Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS-ST

Ngày: 11/7/2024

V/v: “Tranh chấp quyền sử

dụng đất và yêu cầu hủy Giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất

và yêu cầu di dời tài sản trên đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hường

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lương Kim Phong

2. Bà Đặng Thị Xuân

Thư ký phiên tòa: Bà Lường Thị Hiền – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ánh Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2023/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2023 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản trên đất”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04 /2024/QĐXXST-DS ngày 05 tháng 6 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 03/QĐST-DS ngày 27/6/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lý Văn T – Sinh năm: 1950; địa chỉ: Tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Nông Thị N – Sinh năm: 1963; địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Có mặt
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Địa chỉ: Tổ N, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn T1 – Chức vụ: Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện N, tỉnh Bắc Kạn (Văn bản ủy quyền số 03/GUQ-UBND ngày 27/5/2024), vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

    1. Chị Nông Thị N1, sinh năm 1984, địa chỉ: Thôn N, xã L, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
    2. Anh Nông Văn M, sinh năm 1987, địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, có mặt.
    3. Chị Nông Thị T2, sinh năm 1989; địa chỉ: Tổ D, phường H, thành phố B, tỉnh Bắc Kạn, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

4. Người làm chứng:

  1. Ông Nông Văn T3; sinh năm 1977, vắng mặt.
  2. Bùi Thị H; sinh năm 1962, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
  3. Ngô Thị M1; sinh năm 1949, có mặt.
  4. Ông Nông Văn Đ, vắng mặt.
  5. Ông Nông Văn T4, vắng mặt.
  6. Anh Lý Quốc T5; sinh năm 1990, có mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn

  1. Ông Hứa Xuân T6; sinh năm 1966, vắng mặt.
  2. Ông Hứa Văn T7, vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Thôn T, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn

NỘI DUNG VỤ ÁN

1. Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lý Văn T trình bày: Thửa đất hiện đang tranh chấp là một phần của thửa đất số 81, tờ bản đồ số 1 thuộc thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Thửa đất có tứ cận như sau: Một bên giáp thửa 77 tờ bản đồ số 1 đất lâm nghiệp của ông ; một bên giáp đất trước đây là của bà Bùi Thị H, tuy nhiên năm 2014 xảy ra tranh chấp với bà N, Tòa án nhân dân huyện Na Rì giải quyết và đã quyết định phần đất này quyền sử dụng của bà N.

Về nguồn gốc thửa đất hiện đang tranh chấp năm 1964 bố mẹ ông khai phá để trồng lúa nương được 3 năm tiếp tục trồng lúa mỗ được 03 năm sau đó trồng ngô, sắn đến khi đất cằn bố mẹ ông lấy cây vàu đắng về trồng, sau khi bố mẹ ông chết, anh em trong gia đình có họp và thống nhất chia cho ông phần đất hiện nay đang có tranh chấp. Ông đã quản lý đất được chia từ năm 1988, không trồng cây gì trên đất tranh chấp mà chỉ quản lý, trông nom để cây rừng phát triển mọc tự nhiên, hàng năm ông vẫn đến thửa đất tranh chấp này khoảng 2,3 lần để phát dây leo và thăm đồi. Năm 2014 giữa ông và bà Bùi Thị H phát sinh tranh chấp thì khi đó ông mới biết diện tích đất của ông đã nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) của bà N. Vì vậy, năm 2022 ông đã làm đơn lên xã yêu cầu giải quyết tranh chấp nhưng không thành nên ông

đã gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết. Nay ông yêu cầu Tòa án giải quyết các nội dung sau:

  • Yêu cầu bị đơn bà Nông Thị N trả lại diện tích đất tranh chấp là 4352,7m² thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 1, nay là tờ bản đồ số 70 ( theo Mảnh trích đo địa chính kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B đo vẽ)
  • Yêu cầu bà Nông Thị N di rời, cắt, chặt, nhổ các cây mỡ do bà N trồng trên các diện tích 186m² và 2.292,1m² đất nằm trong thửa đất số 81, tờ bản đồ số 1 (nay là TBĐ số 70) theo Mảnh trích đo địa chính kèm theo Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh B đo vẽ.
  • Yêu cầu hủy GCNQSD đất số AG 887589 ngày 01/7/2009 của UBND huyện N, tỉnh Bắc Kạn đối với diện tích 4352,7m² đất tranh chấp thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 1, địa chỉ thửa đất: Thôn N, xã L (nay là xã S), huyện N, tỉnh Bắc Kạn, đã được cấp GCNQSDĐ cho bà Nông Thị N;
  • Công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất tranh chấp cho ông Lý Văn T.
  • Rút yêu cầu khởi kiện đối với diện tích đất 440,5m² nằm trong thửa đất số 77, tờ bản đồ số 1 (nay là TBĐ số 70) mang tên ông Lý Văn T và bà Chu Thị L.

2. Theo bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Nông Thị N trình bày: Thửa đất tranh chấp trước đây ông nội bà là Nông Văn C, bố đẻ bà là Nông Văn M2 và chú ruột là Nông Văn L1 là những người đầu tiên khai phá để trồng lúa nương sau đó trồng sắn được vài năm thì bỏ. Đến năm 1980 bà lại lên phát để trồng lúa nương một phần và một phần trồng sắn được khoảng 4-5 năm đất bạc màu lại thôi để đất nghỉ.

Năm 1995, thôn N triển khai việc giao đất, giao rừng cho các hộ trong thôn, khi đó bà cùng các hộ giáp ranh ông Nông Văn T3, bà Ngô Thị M1, ông Đàm Văn E cùng tham gia quá trình đo đạc, xác định mốc giới, khi đo có phát tuyến, các hộ giáp ranh xác định đúng ranh giới và đo bằng thước dây, sau đó gia đình bà được UBND huyện N, tỉnh Bắc Thái (nay là Bắc Kạn) cấp sổ bìa xanh đứng tên chồng bà là ông Lộc Văn C1. Quá trình sử dụng đất do bà T1 (em dâu ông T) thuộc diện gia đình khó khăn thường xuyên lên khu vực đất tranh chấp để chặt cây lấy củi nên bà đã cắt cho bà T1 khoảng 0,6 ha chính là thửa số 77 hiện nay ông T được cấp GCNQSDĐ năm 2015.

Năm 2008 Nhà nước lại có chủ trương cấp đổi sổ bìa xanh sang sổ bìa đỏ (GCNQSDĐ), trước khi cấp đổi sổ có tiến hành xác định ranh giới giữa các thửa đất. Năm 2009 gia đình bà được cấp GCNQSDĐ thửa số 81, tờ bản đồ số 1 diện tích 29751m² thuộc thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Năm 2010 bà lại tiếp tục phát để trồng cây mỡ, đến năm 2013 trồng tiếp theo dự án có thiết kế và được Nhà nước hỗ trợ cây giống và hỗ trợ tiền một năm có nghiệm thu và sau đó các năm 2014 trồng được 0,5 ha, năm 2015 trồng

được 0,5 ha đều là tự trồng không có thiết kế. Hiện nay trên đất vẫn còn các cây mỡ do bà trồng.

Về quá trình quản lý, sử dụng đất: Trước thời điểm 17/02/2022 không ai có ý kiến hay đến tranh chấp đất với gia đình bà. Thời điểm năm 2014 khi bà và ông T xảy ra tranh chấp với bà H lúc đó bà đã trồng cây mỡ, nhưng ông T không có ý kiến gì.

Nay bà không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bà trả lại đất và yêu cầu hủy GCNQSDĐ của bà.

Đối với tài sản trên đất gồm các cây mỡ, cây vàu, cây nứa và các cây tự nhiên khác bà không yêu cầu định giá, trường hợp Tòa án tuyên diện tích đất tranh chấp là của ông T, công nhận QSD đất cho ông T thì bà tự nguyện khai thác toàn bộ cây trên đất, trả đất cho ông T.

Bà nhất trí với việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với phần đất 440,5m² nằm trong thửa đất số 77, tờ bản đồ số 1 (nay là TBĐ số 70) mang tên ông Lý Văn TChu Thị L.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Nông Thị N1 và chị Nông Thị T2 đều có ý kiến nhất trí với ý kiến trình bày của bà N, không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông T.
  2. Anh Nông Văn M trình bày: Anh là con của bà N và đang sống cùng bà N, về nguồn gốc và quá trình quản lý, sử dụng thửa đất hiện đang tranh chấp anh nhất trí với lời khai của bà N, về các cây trên đất anh được phụ giúp mẹ quá trình trồng và quản lý cây.
  3. Ủy ban nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn: Tại văn bản số 1556/UBND-TNMT ngày 27/5/2024 nêu ý kiến: Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 887589 do UBND huyện N cấp ngày 01/7/2009 gồm có: Đơn xin cấp GCNQSDĐ; đơn xin giao đất lâm nghiệp; Biên bản giao đất ngoài thực địa; trích lục hình thể thửa đất lâm nghiệp; Tờ trình số 20/TTr-UBND ngày 29/6/2009 của UBND xã L về việc đề nghị phê duyệt cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân; Tờ trình số: 135/TTr-TNMT ngày 30/6/2009 của Phòng T9 huyện về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện tạo xã L; Quyết định số: 121/QĐ-UBND ngày 01/7/2009 của UBND huyện N về việc phê duyệt cấp GCNQSDĐ cho 269 hộ gia đình, cá nhân tại xã L.

Căn cứ hồ sơ trên cho thấy quá trình đo đạc thành lập bản đồ địa chính, trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ cho bà Nông Thị N được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Để đảm bảo khách quan, công bằng, chính xác trong giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án phối hợp với UBND xã S xem xét, xác định nguồn gốc sử dụng đất, quá trình quản lý, sử dụng của hai bên, nếu phát hiện có sai sót trong quá trình đo đạc, cấp GCNQSDĐ thì xem xét thu hồi và hủy bỏ GCNQSDĐ đã cấp theo quy định.

4. Những người làm chứng

  • Ông Nông Văn T3 trình bày: Ông biết việc tranh chấp đất giữa ông T và bà N vì ông ở thôn N và có thửa đất gần với thửa đất tranh chấp. Về nguồn gốc đất trước đây năm 1987 là bãi nương ót của ông cha bà N. Đến năm 1995 khi Nhà nước có chủ trương giao đất, giao rừng thì gia đình bà N có đi đo đạc nhận phần đất trên. Khi đo đạc ông cũng có mặt, lúc đó kéo dây để đo . Sau khi đo đạc bà nội được cấp sổ bìa xanh và quản lý khu đất trên, đến năm 2014 gia đình bà N trồng mỡ trên phần đất tranh chấp. Quá trình đo đạc cấp sổ và cả khi bà N trồng mỡ không có tranh chấp xảy ra giữa ông T và bà N, đến năm 2023 dự án đến đo đạc để cấp GCNQSDĐ thì mới xảy ra tranh chấp giữa ông T và bà N.
  • Từ năm 1983 đến nay ông cũng không thấy ông T canh tác trên thửa đất này bao giờ.
  • Do công việc gia đình, đường xá đi lại khó khăn, ông cũng đã có lời khai trực tiếp với Tòa, do vậy ông T3 đề nghị Tòa án không triệu tập ông, giải quyết, xét xử vắng mặt ông trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án và tất cả các phiên tòa. Ông giữ nguyên lời khai đã trình bày tại biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án.
  • Bà Bùi Thị H trình bày: Bà không có quan hệ họ hàng gì với ông T, bà N và không có mâu thuẫn gì mà chỉ trước đây bà N và ông T có cùng nhau kiện bà về tranh chấp đất nhưng đã giải quyết xong từ năm 2015 nay không có mâu thuẫn gì. Thửa đất 81 hiện đang tranh chấp bà biết rõ cụ thể: Nguồn gốc đất trước đây năm 1987 tôi được phát làm nương nhưng sau đó bỏ và gia đình bà N đến đo sau đó trồng mỡ, năm 2014 ông T và bà N kiện bà tranh chấp đất, phần đất hiện đang tranh chấp liền với phần đất bà N kiện bà và đã được Tòa án nhân dân huyện Na Rì giải quyết công nhận phần đất đó cho bà N (phần này ông T không kiện).
  • Do điều kiện sức khoe nên bà không thể có mặt tham gia các buổi làm việc tiếp theo tại Tòa, bà đề nghị Tòa án không triệu tập bà trong quá trình giải quyết vụ án, bà xin bảo lưu lời khai tại biên bản lấy lời khai của Tòa, ngoài ra không có ý kiến gì.
  • Ông Hứa Xuân T6 trình bày: Cách đây khoảng 40 năm ông được đi giúp gia đình ông T trồng lúa nương 02 lần và từ đó không được đi hộ lần nào nữa. Khi đó diện tích đất trồng lúa nương khoảng 3000 đến 4000m², về vị trí trồng lúa nương trước đây và hiện nay giáp đất của những ai ông không nắm được, ông cũng không biết cụ thể tên gọi địa ranh khu đất tranh chấp và cũng không xác định được khu đất hiện đang tranh chấp giáp đất những ai.
  • Bà Ngô Thị M1 trình bày: Thửa đất số 81 bà N hiện đang quản lý trồng mỡ thì bà biết vì thửa đất này giáp với thửa đất của gia đình bà. Về nguồn gốc trước đây năm 1981 bà N phát trồng sắn sau đó đất ót, đến năm 1995 Nhà nước giao đất cho bà nội và bà N quản lý liên tục, cụ thể trồng lúa nương, sau đó trồng sắn, đến năm 2014 trồng mỡ đến nay. Bà chưa thấy ông T canh tác bao giờ

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn giữ nguyên lời khai và yêu cầu khởi kiện

Bị đơn giữ nguyên các ý kiến trình bày trong quá trình giải quyết vụ án

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.

Người làm chứng: Anh Lý Quốc T5 khai: Ông T là anh Trai của bố tôi còn bà N là hàng xóm. Phần đất tranh chấp tôi không nắm được ở vị trí nào, tuy nhiên, gia đình tôi có thửa đất số 77 giáp với thửa đất của bà N vì trước đây bà N chia thửa đất 77 cho mẹ tôi là Hoàng Thị T8 để lấy củi chứ không trồng cây gì trên đất trước đây mẹ tôi còn khỏe vẫn đi phát ranh giới với phần đất bên bà N, nhưng đến năm 2014 – 2015 mẹ tôi ốm đau và mất ông T đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.

Về nội dung: Căn cứ các Điều 26, Điều 34, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 32 Luật tố tụng hành chính. Căn cứ Luật Đất đai năm 2003, 2013; Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q, đề nghị HĐXX:

  • + Đình chỉ giải quyết đối với diện tích 440,5m² nằm trong thửa đất số 77, TBĐ số 1 (nay là TBĐ số 70) đã được cấp GCNQSDĐ số BS 040352 cho ông Lý Văn T, bà Chu Thị L. Do ông T rút yêu cầu khởi kiện.
  • + Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn bà Nông Thị N phải di rời, cắt, chặt, nhổ bỏ các cây mỡ do bị đơn trồng trên các diện tích đất: 186m² và 2.292,1m² nằm trong thửa đất số 81, TBĐ số 1 (nay là TBĐ số 70). Để trải lại phần đất tranh chấp có diện tích 4352,7m² nằm trong thửa đất số 81, TBĐ số 1 (nay là TBĐ số 70) đã được cấp giấy chứng nhận QSDĐ số AG 887589 ngày 01/7/2009 cho bà Nông Thị N cho ông Lý Văn T.
  • + Không chấp nhận yêu cầu hủy chứng nhận QSD đất số AG 887589 ngày 01/7/2009 của UBND huyện N, tỉnh Bắc Kạn đối với thửa đất số 81, TBĐ số 1, đã được cấp Giấy chứng nhận QSD đất cho bà Nông Thị N.
  • - Về án phí và chi phí tố tụng: Đương sự phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Lý Văn T khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nông Thị N trả lại diện tích đất tranh chấp, di dời, cắt chặt, nhổ các cây mỡ trên đất và yêu cầu hủy Giấy chứng

nhận quyền sử dụng do UBND huyện N cấp cho bà Nông Thị N đối với thửa đất số 81 tờ bản đồ số 1 (nay là TBĐ số 70) tại thôn N, xã S, huyện N. Căn cứ khoản 9 Điều 26, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thì vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản trên đất

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa:

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Lý Văn T đề nghị Tòa án triệu tập những người làm chứng gồm: Ông Nông Văn Đ, ông Nông Văn T4, ông Hứa Văn T7. Tuy nhiên, Tòa án đã triệu tập nhiều lần nhưng những người có tên trên đều vắng mặt không có lý do.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Tuy nhiên, họ đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2.] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xác định phần đất tranh chấp: Căn cứ biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 27/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn, các bên đương sự xác định:

Diện tích tranh chấp ngoài thực địa là: 4793,2m², được giới hạn bởi các điểm: 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-16-17-18-19-20-1. Trong đó:

  • Phần đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 77, TBĐ số 1 (nay là TBĐ số 70) là 440,5m² mang tên ông Lý Văn TChu Thị L;
  • Phần đất tranh chấp nằm trong thửa đất số 81, TBĐ số 1 (nay là TBĐ số 70) là 4352,7 m² mang tên bà Nông Thị N.

Về tứ cận tiếp giáp:

  • Phía Đông giáp thửa đất số 81, TBĐ số 1 (nay là TBĐ số 70) mang tên bà Nông Thị N; không có ranh giới cụ thể;
  • Phía Tây giáp thửa đất số 77, TBĐ số 1 (nay là TBĐ số 70) mang tên ông Lý Văn TChu Thị L và thửa đất số 81, TBĐ số 1 mang tên bà Nông Thị N; Không có ranh giới cụ thể;
  • Phía Nam giáp thửa đất số 81, TBĐ số 1 (nay là TBĐ số 70) mang tên bà Nông Thị N; Không có ranh giới cụ thể;
  • Phía Bắc giáp thửa đất số 77, TBĐ số 1 (nay là TBĐ số 70) mang tên ông Lý Văn TChu Thị L; Không có ranh giới cụ thể.

Tài sản trên đất tranh chấp:

  • Cây mỡ do bà Nông Thị N trồng (bà N xác định trồng từ năm 2014) gồm 02 khu vực có diện tích là 186m² và 2292,1m² nằm hoàn toàn trong thửa đất số 81, TBĐ số 1 (nay là TBĐ số 70) mang tên bà Nông Thị N.
  • Có khoảng 10 cây vàu và các cây gỗ tạp. Ông T xác định các cây vàu và cây gỗ tạp là do bố ông T trồng từ năm 1968, bà N xác định các cây trên là cây mọc tự nhiên.

(Có bản trích đo địa chính kèm theo)

[2.2] Xét về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất tranh chấp:

Nguyên đơn ông Lý Văn T cho rằng: nguồn gốc đất tranh chấp là của bố mẹ ông khai phá, sau khi bố mẹ ông chết, anh em trong gia đình có họp thống nhất chia cho ông phần đất hiện nay đang có tranh chấp, ông đã quản lý đất được chia từ năm 1988 nhưng không trồng cây gì trên đất tranh chấp mà chỉ quản lý, trông non cho cây rừng phát triển mọc tự nhiên, hàng năm ông có đến 2,3 lần để phát dây leo và thăm đồi.

Bị đơn bà N khai: Thửa đất trước đây do ông cha khai phá. Năm 1995 thực hiện chính sách giao đất, giao rừng, gia đình đã kê khai thửa đất hiện nay đang có tranh chấp và được cấp sổ bìa xanh. Quá trình sử dụng đất do bà T8 (em dâu ông T) thuộc diện gia đình khó khăn thường xuyên lên khu vực đất tranh chấp để chặt cây lấy củi nên bà đã cắt cho bà T8 khoảng 0,6 ha chính là thửa số 77 giáp với thửa đất tranh chấp mà hiện nay ông T được cấp GCNQSDĐ năm 2015. Năm 2009 gia đình bà được cấp giấy CNQSDĐ thửa số 81, TBĐ số 1. Quá trình sử dụng ổn định không có tranh chấp, năm 2014 Nhà nước triển khai dự án trồng rừng gia đình bà đã ký hợp đồng trồng cây mỡ và được nghiệm thu, hiện nay trên đất cây mỡ đã to chưa khai thác, năm 2022 có dự án đo lại thửa đất nhưng ông T ngăn cản không cho đo đạc nên mới xảy ra tranh chấp.

Những người làm chứng bà M1, bà H ông T3 là các hộ có đất giáp ranh và sinh sống lâu năm gần khu vực đất tranh chấp đều xác nhận: Thửa đất tranh chấp trước đây là nương ót bỏ không, năm 1995 bà N được nhận giao quản lý, các cây mỡ trên đất là do bà N trồng theo dự án và có một số cây do bà trồng trước đó và họ chưa bao giờ thấy ông T đến canh tác hay quản lý sử dụng thửa đất này bao giờ. Ngoài ra những người làm chứng còn xác nhận trước đây bà T8 thường xuyên lên khu vực đất tranh chấp và các thửa đất xung quanh để chặt cây lấy củi đi bán, bà T8 không canh tác gì trên khu vực tranh chấp. Tại phiên tòa người làm chứng anh Lý Quốc T5 (con trai bà T8) xác nhận, trước đây anh thường xuyên được lên khu vực đất tranh chấp để lấy củi, gia đình anh cũng có thửa đất giáp ranh là thửa số 77 mà trước đây bà N chia cho mẹ anh. Ông Hứa Xuân T6 là người làm chứng do ông T yêu cầu khai: Cách đây 40 năm có được đi giúp gia đình ông T trồng lúa nương, còn hiện nay bản thân ông không xác định được phần đất tranh chấp nằm ở đâu, giáp ai? Diện tích bao nhiêu ông không nắm được.

Tại công văn số 180/HKL ngày 28/6/2024 của Hạt Kiểm lâm huyện N xác định: Lô đất gia đình bà N được thiết kế trồng rừng (cây mỡ) và được nghiệm thu năm 2015 là lô h, khoảnh 5, thuộc tiểu khu A. Đối chiếu với bản đồ quy hoạch 3 loại rừng xã L (nay là xã S), lô đất trên thuộc thửa số 81, khoảnh 9, tiểu khu A thôn N, xã S. Đối chiếu với bản đồ địa chính xã S thuộc thửa số 81, tờ bản đồ số 01 thuộc thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

Tại văn bản số 232/2024/TNMT ngày 09/7/2024 của UBND huyện N xác nhận: Sau khi lồng ghép bản đồ giao đất, giao rừng năm 1995 xã L với bản đồ địa chính đất lâm nghiệp số 01, xã L (nay là tờ 70, xã S) thấy: Thửa đất số 81, tờ bản bản đồ số 01 (nay là tờ bản đồ số 70), địa chỉ thôn N, xã S, huyện N là lô đất số 7, khoảnh 9, tiểu khu I, diện tích 3,30ha đã được giao đất, giao rừng năm 1995 tại QĐ số 1377 QĐ/UB ngày 15/12/1995 của UBND huyện N cho hộ ông Lộc Văn C1 (chồng bà Nông Thị N).

Quá trình giải quyết vụ án ông T cũng thừa nhận ông được ký xác nhận cho các hộ có đất giáp ranh với thửa đất số 77 để cấp giấy CNQSDĐ trong đó có hộ bà N và ông cũng khẳng định tại khu vực đất tranh chấp ông chỉ được làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận QSDĐ duy nhất 1 lần vào năm 2010 bao gồm thửa số 77 hiện nay ông đã được cấp giấy CNQSDĐ năm 2015 và diện tích hiện nay đang tranh chấp (thửa số 81), nhưng ông không chứng minh được tổng diện tích đất xin cấp cả 2 thửa là bao nhiêu. Năm 2014 ông T cùng với bà N khởi kiện bà H vụ án dân sự về tranh chấp đất đai liên quan đến thửa đất số 77 của ông T và một phần diện tích thửa đất số 81 của bà N (diện tích đất tranh chấp năm 2014 liền kề với diện tích đất hiện nay đang tranh chấp). Tại thời điểm đó thửa đất hiện đang tranh chấp bà H đã trồng cây mỡ, ông T đều biết nhưng ông không có ý kiến gì. Năm 2015 sau khi TAND huyện Na Rì giải quyết xong vụ án tranh chấp đất đai giữa ông với bà H, ông T mới được cấp GCNQSDĐ đối với thửa đất số 77, sau khi nhận giấy chứng nhận ông không có ý kiến gì. UBND xã S xác nhận ông T chưa bao giờ làm đơn xin cấp giấy CNQSDĐ đối với thửa đất đang tranh chấp. Mặt khác ông cho rằng sau khi bố mẹ chết, anh em trong gia đình đã họp và thống nhất chia cho ông diện tích đất tranh chấp, ông đã quản lý sử dụng từ năm 1988, nhưng quá trình giải quyết vụ án ông T cung cấp cho Tòa án 1 biên bản họp họ đề ngày 23/3/2023, như vậy biên bản này được lập cùng thời điểm xảy ra tranh chấp giữa ông T và bà N và được lập sau thời điểm xảy ra tranh chấp giữa ông T, bà H (năm 2014).

Từ các tài liệu chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở xác định: Toàn bộ diện tích đất tranh chấp nằm trong diện tích đất gia đình bà Nông Thị N được Nhà nước giao đất, giao rừng tại Quyết định số 1377/QĐ-UB ngày 15/12/1995 của UBND huyện N, tỉnh Bắc Thái (nay là Bắc Kạn) cho ông Lộc Văn C1 (chồng bà N) và được cấp GCNQSDĐ số AG 887589 ngày 01/7/2009 của UBND huyện N, thửa số 81, tờ bản đồ số 1 (nay là thửa số 70, bản đồ địa chính xã S) cho bà Nông Thị N. Từ khi được giao đất và cấp quyền sử dụng đất bà N đã sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Xét thấy, lời trình bày của bị đơn bà Nông Thị N về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất tranh chấp là phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Nguyên đơn ông T cho rằng đất tranh chấp có nguồn gốc là do bố mẹ ông để lại, ông là người quản lý, sử dụng đất liên tục, nhưng quá trình giải quyết vụ án ông không đưa ra được chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải di rời, cắt, chặt, nhổ bỏ, cây cối trên đất tranh chấp để trả lại cho ông Toàn bộ diện tích đất tranh chấp 4352,7m² thuộc thửa đất số 81, tờ bản

đồ số 1 (nay là TBĐ số 70) và công nhận quyền sử dụng đất cho ông là không có cơ sở chấp nhận.

[2.3] Xét yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 887589 ngày 01/7/2009 của UBND huyện N, tỉnh Bắc Kạn cấp cho bà Nông Thị N đối với diện tích 4352,7m² đất tranh chấp thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 1 nay là thửa số 70 tại Thôn N, xã L (nay là xã S), huyện N, tỉnh Bắc Kạn của nguyên đơn:

[2.3.1] Về trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận: Hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 887589 ngày 01/7/2009 của UBND huyện N gồm có: Đơn xin cấp GCNQSDĐ và đơn xin giao đất lâm nghiệp của bà Nông Thị N; Biên bản giao đất ngoài thực địa; trích lục hình thể thửa đất lâm nghiệp; Tờ trình số 20/TTr-UBND ngày 29/6/2009 của UBND xã L về việc đề nghị phê duyệt cấp GCNQSDĐ lâm nghiệp cho các hộ gia đình, cá nhân; Tờ trình số: 135/TTr-TNMT ngày 30/6/2009 của Phòng T9 huyện về việc cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân đủ điều kiện tạo xã L; Quyết định số: 121/QĐ-UBND ngày 01/7/2009 của UBND huyện N về việc phê duyệt cấp GCNQSDĐ cho 269 hộ gia đình, cá nhân tại xã L.

Căn cứ hồ sơ trên cho thấy về trình tự, thủ tục cấp GCNQSDĐ cho bà Nông Thị N được thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2.3.2] Về đối tượng được cấp: Bà N được Nhà nước giao đất từ năm 1995 quản lý, sử dụng ổn định, liên tục từ đó đến nay, hiện trên đất có tài sản của bị đơn.

Như vậy, có căn cứ xác định việc cấp GCNQSDĐ cho bà Nông Thị N là đúng quy định của luật đất đai, do đó yêu cầu hủy GCNQSDĐ cấp cho bà N đối với diện tích 4352,7m² đất tranh chấp thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 1 của nguyên đơn ông Lý Văn T là không có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Đối với diện tích diện tích đất 440,5m² nằm trong thửa đất số 77, TBĐ số 1 (nay là TBĐ số 70) mang tên ông Lý Văn TChu Thị L. Bà Nông Thị N xác định diện tích này bà không tranh chấp, thực tế ông T vẫn quản lý sử dụng. Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải tại Tòa án ông T xin rút yêu cầu giải quyết đối với phần diện tích đất này, bà N nhất trí. Tại phiên tòa sơ thẩm ông T vẫn giữ nguyên ý kiến rút yêu cầu giải quyết đối với phần diện tích đất trên.

Xét thấy, việc rút một phần yêu cầu giải quyết tranh chấp của nguyên đơn là tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật, do đó, Tòa án đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu giải quyết diện tích 440,5m² đất tranh chấp.

Từ những phân tích, nhận định trên Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Văn T.

Quan điểm của Viện kiểm sát là có căn cứ, HĐXX chấp nhận

[3] Về án phí và các chi phí tố tụng:

[3.1] Về án phí:

Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Nguyên đơn được hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[3.2] Về chi phí tố tụng: Căn cứ điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ với số tiền là 7.750.000₫ (Bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) được trừ vào tiền tạm ứng chi phí tố tụng đã nộp tại Tòa án. Xác nhận nguyên đơn đã nộp đủ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 144, Điều 147, Điều 157, Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính năm 2015; điểm đ, khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Áp dụng: Điều 100, Điều 106, Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai 2013.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lý Văn T về việc yêu cầu bị đơn bà Nông Thị N phải khai thác, cắt, chặt, di dời các cây trên diện tích 4352,7m² đất tranh chấp và trả lại diện tích đất tranh chấp 4352,7m² nói trên cho ông T. Địa chỉ đất tranh chấp: Thôn N, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; yêu cầu Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AG 887589 cấp ngày 01/7/2009 của UBND huyện N, tỉnh Bắc Kạn cho Nông Thị N đối với diện tích 4352,7m² đất tranh chấp thuộc thửa đất số 81, tờ bản đồ số 1 (nay là TBĐ số 70) và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đối với diện tích đất tranh chấp cho ông Lý Văn T.

    (Diện tích đất tranh chấp 4352,7m² được giới hạn bởi các mốc 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-18-19-20)

  2. Đình chỉ giải quyết đối với diện tích 440,5m² đất, được giới hạn bởi các điểm 14-15-16-17-18-14 nằm trong thửa đất số 77 tờ bản đồ số 1 (nay là TBĐ số 70) đã được cấp GCNQSDĐ cho ông Lý Văn T và bà Chu Thị L.

    (Có bản trích đo địa chính thửa đất tranh chấp và tọa độ các mốc giới kèm theo bản án).

  3. Về án phí: Nguyên đơn ông Lý Văn T được miễn án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho ông T 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng

án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0000060 ngày 24/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn.

  1. Về chi phí tố tụng:

    Nguyên đơn ông Lý Văn T phải chịu 7.750.000đ (Bảy triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, được trừ vào số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ ông T đã nộp tại Tòa án. Xác nhận ông Lý Văn T đã nộp đủ tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.”

  1. Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Kạn (02);
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Kạn
  • (Khi có hiệu lực);
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HCTP (03)
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị Thu Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản trên đất

  • Số bản án: 03/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản trên đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và yêu cầu di dời tài sản trên đất. Giữa ông Lý Văn T và bà Nông Thị N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger