Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 11-01-2024

“V/v: Tranh chấp tài sản chung

sau khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN - TỈNH PHÚ THỌ

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Xuân Trường

Các thẩm phán:

Ông Phạm Văn Toàn

Bà Lê Thị Thu Huyền

- Thư ký phiên toà: Bà Phùng Thị Thu Hằng - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 37/2023/HNGĐ-PT ngày 01 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp tài sản chung sau ly hôn;

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/HNGĐ-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân thành phố V, tỉnh Phú Thọ có kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2023/QĐ-PT ngày 26 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1960- Có mặt.

Bị đơn: Ông Hà Lương T, sinh năm 1958- Có mặt.

Đều ĐKHKTT tại: Khu A, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Hà Huy Â, sinh năm 1984 – Vắng mặt- Có đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị O trình bày:

Bà O và ông Hà Lương T đăng ký kết hôn năm 1982. Tại Bản án số 13/2022/HNGĐ – ST ngày 01/03/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã xét xử cho ông T và bà O li hôn, bản án này chưa đề nghị giải quyết về phần tài sản chung vợ chồng.

Tài sản chung của bà O và ông T là quyền sử dụng 219m²đất, tại thửa đất số 90, tờ bản đồ số 25 địa chỉ tại Xóm M, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (đất ở 163m², đất vườn 56m²), Giấy CNQSD đất đứng tên hộ bà Nguyễn Thị O và ông Hà Lương T. Trên đất có 01 nhà xây 03 tầng xây khoảng 100m² và một số đồ đạc sinh hoạt trong gia đình. Sau khi bà O, ông T ly hôn, gia đình đã họp nhiều lần nhưng không thống nhất được việc phân chia tài sản chung vợ chồng. Ông T vẫn sống cùng bà O và bố bà O tại ngôi nhà trên. Ông T gây nhiều áp lực, chửi bới, xúc phạm và đe dọa bà O và bố bà O đến danh dự và tính mạng.

Nguồn gốc thửa đất trên là do bố mẹ bà O cho riêng bà O mục đích để bố mẹ bà O sống với bà O vì bà O là con gái trưởng, bố mẹ bà không có con trai. Do tin tưởng và không hiểu biết pháp luật nên sau này bà O cho ông T đứng tên Giấy CNQSD đất cùng.

Đến khoảng năm 1983-1984, ông T bị ngành Công an tước quân tịch, ông T về quê ở huyện Đ sống, bà O nuôi con một mình. Về việc xây dựng nhà ở trên thửa đất và các chi phí sinh hoạt trong gia đình, việc chăm nuôi con cháu, bà O chịu trách nhiệm phần lớn vì ông T làm không đủ nuôi bản thân. Một mình bà O phải làm rất nhiều nghề vừa nuôi con ăn học vừa có thu nhập để làm nhà: dạy học (bao gồm cả dạy thêm), bán bảo hiểm nhân thọ,dạy khiêu vũ.

Nay bà O khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết chia tài sản chung vợ chồng sau khi ly hôn: Bà O đề nghị Tòa án cho bà được hưởng phần nhiều hơn vì nguồn gốc tài sản là của bố mẹ bà cho bà, giao cho bà được sử dụng ngôi nhà 03 tầng trên đất để bà O chăm sóc bố đẻ đã già yếu và thờ cúng cha mẹ sau này vì bố mẹ bà O không có con trai. Bà O sẽ thanh toán lại tiền chênh lệch tài sản cho ông T vì bà không có nơi ở nào khác, bố bà cũng đang ở cùng bà, bà là con trưởng được bố mẹ cho đất và chăm sóc phụng dưỡng bố mẹ cũng như có chỗ thờ cúng bố mẹ sau này. Bà O đề nghị Tòa án chỉ chia nhà đất cho bà O và ông T, bà O xin được hưởng phần nhiều hơn vì bà có công sức nhiều hơn và đất có nguồn gốc của bố mẹ bà cho.

Về nợ chung: Bà O trình bày vợ chồng có khoản vay nợ Ngân hàng 500.000.000 đồng do ông T ủy quyền cho bà O đi vay để lấy tiền trả nợ cho con trai nợ nần. Nhưng sau đó vì không trả được tiền nên bà O phải đi vay lãi ngoài để trả tiền cho Ngân hàng, ông T có biết việc này, nếu ông T chối bà sẽ xuất trình chứng cứ chứng minh. Bà O đề nghị Tòa án giải quyết chia số tiền nợ chung cả gốc và lãi là 500.000.000 đồng, mỗi người chịu một nửa. Ngày 28/7/2023 bà O đã rút yêu cầu này không đề nghị Tòa án giải quyết về nợ chung trong vụ án này.

Tại phiên tòa, bà O giữ nguyên quan điểm như trong quá trình giải quyết vụ án.

Tại Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hà Lương T trình bày:

Ông T xác nhận lời trình bày của bà O về quá trình vợ chồng kết hôn và ly hôn là đúng.

Về tài sản chung: Ông T xác nhận vợ chồng có tài sản chung làThửa đất 219m² tại thửa đất số 90, tờ bản đồ số 25 địa chỉ tại Xóm M, xã T, thành phố V, tỉnh Phú Thọ (đất ở 163m², đất vườn 56m²), Giấy CNQSD đất đứng tên hộ bà Nguyễn Thị O và ông Hà Lương T. Trên đất có 01 nhà xây 03 tầng xây khoảng 100m² và một số đồ đạc sinh hoạt trong gia đình. Khi ly hôn hai vợ chồng chưa giải quyết về phần tài sản chung, nợ chung. Nay bà O khởi kiện đề nghị Tòa án chia tài sản chung ông T cũng nhất trí.

Theo ông T, nguồn gốc thửa đất trên có khoảng một phần đất vườn là do bố mẹ bà O cho sau đó lấn thêm sang đất nương sắn của ông Chung M (hiện nay ông còn sống và đang ở khu T, T, V) và khi làm Giấy CNQSD đất ông T phải đi làm thủ tục. Nay ông T đề nghị Tòa án giao cho ông T sử dụng nhà vì ông T không có nơi ở nào khác, ông T đầu tư nhiều công sức vào việc xây nhà, ông T sẽ thanh toán tiền chênh lệch tài sản cho bà O. Quan điểm của ông T đề nghị chia nhà đất làm 04 phần cho ông T, bà O và 02 con chung.

Về nợ chung: Ông T trình bày việc bà O vay nợ số tiền 500.000.000 đồng ông không biết nên ông không có trách nhiệm phải trả nợ cùng bà O.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Hà Huy  trình bày:Anh khẳng định không liên quan tới khoản nợ mà bà O khai tại tòa, không có việc bà O và ông T phải trả nợ thay cho anh.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 57/2023/HNGĐ-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân thành phố V, tỉnh Phú Thọ đã:

Áp dụng : khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33, Điều 38, Điều 39, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốchội; Điều 26 Luật Thi hành án dânsự.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn thị Oanh

Giao cho bà O được sở hữu và sử dụng: 01 nhà xây 3 tầng trên diện tích đất là 140,5 m2 ( trong đó có 113m2 đất ở và 26,5m2 đất vườn), đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu bìa AP 889019 đứng tên bà Nguyễn Thị O và ông Hà Lương T, mốc giới đất của bà O trong trích đo hiện trạng ngày 20/6/2023 là 1,2,3,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16,1 .

Bà O phải thanh toán cho ông T tiền chênh lệch tài sản là295.281.000,đồng ( Hai trăm chín lăm triệu, hai trăm tám mốt ngàn đồng).

Giao cho ông T được sử dung 78,5 m2 đất ( trong đó có 50 m2 đất ở và 28,5 m2 đất vườn), đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu bìa AP 889019 đứng tên bà Nguyễn Thị O và ông Hà Lương T, mốc giới đất của ông T trong trích đo hiện trạng ngày 20/6/2023 là 3,4,5,6,7,3

Ông T được nhận tiền chênh lệch tài sản là295.281.000,đồng (Hai trăm chín lăm triệu, hai trăm tám mốt ngàn đồng) do bà O thanh toán.

Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà O và ông T

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán và quyền yêu cầu thi hành án, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 15 tháng 9 năm 2023 ông T có đơn kháng cáo với nội dung: Không nhất trí quyết định bản án 57/2023/HNGĐ-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân thành phố Việt Trì; Trong thời hạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm ông T có đơn gửi cấp phúc thẩm: Trong đơn nêu anh  bán đất thuộc quyền sử dụng của anh  là con của ông bà để cùng ông T bà O làm nhà, bà O bán đất của chị H, ngoài ra ông T còn nộp các tài liệu chứng cứ (Tài liệu chứng cứ là trích lục bản án số 09 ngày 31 tháng 01 năm 2008 có nội dung thỏa thuận ông Á là bố đẻ bà O trả cho ông T bà O một thửa đất có diện tích 80m² có dấu sao lục; các tài liệu giấy tờ là bản phô tô liên quan đến ông T bà O và 02 bản ảnh có hình ngôi nhà cũ và vườn cây),

- Ông T đề nghị cấp phúc thẩm giao cho ông T được trực tiếp sử dụng diện tích đất có nhà xây và ông thanh toán chênh lệch tài sản cho bà O để ông T cùng các con có chỗ ở.

- Ông T đề nghị cấp phúc thẩm buộc bà O phải trả lại cho cháu H là con gái của ông bà 80m² đất và trả lại cho ông T 80m² đất.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn ông T giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, ông T đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm giao cho ông T được trực tiếp sử dụng diện tích đất có nhà xây và ông thanh toán chênh lệch tài sản cho bà O để ông T và các con chung có nơi ở; Nếu bà O trực tiếp sử dụng diện tích đất có nhà xây thì bà O phải thanh toán cho ông ½ giá trị; Ông T đề nghị cấp phúc thẩm buộc bà O phải trả lại cho cháu H 80m² đất và trả lại cho ông T 80m2 đất và chia tài sản cho các con chung của ông bà là cháu H và cháu  vì cháu  bán đất để làm nhà cùng ông bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn bà O không nhất trí nội dung kháng cáo của ông T, bà O vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm; Bà O trình bày toàn bộ tài sản là 219 m² đất mà Tòa án chia cho bà và ông T đều có nguồn gốc là do bố mẹ đẻ bà cho bà từ năm 1992, còn ngôi nhà xây được tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân giữa bà và ông T nhưng chủ yếu là do công sức của cải do bà đầu tư xây dựng mà có, cụ thể là bà có nghề giáo viên, buôn bán làm thêm và vay mượn còn ông T không có nghề nghiệp thu nhập gì, ngoài ra không có ai đóng góp công sức của cải gì cùng bà để xây dựng ngôi nhà nên Tòa án cấp sơ thẩm đã chia như vậy là đúng, còn diện tích đất ông Á là bố đẻ của bà trả cho bà và ông T năm 2008 thì bà và ông T đã cho con gái là Hà Thị Thu H1, nên bà không nhất kháng cáo của ông T.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, không chấp nhận kháng cáo của ông Hà Lương T, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 57/2023/HNGĐ-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa.

[1] Về việc kháng cáo của ông T, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1.1] Về hình thức đơn kháng cáo ông T làm trong luật định, đơn hợp lệ.

[1.2] Xét về nội dung kháng cáo: Ông T đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm giao cho ông T được trực tiếp sử dụng diện tích đất có nhà xây và ông thanh toán chênh lệch tài sản cho bà O để ông T và các con chung có nơi ở; Nếu bà O sử dụng trực tiếp diện tích đất có nhà xây thì bà O phải thanh toán cho ông ½ giá trị; Ông T đề nghị cấp phúc thẩm buộc bà O phải trả lại cho cháu H1 80m² đất và trả lại cho ông T 80m² đất và chia tài sản cho các con chung của ông bà là cháu H1 và cháu  vì cháu  đã bán đất để cùng ông bà làm nhà.

Hội đồng xét xử xét thấy: Kháng cáo của ông T là không có căn cứ chấp nhận, bởi lẽ:

- Thứ nhất: Toàn bộ tài sản là diện tích đất mà Tòa án cấp sơ thẩm đã chia cho bà O và ông T có nguồn gốc là của bố mẹ đẻ bà O tặng cho bà O, hơn nữa hiện nay bố đẻ bà O vẫn đang sống cùng bà O và đang do bà O trực tiếp phụng dưỡng; Đối với ngôi nhà xây bà O đã chứng minh được thu nhập của bản thân và vay mượn thêm để tạo dựng ngôi nhà xây trong thời kỳ hôn nhân cùng ông T, còn ông T khi đó là người không có nghề nghiệp, thu nhập nên không có đóng gì đáng kể; Vì vậy bà O được hưởng 2/3 tài sản và được trực tiếp sử dụng tài sản là phù hợp.

- Thứ hai ông T yêu cầu bà O phải trả cho ông 80m² đất và ông yêu cầu bà O phải trả cho con gái của ông bà là cháu H1 80m² đất, các yêu cầu này Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét vì những nội dung này không thuộc các nội dung mà bản án sơ thẩm đã giải quyết, đối với nội dung ông T đề nghị chia tài sản chung cho các con chung của ông bà là anh A và chị H1, Hội đồng xét xử xét thấy đây là tài sản chung của ông T và bà O (Ông T và bà O đều thừa nhận là tài sản của ông bà và không ai có yêu cầu xem xét bảo vệ quyền lợi trong khối tài sản chung của ông T và bà O), các con chung của ông bà không ai có công sức đóng góp, mặt khác tại cấp sơ thẩm anh  cũng không yêu cầu gì, tại cấp phúc thẩm anh  có đơn xin vắng mặt và giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở cấp sơ thẩm nên chỉ có căn cứ để chia tài sản cho ông T bà O là phù hợp.

[2] Về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Không chấp nhận đơn kháng cáo của ông T và giữ nguyên bản án sơ thẩm số 57/2023/HNGĐ-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân thành phố V, tỉnh Phú Thọ là có căn cứ được chấp nhận.

[3] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của ông T, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 57/2023/HNGĐ-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân thành phố V, tỉnh Phú Thọ

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo của ông T không được chấp nhận lẽ ra ông T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật nhưng ông T là người cao tuổi và có đề nghị xin miễn án phí nên cần miễn án phí cho ông T là phù hợp.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308, khoản 1 điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự;

Không chấp nhận kháng cáo của ông Hà Lương T.

Giữ nguyên bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 57/2023/HNGĐ-ST ngày 07/9/2023 của Tòa án nhân thành phố V, tỉnh Phú Thọ

Áp dụng: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 33, Điều 38, Điều 39, Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; Điều 26 Luật Thi hành án dânsự.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị O

Giao cho bà O được sở hữu và sử dụng: 01 nhà xây 3 tầng trên diện tích đất là 140,5 m2 ( trong đó có 113m2 đất ở và 26,5m2 đất vườn), đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu bìa AP 889019 đứng tên bà Nguyễn Thị O và ông Hà Lương T, mốc giới đất của bà O trong trích đo hiện trạng ngày 20/6/2023 là 1,2,3,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16,1.

Bà O phải thanh toán cho ông T tiền chênh lệch tài sản là 295.281.000,đồng ( Hai trăm chín lăm triệu, hai trăm tám mốt ngàn đồng).

Giao cho ông T được sử dung 78,5 m2 đất ( trong đó có 50 m2 đất ở và 28,5 m2 đất vườn), đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số hiệu bìa AP 889019 đứng tên bà Nguyễn Thị O và ông Hà Lương T, mốc giới đất của ông T trong trích đo hiện trạng ngày 20/6/2023 là 3,4,5,6,7,3

Ông T được nhận tiền chênh lệch tài sản là 295.281.000,đồng ( Hai trăm chín lăm triệu, hai trăm tám mốt ngàn đồng) do bà O thanh toán.

- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong; lãi xuất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự; Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà O và ông T.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự phúc thẩm cho ông Hà Lương T.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND thành phố Việt Trì;
  • - Chi cục THADS thành phố Việt Trì;
  • - TAND thành phố Việt Trì;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (02 bản);
  • - Lưu Văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HNGĐ-PT ngày 11/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn

  • Số bản án: 03/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tài sản chung sau khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp về hôn nhân và gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger