|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2024/HS-PT Ngày: 11/01/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Hoài Xuân.
Ông Nguyễn Thanh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Việt là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Bà Hồ Kim Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình thụ lý số: 193/2023/HSPT ngày 17 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo Lê Ngọc L, Trần Thanh D, Nguyễn Tiến D1 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 128/2023/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định.
- Bị cáo có kháng cáo:
-
Họ và tên: Lê Ngọc L (T gọi: Bành), sinh năm 1995 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Tổ A, khu V, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 7/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Ngọc T1 (Chết) và bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1963; Vợ: Nông Thị Q, sinh năm 1997, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2015 và nhỏ nhất sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Trần Thanh D (T gọi: Duy Rụng), sinh năm 1985 tại thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi thường trú: Tổ A, khu V, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định; Nơi ở hiện tại: Khu phố P, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Văn C (Chết) và bà Nguyễn Thị Kim M, sinh năm 1963; Vợ: Lê Thị Hồng D2, sinh năm 1989 (đã ly hôn), có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011 và nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án: Ngày 06/11/2019 bị Toà án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt ngày 06/11/2021; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; có đơn rút kháng cáo và đơn xét xử vắng mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Nguyễn Tiến D1, sinh năm 1979 tại huyện H, tỉnh Bình Định; Nơi cư trú: Thôn X, xã Â, huyện H, tỉnh Bình Định; Nghề nghiệp: Thợ cắt tóc; Trình độ học vấn: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: N (Chết) và bà Võ Thị D3 (Chết); Vợ: Nguyễn Thị Q1, sinh năm 1975 (đã ly hôn), có 01 người con sinh năm 2004; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 02/11/2018 bị Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”, chấp hành xong hình phạt ngày 02/11/2020; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú; vắng mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 05/6/2022, Lê Ngọc L cùng Trương Văn T2 đến quán cà phê “Yến Nhi” do bà Huỳnh Thị Thu L1 làm chủ uống cà phê và đánh bầu cua. L mang theo 3.000.000 đồng và bàn bầu cua, Lê Ngọc D4 mang theo 10.000.000 đồng đến quán cà phê “Yến Nhi” để cầm cái xốc bầu cua thắng thua bằng tiền. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì có Nguyễn Thị Mỹ L2 mang theo 1.100.000 đồng; Nguyễn Thị N mang theo 3.800.000 đồng; Nguyễn Thị Kim T3 mang theo 3.000.000 đồng; Nguyễn Tiến D1 mang theo 300.000 đồng; Phan Văn H mang theo 300.000 đồng; Hà Kim T4 mang theo 100.000 đồng đến để đánh bạc.
Đến khoảng 00 giờ 05 phút ngày 06/6/2022, phòng C1 Công an tỉnh B kiểm tra quán cà phê “Yến Nhi” phát hiện bắt quả tang thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.320.000 đồng cùng các dụng cụ dùng để đánh bạc.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2023/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo Lê Ngọc L; Xử phạt bị cáo Lê Ngọc L 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo Trần Thanh D; Xử phạt bị cáo Trần Thanh D 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự áp dụng cho bị cáo Nguyễn Tiến D1; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định hình phạt các bị cáo Lê Ngọc D4, Nguyễn Thị Mỹ L2, Nguyễn Thị N, Nguyễn Thị Kim T3, Phan Văn H, Trương Văn T2, Hà Kim T4 về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
Ngày 22.8.2023, bị cáo Lê Ngọc L có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Ngày 23.8.2023, bị cáo Trần Thanh D có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 11/01/2024, bị cáo D có đơn xét xử vắng mặt và xin rút kháng cáo.
Ngày 22.8.2023, bị cáo Nguyễn Tiến D1 có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên đề nghị quan điểm giải quyết vụ án: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc L và bị cáo Nguyễn Tiến D1, giữ nguyên mức hình phạt đối với các bị cáo L và D1. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Trần Thanh D xin rút toàn bộ yêu cầu kháng cáo. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo D.
Các bị cáo không bào chữa, không tranh luận, xin giảm hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo khai nhận hành vi phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong sơ vụ án. Do đó HĐXX có đủ căn cứ để xác định vụ án như sau:
Các bị cáo Lê Ngọc L, Trần Thanh D, Nguyễn Tiến D1 đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bầu cua với tổng số tiền trên chiếu bạc là 6.320.000 đồng. Do đó Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử các bị cáo Lê Ngọc L, Trần Thanh D, Nguyễn Tiến D1 theo khoản 1 Điều 321 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
Bị cáo Trần Thanh D rút kháng cáo nên đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo Lê Ngọc L, Nguyễn Tiến D1, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Cấp sơ thẩm đã xem xét toàn bộ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; căn cứ vào tình tiết định khung hình phạt; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xử phạt bị cáo mức hình phạt tù đã tuyên là phù hợp với các quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Tiến D1 có nhân thân xấu nên không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy bị cáo L có nhân thân tốt, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo L có hoàn cảnh gia đình khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có đủ điều kiện để được áp dụng Điều 65 BLHS nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
[3] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 355; khoản 1 Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Thanh D; Bản án hình sự sơ thẩm số 128/2023/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Q, tỉnh Bình Định đối với phần hình phạt tù của bị cáo Trần Thanh D có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 11/01/2024.
-
Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tiến D1; chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc L, sửa bản án sơ thẩm.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Ngọc L 07 (bảy) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 14 tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
-
Giao bị cáo Lê Ngọc L cho UBND phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
-
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình; Xử phạt bị cáo Nguyễn Tiến D1 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
-
-
Về án phí: Bị cáo Lê Ngọc L không phải chịu án phí HSPT; bị cáo Nguyễn Tiến D1 phải chịu 200.000đ án phí HSPT.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Bình |
Bản án số 03/2024/HS-PT ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự - đánh bạc
- Số bản án: 03/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Lê Ngọc L, Trần Thanh D, Nguyễn Tiến D1 đã có hành vi đánh bạc được thua bằng tiền dưới hình thức đánh bầu cua với tổng số tiền trên chiếu bạc là 6.320.000 đồng.
