TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 11 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Trung Hải
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Kim Ngọc Sự
Bà Hà Thị Bàn
Bà Vương Thị Thoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Bà Lân Thị Ngọc Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Yên Bái mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023, đối với:
Bị cáo Nguyễn Văn H (tên gọi khác: Không), sinh năm 1973 tại huyện T, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Bản Phạ, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1953; có vợ là Vũ Thị H1, sinh năm 1974 và 02 con (lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1995); tiền án: Không; tiền sự: Ngày 03/9/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời gian 24 tháng từ ngày 09/9/2020 đến ngày 09/9/2022. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 28-5-2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Y; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo H: Luật sư Nguyễn Đức D thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Y; có mặt.
- Bị hại: Ông Hà Anh T, sinh năm 1972
Trú tại: Bản P, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
- Những người làm chứng:
- Chị Hoàng Thị B, sinh năm 1989; có mặt
- Anh Hoàng Kim T1, sinh năm 1987; có mặt.
Cùng trú tại: Bản P, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái.
- Anh Đỗ Tiến H2, sinh năm 1994. Có mặt.
Trú tại: Thôn Đ, xã A, thành phố Y, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 27/5/2023, Nguyễn Văn H đi đến nhà ông Hà Anh T thuộc bản Phạ, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái. Lúc này ông T đang ngồi ăn cơm, uống rượu cùng bà Vũ Thị P, anh Đỗ Tiến H2 (con bà P) cùng trú tại thôn Đ, xã A, thành phố Y, tỉnh Yên Bái, anh Hoàng Kim T1 và chị Hoàng Thị B cùng trú tại bản Phạ, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái nên ông T mời H vào cùng ăn, uống. Sau khi uống hết một cốc rượu, H nằm ra chiếu mà mọi người đang ngồi chửi bới và nhiều lần nói: “Tao muốn giết thằng Túc T2” nhưng ông T không nói gì. Thấy H nói vậy anh T1 nói: “Chú giết ông T làm gì ? Chú đánh cháu đây này” thì H nói: “Tao không giết mày. Tao giết thằng Túc T2”. Ngay sau đó, H đi xuống bếp nhà ông T lấy một chiếc kéo dài 22,5 cm (cán bằng nhựa, lưỡi bằng kim loại) trên nóc tủ lạnh rồi quay lại đứng phía sau lưng ông T, tay trái quàng vào cổ ông T, kéo người ông T ngửa về phía sau, tay phải cầm kéo (hai mũi kéo trong trạng thái khép) đâm nhát thứ nhất sượt qua phía trên tai trái trúng vào đỉnh thái dương trái của ông T, nhát thứ hai trúng vào sống mũi ông T và đâm tiếp nhát thứ ba trúng vào núm vú bên phải của ông T. Bị đâm ông T vùng dậy, vật lộn, giằng co, đè được lên người Hương và giằng được kéo từ tay Hương. Mọi người cùng lao vào can ngăn và sau đó đưa ông T đi cấp cứu. Đến 05 giờ 30 phút ngày 28/5/2023, Nguyễn Văn H đã đến Công an huyện T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 99/KLTTCT-TTPY ngày 01/6/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Y đối với ông Hà Anh T đã kết luận:
- Dấu hiệu chính qua giám định:
- + Phẫu thuật dẫn lưu khoang màng phổi: 04%.
- + Vết thương vùng chính giữa sống mũi, kích thước 4,5cm x 0,1 cm: 03%.
- + Vết thương vùng thái dương đỉnh trái, kích thước 4,2cm x 0,2cm: 01%.
- + Vết thương núm vú phải, kích thước 02cm x 0,1cm: 01%
- + Vết dẫn lưu khoang màng phổi phải khoang liên sườn 5,6 đường kính 1,2cm: 01%.
- Tỷ lệ phần trăm tồn thương cơ thể của ông Hà Anh T tại thời điểm giám định là: 10% (mười phần trăm).
- Cơ chế hình thành thương tích:
- + Vết thương vùng thái dương đỉnh trái là do vật sắc nhọn tác động một lực vừa đủ theo hướng từ dưới lên trên, từ trước ra sau.
- + Vết thương vùng mũi (giữa sống mũi) là do vật sắc nhọn tác động một lực vừa đủ theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải sang trái gây nên.
- + Vết thương nằm ngang phía trên núm vú phải + tràn dịch màng phổi phải là do vật sắc nhọn tác động một lực vừa đủ theo hướng trực diện gây nên (BL số 181-183).
Tại bản cáo trạng số: 83/CT-VKSYB-P2 ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- + Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”
- + Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H với mức án từ 12 năm tù đến 13 năm tù.
- + Áp dụng điểm a khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc kéo gia dụng đa năng, 01 quần vải thô màu xám và 01 áo phông cộc tay màu trắng.
- + Về trách nhiệm dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa ông T và bị cáo H như sau: Bị cáo H phải bồi thường cho ông T 42.600.000 đồng. Do vợ của bị cáo H đã bồi thường cho ông T 12.600.000 đồng nên bị cáo còn phải bồi thường 30.000.000 đồng.
- + Về án phí: Do bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí.
- Người bào chữa cho bị cáo H trình bày bản Luận cứ và tiến hành tranh tụng có nội dung được tóm tắt như sau: Về cơ bản, người bào chữa nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái. Tuy nhiên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử lưu tâm việc bị cáo trình độ học vấn thấp (02/12) nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế; sau khi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động để người thân trong gia đình bồi thường cho bị hại được 12.600.000 đồng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo còn được hưởng chế định phạm tội chưa đạt quy định tại Điều 15; Điều 57; Điều 54 Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích trên, người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ và xử phạt bị cáo với mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại tại phiên tòa.
- Bị hại ông Hà Anh T trình bày có nội dung tóm tắt như sau: Đề nghị Hội đồng xét xử xem giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H. Về trách nhiệm dân sự: Do gia đình bị cáo đã bổi thường 12.600.000 đồng nên bị cáo còn phải bồi thường 30.000.000 đồng tiền bù đắp tổn thất tinh thần.
- Bị cáo H nhất trí còn phải bồi thường cho bị hại 30.000.000 đồng và nhất trí với nội dung bào chữa của Luật sư, không bổ sung gì thêm. Khi nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Y, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Yên Bái; của Điều tra viên và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng, phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:
Khoảng 21 giờ ngày 27/5/2023, khi đến chơi và uống rượu tại nhà ông Hà Anh T ở bản P, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái, Nguyễn Văn H đã chửi bới, nói những lời thể hiện thái độ muốn giết ông T (mặc dù giữa hai người không có mâu thuẫn gì) rồi sau đó sử dụng 01 chiếc kéo dài 22,5 cm (cán bằng nhựa, lưỡi bằng kim loại) đâm liên tiếp 03 nhát vào vùng thái dương đỉnh trái, vào sống mũi và ngực bên phải của ông T. Do ông T chống trả quyết liệt và được mọi người can ngăn, đưa đi cấp cứu kịp thời nên ông T chỉ bị tổn hại 10% sức khỏe. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc dùng kéo là vật sắc nhọn có tính sát thương cao đâm vào đầu, vào ngực là vùng trọng yếu trên cơ thể con người, có nguy cơ cao dẫn đến tử vong cho nạn nhân nhưng vẫn vô cớ cố ý thực hiện tội phạm, hậu quả chết người không xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo. Hành vi nêu trên của bị cáo phù hợp với Án lệ số: 47/2021/AL “Về việc xác định tội danh trong trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại” được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021 nên bị cáo đã phạm tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trái phép quyền được sống của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nên cần có mức hình phạt tương xứng nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời đảm bảo tính răn đe phòng ngừa chung.
[4] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có 01 tiền sự. Qua xác minh (BL 194, 195, 196) cho thấy: Sau khi chấp hành xong biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trở về sinh sống tại địa phương, bị cáo thường xuyên say rượu, quấy nhiễu hàng xóm, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo rất kém. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét việc bị cáo sau khi phạm tội đã ra đầu thú, thành khẩn khai báo, đã tác động để gia đình bồi thường cho bị hại được 12.600.000 đồng và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng hậu quả chết người chưa xảy ra nên được hưởng chế định phạm tội chưa đạt quy định tại khoản 3 Điều 57 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại và bị cáo đã thỏa thuận được với nhau về việc bị cáo còn phải bồi thường với số tiền là 30.000.000 đồng. Thỏa thuận trên là tự nguyện, phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần được công nhận.
[6] Về việc xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Cần tịch thu, tiêu hủy 01 chiếc kéo gia dụng đa năng do đó là công cụ bị cáo dùng để phạm tội. Ngoài ra, cũng cần tịch thu, tiêu hủy 01 quần vải thô màu xám, 01 áo phông cộc tay màu trắng do không còn giá trị sử dụng.
[7] Về án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo (BL 190, 192) nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
[8] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giết người”.
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; Án lệ số: 47/2021/AL “Về việc xác định tội danh trong trường hợp bị cáo dùng hung khí nguy hiểm đâm vào vùng trọng yếu của cơ thể bị hại” được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 25/11/2021: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28-5-2023.
- Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 357; 468; 584; 585; 586 và 590 Bộ luật Dân sự: Công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo H và ông T như sau: Bị cáo H còn phải bồi thường cho ông Hà Anh T 30.000.000 (Ba mươi triệu) đồng.
Kể từ ngày ông T có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị cáo H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án với mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.
- Căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chiếc kéo gia dụng đa năng có kích thước (22,5 x 7) cm, cán bằng nhựa màu đỏ, hai lưỡi bằng kim loại, lưỡi kéo có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) quần vải thô màu xám, có bám dính chất màu nâu đỏ; 01 (một) áo phông cộc tay màu trắng, có bám dính chất màu nâu đỏ.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí: Bị cáo Nguyễn Văn H được miễn án phí sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Trung Hải |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI về giết người
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H phạm tội "Giết người" theo điểm n khoản 1 Điều 123
