Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS - ST

Ngày: 11/07/2024

“V/v: Tranh chấp thừa kế tài sản”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Toan, bà Trần Thị Vân

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên tòa: Bà Giang Thị Quỳnh Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 11/07/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân huyện Yên Mô mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 11/2023/TLST-SD, ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2024/QĐXXST- DS, ngày 28/05/2024; quyết định hoãn phiên tòa số 03/QĐST- DS, ngày 25/06/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Vũ Văn H, sinh năm 1965 (vắng mặt);

Địa chỉ: thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình;

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Anh Vũ Văn H1, sinh năm 1994;

Địa chỉ: thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (có mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Vũ Văn H: ông Vũ Ngọc H2, bà Đoàn Thị H3- Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N; ông Nguyễn Quốc V - Luật sư Văn phòng L đoàn luật sư tỉnh N (có mặt);

- Bị đơn: Ông Vũ Văn H4, sinh năm 1963 (vắng mặt);

Địa chỉ: thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Bà Vũ Thị X, sinh năm 1957 (vắng mặt);

Địa chỉ: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

+ Bà Vũ Thị Q, sinh năm 1959; địa chỉ: xóm L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt); Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Vũ Thị Q: ông Nguyễn Quốc V - Luật sư Văn phòng L đoàn luật sư tỉnh N, thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh N (có mặt);

+ Bà Vũ Thị T, sinh năm 1968 (có mặt);

Địa chỉ: thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình

+ Bà Trần Thị T1, sinh năm 1966 (vắng mặt);

Địa chỉ: thôn T, xã E, huyện S, tỉnh Phú Yên

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa nguyên đơn ông Vũ Văn H, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Bố, mẹ ông Vũ Văn H là cụ Vũ Văn H5, chết 2005 và cụ Lương Thị K, chết năm 1995. Bố, mẹ ông sinh được 5 người con gồm: ông là Vũ Văn H, anh ông là Vũ Văn H4, các chị ông là bà Vũ Thị X, Vũ Thị Q và em ông là bà Vũ Thị T; bố mẹ ông không có con nuôi, con riêng. Khi còn sống bố, mẹ ông tạo lập được khối tài sản gồm: 285m² đất ở tại thửa 456, tờ bản đồ số 6, bản đồ địa chính xã Y năm 1997; nay là thửa số 232, tờ bản đồ số 13 năm 2007, bản đồ địa chính xã Y (sau đây gọi tắt là thửa đất 232) và diện tích 145m² đất vườn tại thửa 462, tờ bản đồ số 6 bản đồ địa chính xã Y năm 1997; nay là thửa số 236, tờ bản đồ số 13 năm 2007, bản đồ địa chính xã Y (sau đây gọi tắt là thửa đất 236), đã được UBND huyện Y cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số L960709 ngày 19/10/1997 mang tên bố ông Vũ Văn H5 (hiện ông Vũ Văn H4 đã xây nhà trên diện tích đất ở 285m² đất ở tại thửa 232 và sử dụng diện tích đất vườn 145m² tại thửa 236, nêu trên). Khi mẹ ông H chết, bố ông là người quản lý di sản, đến năm 2005, bố ông chết, di sản các cụ để lại không ai trông coi, bảo quản, cuối năm 2018, ông H4 có về xây nhà trên đất của bố mẹ ông, xây xong, ông H4 lại đi miền N sống, đến năm 2023, ông H4 mới về quê ở và anh em xảy ra tranh chấp di sản. Bố, mẹ ông chết, không để lại di chúc, anh em ông chưa thỏa thuận phân chia di sản, vì vậy ông đề nghị Tòa giải quyết chia di sản thừa kế của bố, mẹ ông nêu trên theo quy định của pháp luật. Khi chia di sản, nguyện vọng của ông là giao diện tích 285m² đất ở và diện tích 145m² đất vườn cho ông H4 quản lý, sử dụng vì ông H4 đã xây dựng nhà trên diện tích đất ở và sử dụng (trồng cây, canh tác) trên diện tích đất vườn và ông H4 phải thanh toán cho ông trị giá kỷ phần thừa kế của ông và các thừa kế còn lại được hưởng bằng tiền.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Vũ Văn H4 trình bày:

Ông Vũ Văn H4 nhất trí với ý kiến của nguyên đơn là chia di sản thừa kế của bố mẹ ông để lại như nguyên đơn trình bày theo quy định của pháp luật, tài sản vợ chồng ông đã xây dựng trên đất (Nhà ở), ông đề nghị: khi chia di sản thừa kế, kỷ phần thừa kế của ai được chia có phần tài sản của vợ chồng ông thì người đó phải thanh toán lại cho vợ chồng ông trị giá tài sản vợ chồng ông đã tạo nên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

Bà Vũ Thị X; bà Vũ Thị T; bà Vũ Thị Q, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Q cùng trình bày: Bà X, bà Q, bà T yêu cầu chia di sản thừa kế của bố mẹ các bà để lại như nguyên đơn trình bày theo quy định pháp luật, kỷ phần thừa kế của các bà được hưởng, các bà để lại toàn bộ cho ông Vũ Văn H được sở hữu, sử dụng.

Bà Trần Thị T1 trình bày: Khi chia di sản thừa kế, tài sản của vợ chồng bà xây dựng trên đất (Nhà ở), bà đề nghị nếu chia phần đất có nhà ông H4 và bà T1 đã xây dựng cho ai, thì người đó có trách nhiệm thanh toán lại giá trị nhà cho vợ chồng bà.

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã xác minh và xem xét thẩm định tại chỗ, tổ chức thẩm định giá tài sản tranh chấp cụ thể như sau:

Đối với thửa đất số 232, có vị trí, kích thước như sau:

  • - Phía Nam tiếp giáp đất ông B; kích thước là 14,43m,
  • - Phía Bắc tiếp giáp đất ông C; có kích thước lần lượt là 3,9m; 5,64m; 2,93m; 5,9m.
  • - Phía Đông tiếp giáp đất ông Đ và đường ngõ; có kích thước lần lượt là 0,6m; 14, 87m.
  • - Phía Tây tiếp giáp đất ông X1 và đất bà T2; có kích thước lần lượt là 5,89m; 14,48m; 1,03m.
  • - Diện tích theo GCN QSDĐ: 285m²
  • - Diện tích đo đạc thực tế đang sử dụng: 297,8m² (tăng so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 12,8m²) (Diện tích đất tăng thêm là do sai số đo đạc, phù hợp với quy hoạch không có tranh chấp). Trị giá 285m² đất ở là 562.020.000đồng.

Tài sản gắn liền với đất gồm: Nhà ở 1 tầng, diện tích sử dụng: 79,4m²; Nhà kho và nhà vệ sinh, diện tích sử dụng: 8,8m²; Cánh cổng sắt: Kích thước: 2,8m x 2m (Công trình xây dựng năm 2018). Cây trồng gồm: 01 cây tranh; 01 cây Na; 01 cây Hồng xiêm; 01 cây Vú sữa; 01 cây Đào; 05 cây Cau (Tài sản trên đất do ông H4 xây dựng, cây do ông H4 trồng). Tổng trị giá 299.522.817đồng (trong đó trị giá cây là 873.000đồng).

Đối với thửa đất số 236 có vị trí, kích thước như sau:

  • - Phía Nam tiếp giáp đường ngõ; kích thước dài 11,70m
  • - Phía Bắc tiếp giáp đất bà T3; kích thước lần lượt là 6,17m; 4,71m
  • - Phía Đông tiếp giáp đất ông Ô; kích thước lần lượt là 13,76m; 1,65m
  • - Phía Tây tiếp giáp đất ông C và đường ngõ; kích thước lần lượt là 10,07m;1,85m; 1,35m.
  • - Diện tích theo GCN QSDĐ: 145m²
  • - Diện tích đo đạc thực tế đang sử dụng: 162,2m² (tăng so với Giấy chứng nhận được cấp là 17,2m²) (Diện tích đất tăng thêm là do sai số đo đạc, phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp).

Tài sản gắn liền với đất gồm có: 08 cây Cau; 01 cây Trứng gà; 03 cây Mít; 01 cây Bưởi; 03 cây Na; 01 cây Ổi; 01 cây Đu đủ; 01 cây Nhãn.

Trị giá đất là 15.225.000đồng; trị giá cây 2.188.000đồng (C1 do ông H4 trồng).

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:

Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng đầy đủ các bước tố tụng và hành vi tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ các điều 157, 165, 147, 227, 228 BLTTDS; các điều 609, 611, 612, 613, 649, 650, 651, 357, 468 BLDS; Điều 167 Luật đất đai; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.

  • - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn H về việc chia tài sản thừa kế của cụ Vũ Văn H5 và cụ Lương Thị K là quyền sử dụng diện tích 285m² đất ở tại thửa số 456 và 145m² đất vườn tại thửa đất số 462, tờ bản đồ số 6 bản đồ địa chính xã Y năm 1997 (nay là thửa 232 và thửa số 236 tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã Y năm 2007) tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất mang tên Vũ Văn H5 được Ủy ban nhân dân huyện Y cấp ngày 19/10/1997.
  • - Ghi nhận sự tự nguyện của các bà T, bà Q, bà X về việc để lại kỷ phần thừa kế của các bà được hưởng cho ông Vũ Văn H được toàn quyền sử dụng.
  • - Chia tài sản thừa kế:
  • + Chia cho ông Vũ Văn H4 quyền sử dụng diện tích 285m² đất ở tại thửa số 232 và 145m² đất vườn tại thửa đất số 236. Tạm giao cho ông H4 quyền sử dụng diện tích tăng thêm so với quyền sử dụng đất là 12,8m² đối với thửa đất số 456 và 17,2m² đối với thửa đất số 462. Tổng diện tích ông Vũ Văn H4 được quyền sử dụng và tạm giao sử dụng là 297,8m² thửa đất số 232 và 162,2m² thửa đất số 236 vị trí:
  • Thửa đất số 232 tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã Y năm 2007 vị trí: Phía Nam tiếp giáp đất ông B; Phía Bắc giáp tiếp giáp đất ông C, Phía Đông tiếp giáp đất ông Đ và đường ngõ, Phía Tây tiếp giáp đất ông X1 và đất bà T2.
  • Thửa đất số 236 tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã Y năm 2007 vị trí, kích thước: Phía Nam tiếp giáp đường ngõ; Phía Bắc tiếp giáp đất bà T3; Phía Đông tiếp giáp đất ông Ô; Phía Tây tiếp giáp đất ông C và đường ngõ.
  • + Chia cho ông Vũ Văn H giá trị quyền sử dụng đất của 4 kỷ phần thừa kế (bao gồm các kỷ phần thừa kế của bà T, bà X, bà Q và ông H) là 461.796.000đ. Buộc ông Vũ Văn H4 có trách nhiệm thanh toán cho ông Vũ Văn H số tiền tương ứng với giá trị của 4 kỷ phần thừa kế là 461.796.000₫ (Bốn trăm, sáu mốt triệu, bảy trăm chín sáu nghìn đồng).
  • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • - Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản, người được hưởng di sản phải chịu và ông Vũ Văn H đã nộp là 17.600.000đồng, mỗi người được hưởng di sản phải chịu 3.520.000đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Văn H chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản mà ông H và các bà Vũ Thị Q, Vũ Thị X, Vũ Thị T phải chịu tổng là 14.080.000đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng chi phí thẩm định tại chỗ, thẩm định giá ông H đã nộp. Ông Vũ Văn H4 phải thanh toán cho ông Vũ Văn H 3.520.000đồng (Ba triệu, năm trăm, hai mươi nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
  • - Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Vũ Văn H4, ông Vũ Văn H, bà Vũ Thị Q, Vũ Thị X. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Văn H chịu án phí dân sự sơ thẩm thay cho bà Vũ Thị T là 5.772.500đồng (Năm triệu, bảy trăm bảy hai nghìn, năm trăm đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày và yêu cầu của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau.

[1] Về tố tụng: Ông Vũ Văn H khởi kiện ông Vũ Văn H4, yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Vũ Văn H5, cụ Lương Thị K để lại là: quyền sử dụng diện tích 285m² đất ở và 145m² đất vườn tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Tòa án nhân dân huyện Yên Mô thụ lý giải quyết yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn H theo quy định tại khoản 5 Điều 26; Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa bị đơn ông Vũ Văn H4 (không có yêu cầu phản tố), người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị T1 (không có yêu cầu độc lập) đã được triệu tập hợp lệ lần hai nhưng vẫn vắng mặt; bà Vũ Thị Q, Vũ Thị X có đơn xin xét xử vắng mặt căn cứ khoản 2 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa xét xử vắng mặt ông H4, bà Q, bà X.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.1] Về thời hiệu khởi kiện: Cụ Vũ Văn H5 chết năm 2005, cụ Lương Thị K chết năm 1995. Ngày 17/10/2023, ông Vũ Văn H là con đẻ của cụ H5, cụ K khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ H5, cụ K theo pháp luật. Căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế” do đó ông Vũ Văn H khởi kiện chia di sản của cụ H5 và cụ K trong thời hiệu.

[2.2] Về di sản thừa kế: Các đương sự đều thống nhất xác nhận: cụ Vũ Văn H5 và cụ Lương Thị K lúc còn sống, các cụ tạo lập được khối tài sản gồm: quyền sử dụng diện tích đất ở 285m² thuộc thửa số 232 và 145m² đất vườn thuộc thửa số 236, tờ bản đồ số 13, bản đồ địa chính xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình năm 2007, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Tòa coi đây là sự thật và xác định số tài sản trên là di sản thừa kế của cụ H5, cụ K để lại.

Qua đo đạc và xem xét thẩm định tại chỗ thì: diện tích đất thực tế tại thửa số 232, tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 12,8m² (Diện tích đất tăng thêm là do sai số đo đạc, phù hợp với quy hoạch không có tranh chấp). Đối với thửa đất số 236, tăng so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp là 17,2m² (Diện tích đất tăng thêm là do sai số đo đạc, phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp). Đối với diện tích đất tăng thêm, cụ Vũ Văn H5 và cụ Lương Thị K chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo quy định của Luật Đất đai thì: Người sử dụng đất được thực hiện quyền thừa kế quyền sử dụng đất khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do đó đối với diện tích đất tăng thêm trên không phải là di sản thừa kế.

[2.3] Về hàng thừa kế: cụ Vũ Văn H5 và cụ Lương Thị K, sinh được 05 người con gồm: ông Vũ Văn H4, ông Vũ Văn H, bà Vũ Thị X, bà Vũ Thị Q, bà Vũ Thị T (cụ H5, cụ K không có con nuôi, con riêng) đây là hàng thừa kế thứ nhất và hàng thừa kế thứ nhất của các cụ đủ điều kiện được hưởng di sản.

[2.4] Về công sức trông coi, bảo quản di sản và chia di sản của cụ Vũ Văn H5 và cụ Lương Thị K:

Sau khi cụ Lương Thị K chết, cụ Vũ Văn H5 quản lý di sản đến năm 2005. Từ khi cụ H5 chết (năm 2005), di sản của các cụ để lại, những người thừa kế không cử người trông coi, quản lý, bảo quản và thực tế cũng không có ai trông coi quản lý di sản. Năm 2018, ông Vũ Văn H4 có về xây dựng nhà trên đất của các cụ và sau đó ông H4 lại đi miền N sinh sống, đến cuối năm 2022, ông H4 về ở nhà xây trên đất của cụ H5, cụ K nên xảy ra tranh chấp, dẫn đến ông H khởi kiện chia di sản thừa kế, trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không yêu cầu, tranh chấp về C2 trông coi quản lý di sản nên Tòa không xét.

Về chia di sản: Di sản của cụ Vũ Văn H5, cụ Lương Thị K để lại gồm 285m² đất ở và 145m² đất vườn (Tổng trị giá là 577.245.000đồng). Cụ H5, cụ K chết không để lại di chúc, do đó di sản của các cụ được chia theo pháp luật. Theo quy định tại Điều 610 Bộ luật Dân sự thì: Mọi cá nhân đều bình đẳng về quyền hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật vì vậy di sản của cụ H5, cụ K được chia đều cho 5 kỷ phần thừa kế, mỗi kỷ phần được chia trị giá là: 577.245.000đồng: 5= 115.449.000đồng. Xét thấy, di sản của cụ H5, cụ K để lại đối với phần đất ở, ông H4 đã xây dựng nhà ở kiên cố trên đất, đối với phần đất vườn ông H4 đang trực tiếp quản lý, trồng cây. Để tiện cho việc khai thác, tránh xáo trộn trong việc sử dụng đất, đảm bảo diện tích tối thiểu để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử đất theo thủ tục hành chính, nên chia cho ông H4 được quyền sử dụng sử dụng toàn bộ di sản của cụ K, cụ H5 để lại gồm: 285m² đất ở và 145m² đất vườn.

Đối với phần diện tích đất tăng thêm 12,8m² thuộc thửa 232 và diện tích đất tăng thêm 17,2m² thuộc thửa 236, phù hợp với quy hoạch, không có tranh chấp, không phải là di sản thừa kế nên tạm giao cho ông H4 quản lý, sử dụng, ông H4 có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan các bà Vũ Thị X; bà Vũ Thị Q; bà Vũ Thị T tự nguyện cho ông Vũ Văn H được hưởng trị giá kỷ phần thừa kế mà các bà được hưởng, nên ghi nhận sự tự nguyện của bà X, bà Q, bà T để ông H được hưởng kỷ phần thừa kế, vì vậy cần buộc ông Vũ Văn H4 phải thanh toán cho ông Vũ Văn H trị giá của 4 kỷ phần thừa kế là 115.449.000đồng x 4 = 461.796.000đồng (Bốn trăm sáu mốt triệu, bảy trăm chín sáu nghìn đồng).

[3] Về chi phí xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản.

Tổng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản, người được hưởng di sản phải chịu và ông Vũ Văn H đã nộp là 17.600.000đồng. Do di sản thừa kế được chia đều cho 5 kỷ phần thừa kế, nên mỗi người được hưởng di sản phải chịu 3.520.000đồng (Ba triệu, năm trăm, hai mươi nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản. Ông Vũ Văn H tự nguyện chịu toàn bộ chi phí xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản mà ông và các bà Vũ Thị X; bà Vũ Thị Q; bà Vũ Thị T phải chịu, nên ghi nhận sự tự nguyện của ông H, và ông H chịu tổng số tiền là 14.080.000đồng, được trừ vào số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản ông H đã nộp. Số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, thẩm định giá tài sản ông Vũ Văn H4 phải chịu cần buộc ông H4 phải trả cho ông Vũ Văn H số tiền là 3.520.000đồng (Ba triệu, năm trăm, hai mươi nghìn đồng).

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Vũ Văn H là người khuyết tật, ông Vũ Văn H4, các bà Vũ Thị Q, Vũ Thị X là người cao tuổi được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Văn H chịu án phí dân sự trên trị giá tài sản được chia thay cho bà Vũ Thị T là 5.772.450đồng làm tròn số là 5.772.500đồng (Năm triệu, bảy trăm bảy hai nghìn, năm trăm đồng).

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ: Điều 5; khoản 5 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
  • - Căn cứ: các Điều 610, 611, 612, 613, 623, 649, 651, 357, 468, khoản 1 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • - Căn cứ: Điều 167 Luật Đất đai năm 2013.
  • - Căn cứ: Điều 6, Điều 24, Điều 26; Điểm đ khoản 1 Điều 12; Điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Vũ Văn H.
  2. Phân chia di sản:
    1. Chia cho ông Vũ Văn H4 được quyền:
      • - Sử dụng diện tích đất ở 285m² thuộc thửa 232 tờ bản đồ số 13 bản đồ địa chính xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình năm 2007; vị trí, kích thước như sau: Phía Nam tiếp giáp đất ông B, kích thước là 14,43m; Phía Bắc tiếp giáp đất ông C, có kích thước lần lượt là 3,9m, 5,64m, 2,93m, 5,9m; Phía Đông tiếp giáp đất ông Đ và đường ngõ, có kích thước lần lượt là 0,6m, 14,87m; Phía Tây tiếp giáp đất ông X1 và đất bà T2, có kích thước lần lượt là 5,89m, 14,48m, 1,03m.
      • - Sử dụng diện tích đất vườn 145m², tại thửa 236, tờ bản đồ số 13, bản đồ địa chính xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình năm 2007; vị trí kích thước như sau: Phía Nam tiếp giáp đường ngõ, kích thước là 11,70m; Phía Bắc tiếp giáp đất bà T3, kích thước lần lượt là 6,17m, 4,71m; Phía Đông tiếp giáp đất ông Ô, kích thước lần lượt là 13,76m; 1,65m; Phía Tây tiếp giáp đất ông C và đường ngõ, kích thước lần lượt là 10,07m,1,85m, 1,53m.
      • (Có sơ đồ chia đất kèm theo).
    2. Ghi nhận sự tự nguyện của các bà Vũ Thị X; Vũ Thị Q, bà Vũ Thị T cho ông Vũ Văn H trị giá kỷ phần thừa kế của bà X, bà Q, bà T được hưởng.
    3. Buộc ông Vũ Văn H4 phải thanh toán cho ông Vũ Văn H 4 kỷ phần thừa kế tổng trị giá là 461.796.000đồng (Bốn trăm sáu mốt triệu, bảy trăm chín sáu nghìn đồng).
  3. Tạm giao cho ông Vũ Văn H4 sử dụng diện tích đất tăng thêm 12,8m², thuộc thửa 232 và 17,2m² thuộc thửa số 236, tờ bản đồ số 13, bản đồ địa chính xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình năm 2007.
  4. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Văn H chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản mà ông H và các bà Vũ Thị Q, Vũ Thị X, Vũ Thị T phải chịu tổng là 14.080.000đồng, được trừ vào số tiền tạm ứng chi phí thẩm định tại chỗ, thẩm định giá ông H đã nộp. Ông Vũ Văn H4 phải thanh toán cho ông Vũ Văn H 3.520.000đồng (Ba triệu, năm trăm, hai mươi nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản.
  5. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Vũ Văn H4, ông Vũ Văn H, bà Vũ Thị Q, Vũ Thị X. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Vũ Văn H chịu án phí dân sự sơ thẩm thay cho bà Vũ Thị T là 5.772.500đồng (Năm triệu, bảy trăm bảy hai nghìn, năm trăm đồng).

Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Yên Mô;
  • - Chi cục THADS huyện Yên Mô;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(Đã ký)

NGUYỄN ANH TUẤN

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/DS - ST ngày 11/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 03/2024/DS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ - TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Vũ Văn H khởi kiện ông Vũ Văn H1 tranh chấp về thừa kế
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger