Thứ ba: Khi cho vay và thế chấp tài sản, Ngân hàng không hề tiến hành thẩm định giá tài sản thế chấp theo quy định. Trong hồ sơ vụ án ngân hàng đã cung cấp toàn bộ hồ sơ thế chấp, trong đó có đầy đủ biên bản định giá các tài sản thế chấp. Như vậy, nội dung kháng cáo này của Công ty cổ phần T5 không được chấp nhận.
Thứ tư: Sau khi giải ngân, Ngân hàng không tiến hành việc kiểm tra việc Công ty sử dụng nguồn vốn đã được giải ngân có đúng mục đích không. Tại phiên toà nội dung kháng cáo này đã được phía ngân hàng trình bày rất rõ, sau khi giải ngân Ngân hàng vẫn thường xuyên kiểm tra việc sử dụng vốn của doanh nghiệp.
Thứ năm: Thời điểm xảy ra dịch bệnh C -19, Công ty gặp khó khăn trong việc kinh doanh nên không thể thanh toán được khoản nợ, các cơ quan có thẩm quyền đều có văn bản hướng dẫn về việc giãn nợ, chậm thanh toán nợ nhưng Ngân hàng không thực hiện cơ cấu giãn nợ cho Công ty. Tại phiên toà phúc thẩm phía Ngân hàng cũng đã có ý kiến trả lời ông T4 lý do không cơ cấu giãn nợ vì Công ty cổ phần T5 là doanh nghiệp thuộc nhóm nợ xấu nên theo quy định của Ngân hàng, công ty DATC không thuộc trường hợp được cơ cấu giãn nợ. Trên thực tế Ngân hàng cũng đã tạo điều kiện cho công ty T6 để trả nợ theo thỏa thuận của hai bên, nhưng Công ty cũng không thực hiện theo như thoả thuận.
Thứ sáu: Công ty cổ phần T5 kháng cáo nội dung khi Công ty trả được một số khoản vay thì Ngân hàng không giải chấp tài sản bảo đảm cho khoản vay mà vẫn giữ lại để thế chấp cho toàn bộ các khoản vay còn lại. Trong các hợp đồng thế chấp tài sản đều có điều khoản trong đó quy định tài sản thế chấp đảm bảo cho các khoản vay của công ty. Do vậy, các tài sản thế chấp chỉ được giải chấp khi Công ty cổ phần T5 trả hết các khoản nợ cho Ngân hàng. Do vậy, việc Ngân hàng không giải chấp khi Công ty cổ phần T5 chưa trả hết các khoản nợ là thực hiện theo đúng điều khoản trong hợp đồng thế chấp. Nội dung kháng cáo này của Công ty cổ phần T5 không có căn cứ nên cũng không được chấp nhận.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Cẩm T4 đại diện cho Công ty cổ phần T5 trình bày, Công ty có văn bản đề nghị Ngân hàng cung cấp các tài liệu cho công ty, tuy nhiên phía công ty không nhận được bất kỳ tài liệu nào do ngân hàng cung cấp. Tại phiên tòa, Ngân hàng đã trình bày toàn bộ các tài liệu liên quan đến hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, bản sao kê khoản nợ, quá trình trả gốc, lãi giữa Ngân hàng TMCP N1 với Công ty cổ phần T5 và các tài liệu khác liên quan đã được ngân hàng giao nộp đầy đủ cho Tòa án. Bản thân ông Trần Cẩm T4 đại diện cho Công ty cổ phần T5 tham gia tố tụng đã được Tòa án công khai toàn bộ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Việc ông T4 trình bày không được biết các tài liệu, chứng cứ đó là không có căn cứ.
Đối với các khoản tiền Công ty cổ phần T5 còn nợ Ngân hàng TMCP N1 và các hợp đồng thế chấp đảm bảo cho khoản vay của Công ty. Quá trình giải quyết tại cấp sơ thẩm, bản thân ông Trần Cẩm T4 - với tư cách là đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T5 và là người có tài sản thế chấp bảo đảm cho khoản vay của DATC cũng thừa nhận toàn bộ khoản tiền còn nợ Ngân hàng và trình bày việc chưa thanh toán được nợ là do Công ty đang gặp khó khăn trong hoạt động kinh doanh khoản tiền còn nợ Ngân hàng và trình bày việc chưa thanh toán được nợ là do Công ty đồng ý trả nợ cho Ngân hàng và đồng ý để Ngân hàng phát mại tài sản bảo đảm của cá nhân ông để trả nợ thay cho DATC.
Từ những phân tích, nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, các nội dung kháng cáo của Công ty cổ phần T5 không có căn cứ nên kháng cáo không được chấp nhận. Do đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP N1, buộc Công ty cổ phần T5 phải trả cho Ngân hàng số tiền gốc và lãi còn nợ tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm và xử lý các tài sản bảo đảm khi Công ty T5 không trả được khoản nợ cho Ngân hàng là phù hợp, đúng quy định của pháp luật.
[3] Về án phí: Kháng cáo không được chấp nhận nên Công ty cổ phần T5 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
Không chấp nhận kháng cáo của Công ty cổ phần T5.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 03/2023/KDTM-ST ngày 22/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Công ty cổ phần T5 phải chịu 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tiền án phí phúc thẩm, xác nhận Công ty cổ phần T5 đã nộp 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) tại Biên lai số 0005630 ngày 31/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Anh |
Bản án số 03/2024/KDTM-PT ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 03/2024/KDTM-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng thương mại cổ phần N1 - Công ty cổ phần T5 - Tranh chấp hợp đồng tín dụng
