|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP.ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 11-01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trương Thị Hai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Vinh
Ông Mai Văn Du
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dự, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Chức vụ: Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 112/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
-
NGUYỄN THỊ KIM ANH (tên gọi khác là H); sinh ngày 01 tháng 9 năm 1987 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Tổ A, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Lê Thị G, sinh năm 1966 (còn sống); Gia đình có 02 người con, bị cáo là con đầu; Có chồng: Trần Duy P, sinh năm 1988 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 23/3/2023 đến nay hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ. (Có mặt tại phiên tòa)
-
TRẦN THỊ SEN; sinh ngày 01 tháng 5 năm 1990 tại tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc T1, sinh năm 1957, còn sống và bà Huỳnh Thị L (chết); Gia đình có 05 người con, bị cáo là con thứ 3; Có chồng: Nguyễn Minh V, sinh năm 1984 và có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2011; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; Bị cáo đang bị áp
dụng biện pháp ngăn chặn bắt tạm giam từ ngày 23 tháng 3 năm 2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an thành phố Đ. (Có mặt tại phiên tòa)
-
TRẦN THỊ SANG; sinh ngày 03 tháng 8 năm 1987 tại tỉnh Quảng Nam. Nơi cư trú: Thôn D, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Công X (chết) và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1948 (còn sống); Gia đình có 05 người con, bị cáo là con út; Có chồng: Ngô Cao M, sinh năm 1981 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh ngày 15 tháng 5 năm 2022 (đến nay cháu được 19 tháng 27 ngày); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23 tháng 3 năm 2023 đến nay (Có mặt tại phiên tòa)
-
TRẦN DUY PHONG; sinh ngày 27 tháng 9 năm 1988 tại Đà Nẵng. Nơi cư trú: Tổ A, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H2, sinh năm 1962 (còn sống) và Trần Thị D, sinh năm 1964 (còn sống); Gia đình có 03 người con, bị cáo là con thứ 2; Có Vợ Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1987 và có 03 người con, lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2018.; tiền án: không; tiền sự: không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 02 tháng 10 năm 2023 đến nay (Có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại:
-
Chị Nguyễn Thị Bích K, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ E, thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt tại phiên tòa)
-
Bà Võ Thị N, sinh năm 1964; Địa chỉ: Số B đường Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt tại phiên tòa)
-
Bà Huỳnh Thị H3, sinh năm 1979; Địa chỉ: Thôn P, xã T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam. (Vắng mặt tại phiên tòa)
-
Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1968; Địa chỉ: Tổ D, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên tòa)
-
Chị Trần Thị S, sinh ngày 03 tháng 8 năm 1987. Nơi cư trú và chỗ ở: Thôn D, xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam. (Đồng thời là bị cáo trong vụ án) (Có mặt tại phiên tòa)
-
Chị Trần Thị S1, sinh ngày 01 tháng 5 năm 1990. Nơi ĐKNKTT và nơi ở: Thôn T, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. (Đồng thời là bị cáo trong vụ án) (Có mặt tại phiên tòa)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
-
Ông Huỳnh Quang T2, sinh năm 1956; Địa chỉ: Số A đường H, tổ A, phường H, quận T, thành phố Đà Nẵng. (Chủ tiệm T7) (Vắng mặt tại phiên tòa)
-
Ông Trần Văn H2, sinh năm 1962; Địa chỉ: Kiệt H đường M, tổ A, phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt tại phiên tòa)
-
Anh Trần Duy P1, sinh năm 1985; Địa chỉ: Kiệt A đường B, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên tòa)
-
Chị Trần Thị T3, sinh năm 1974; Địa chỉ: Đường Â, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt tại phiên tòa)
-
Nguyễn Văn L1, Địa chỉ: 2 T,phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên tòa)
-
Trần Thị Minh H4, sinh năm: 1973; Địa chỉ: N, quận S, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua việc bán hàng hoá dạo quanh các chợ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, Trần Thị S, Trần Thị S1 và Nguyễn Thị Kim A quen biết với nhau từ năm 2020, sau đó trao đổi số điện thoại và tài khoản facebook cho nhau rồi Trần Thị S1 đã lập nhóm qua ứng dụng tin nhắn messenger của facebook để trao đổi. Vào tháng 02 năm 2023, do việc buôn bán khó khăn, thu nhập bấp bênh, không đủ tiền tiêu xài nên Trần Thị S, Trần Thị S1 và Nguyễn Thị Kim A nảy sinh ý định dùng hạt mạch nha (còn gọi là hạt đại mạch, lúa mạch) giả làm thuốc chữa bệnh, đem bán cho người khác để lấy tiền rồi tiêu xài. Cả ba bàn bạc, thống nhất về phương thức, thủ đoạn và vai trò từng người như sau:
Nguyễn Thị Kim A có nhiệm vụ mua hạt mạch nha với giá 55.000 đồng/1kg tại cơ sở Đông y T8 ở tại số A H, phường H, quận T, sau đó đem về nhà phân chia thành các gói nhỏ, trọng lượng mỗi gói 1kg. Kim A và nhóm thoả thuận đặt tên cho hạt mạch nha là hạt “kim sương” và bán với giá 1.000.000 đồng/1kg. Số tiền bán được sẽ chia đều cho cả ba người sau khi trừ đi tiền vốn mua hạt và tiền chi phí khác. Kim A đóng vai là người bán hạt tại các chợ. S là người chọn địa điểm chợ và giờ giấc bán hạt để Kim A và S1 biết, tính tổng số tiền chiếm đoạt được chia cho từng người, đồng thời, cùng với S1 làm nhiệm vụ tìm kiếm những người có các biểu hiện bệnh như: đau mắt, tóc bạc, có khối u, bọng mắt...sau đó tiếp cận, thay nhau đóng giả làm bác sỹ đông y hoặc bác sỹ mắt rồi đưa ra thông tin gian dối là hạt “kim sương” có thể chữa được bệnh với liệu trình từ 7kg đến 10kg là sẽ khỏi hẳn. Khi bị hại tưởng thật hỏi địa chỉ để mua thì S1 hoặc S dẫn đến vị trí Kim A đang đợi sẵn. Cùng lúc này, người còn
lại (S1 hoặc S) sẽ đóng giả là người cần mua gấp một lượng lớn hạt “kim sương” dùng cho người nhà để tạo sự khan hiếm hàng hoá nhằm mục đích bị hại sẽ mua nhiều hơn. Với phương thức và thủ đoạn này, cả ba đã thực hiện nhiều lần để chiếm đoạt tài sản của nhiều người, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 20 tháng 02 năm 2023, tại chợ H10, huyện T, tỉnh Quảng Nam, Kim A ngồi ở đầu chợ còn S, S1 đi tìm khách. Tại đây, S thấy chị Nguyễn Thị Bích K (sinh năm 1983, trú tại T, Quảng Nam) nên tiếp cận và nói: “Chị bị thâm mắt giống em hồi xưa, em làm ở Bệnh viện T9, em mua trà thuốc chỗ ni uống hết, bệnh nhân của em nhiều người uống cũng hết, chị đi em chỉ cho”. Sau đó, S dẫn chị K đến gặp Kim A rồi nói với Kim A: “Em bán cho chị ni, chị ni bị thâm mắt giống bệnh nhân của chị” rồi rời đi. Cùng lúc, S1 tiến đến giả vờ nói Kim A bán cho S1 một bao thuốc do đang cần gấp và đưa tiền cho Kim A. Thấy chị K chần chừ chưa mua thì S1 nói: “Chị bị ri là nặng lắm, chị phải uống đủ liệu trình 6 kg, em là em của bác sỹ S2, em đi lấy thuốc cho bệnh nhân ở bệnh viện T10, nhiều người uống hết hẳn rồi”. Chị Kiều t là thật nên đồng ý mua 6 kg với số tiền 6.000.000 đồng. Số tiền bán được, cả ba trừ đi vốn 400.000 đồng và trả tiền nước, còn lại chia nhau mỗi người được 1.850.000 đồng rồi tiêu xài hết.
Vụ thứ hai:Vào sáng ngày 03 tháng 3 năm 2023, cả ba đến chợ H11, thuộc tỉnh Quảng Nam. Kim A ngồi trước cổng chợ đợi S và S1 đi tìm khách. Tại đây, S gặp bà Võ Thị N (sinh năm 1964, trú B Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam), S tiếp cận rồi nói: “Mắt cô lem nhem để con chỉ cô mua hạt “kim sương” uống là hết” rồi dẫn bà N đến chỗ Kim A giới thiệu cho bà N rồi điều khiển xe rời đi. Cùng lúc, S1 đến chỗ Kim A và giới thiệu tên là bác sỹ H5 làm ở Bệnh viên đa khoa H rồi giải thích về tác dụng của hạt “kim sương”. Bà N tưởng thật nên đã đồng ý mua 8kg với số tiền 8.000.000 đồng. Số tiền bán được, sau khi trừ chi phí, cả ba chia nhau mỗi người được 2.500.000 đồng rồi tiêu xài hết.
Vụ thứ ba: Sáng ngày 15 tháng 3 năm 2023, cả ba cùng đến chợ T11, thuộc tỉnh Quảng Nam. Tại đây, S gặp chị Huỳnh Thị H3 (sinh năm 1979, trú tại P, T, T, Quảng Nam) thì tiếp cận và nói với chị H3 bị bọng mắt để lâu sẽ bị mù, S giới thiệu chị H3 mua thuốc uống giống như một loại trà sẽ hết. Thấy chị H3 còn chần chừ, S nói: “Chị uống đi, em đang đi làm ở Bệnh viện M1 về, bạn em nhiều người lấy thuốc ni lắm 3 năm mới có một lần chị, mua chớ 3 năm mới có cơ hội để mua” rồi S dẫn chị H3 đến chỗ Kim A và nói: “Chị ni bán thuốc đây, bạn của em uống đỡ nhiều lắm”. Cùng lúc, S1 cũng tiến đến và nói với chị H3: “Tôi đi lấy thuốc cho bạn, hiện nay tôi đang làm bác sỹ da liễu, trưởng khoa của bệnh viện cũng nói là lấy trà hạt “kim sương” này uống đi, có thể chữa bọng mắt và tóc bạc”. Chị H3 tưởng thật nên đã đồng ý mua 9 kg hạt với số tiền là
9.000.000 đồng. Số tiền bán được, sau khi trừ đi chi phí, cả ba chia nhau mỗi người được 2.950.000 đồng rồi tiêu xài hết.
Vụ thứ tư: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17 tháng 3 năm 2023, cả ba đến chợ C1, thuộc quận C, thành phố Đà Nẵng. Tại đây, S1 tìm và gặp bà Lê Thị Đ (sinh năm 1968, trú tổ D, phường H, quận C). Do bà Đ có một cục thịt ở mắt nên S1 tiếp cận rồi giới thiệu hạt “kim sương” trị hết cục thịt này. S1 dẫn bà Đ đến chỗ Kim A đang ngồi, cho bà Đ số điện thoại của mình rồi điều khiển xe rời đi. Cùng lúc, S tiến đến chỗ của Kim A và nói đến lấy 7kg hạt cho mẹ vì mấy hôm trước mẹ uống có đỡ bệnh. Kim A giả vờ gói hàng đưa cho S, S giả vờ nhận hàng rồi đi nơi khác. Thấy vậy, bà Đ tin thật nên đồng ý mua 9 kg hạt với giá 9.000.000 đồng. Số tiền bán được, sau khi trừ đi chi phí, cả ba chia nhau mỗi người được 2.750.000 đồng rồi tiêu xài hết.
Vào ngày 19 tháng 3 năm 2023, trong quá trình Kim A làm việc với Cơ quan điều tra về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như đã nêu trên, Trần Duy P (là chồng của Kim A) biết được ý định của S và S1 muốn tìm người “chạy” để không bị xử lý hình sự thì nảy sinh ý định lừa đảo S và S1 để lấy tiền tiêu xài. Khi S1 hỏi: “anh có quen ai nhờ xin giùm” thì P trả lời: “để đó ta lo”. Kim A ngồi bên cạnh cũng nói với S1: “Anh P có người quen xin được”.
Đến 18 giờ ngày 19 tháng 3 năm 2023, P nhắn tin cho S1 và gọi điện thoại cho S nói chi phí xin không bị xử lý là 10.000.000 đồng mỗi người rồi nhắn số tài khoản 8880127091988 mở tại Ngân hàng Q mang tên “Tran Duy P2” để S1 và S chuyển tiền thì S1 và S đồng ý. Sau đó, S thông báo với P2 do ngày 18 tháng 3 năm 2023 đã đưa cho Kim A số tiền 1.500.000 đồng nên sẽ chuyển cho P2 số tiền 8.500.000 đồng còn lại để đủ 10.000.000 đồng để P2 lo việc trước. Còn tiền bồi thường cho bà Đ thì sẽ tính lại sau. P2 nói lại việc này thì Kim A cũng đồng ý. Sau đó, P2 nói với S: “Con S1 có hỏi thì mi nói chuyển rồi để hắn chuyển còn sáng mai mi chuyển cho ta”.
Cùng lúc này, S1 có nhắn tin qua ứng dụng messenger cho Kim A hỏi về việc P2 có lo được hay không, biết rõ là P2 không có khả năng lo được nhưng Kim A vẫn trả lời: “chắc đang đi gặp họ đó”, “ừ anh đó em kết nghĩa phong”, “anh phong lo được”. Đồng thời, Kim A hối thúc S1 chuyển tiền cho P2 để P2 lo công việc và nói dối rằng mình đã nhận được tiền do S chuyển.
Đến khoảng 08 giờ ngày 20 tháng 3 năm 2023, S1 chuyển cho P2 số tiền 10.000.000 đồng. Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày, chị Trần Thị T3 (sinh năm 1974, trú Â, H, Liên C; chị ruột S) cũng chuyển cho P2 8.500.000 đồng qua tài khoản của P2. Chiều cùng ngày, P2 chở Kim A đến cây ATM trên đường Đ, thuộc H rút số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền còn lại, P2 rút tiền mặt rồi tiêu xài hết. Ngày 22 tháng 3 năm 2023, Kim A đưa cho ông Trần Văn H2 (sinh năm 1962, trú tổ A, phường T, quận H, là cha ruột của P2) số tiền 5.000.000 đồng để
đóng tiền học cho con, trả nợ số tiền 2.000.000 đồng, tiêu xài 100.000 đồng. Còn lại 4.400.000 đồng sau khi bị phát hiện đã nộp cho Cơ quan điều tra.
Vật chứng thu giữ:
Thu giữ của Nguyễn Thị Kim A:
- Số tiền 12.000.000 đồng;
- 01 (Một) điện thoại di động Iphone 7 có gắn sim;
- 01 (Một) xe mô tô BKS 43C1-133.27 và giấy tờ liên quan;
Thu giữ của Trần Thị S:
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh, không gắn sim;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, có gắn sim;
- 01 (Một) xe mô tô loại ATTILA, BKS 43D1-668.08 và giấy tờ liên quan;
- Số tiền 1.400.000 đồng.
Thu giữ của Trần Thị S1:
- 01 (Một) điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu vàng đồng, không gắn sim;
- 01 (Một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, không gắn sim;
- 01 (Một) xe mô tô BKS 43K1-517.62 và giấy tờ liên quan.
Thu giữ của Trần Duy P:
- 01 điện thoại di động S4 A21S, không gắn sim;
- Số tiền 3.000.000 đồng.
Các bị hại nộp:
- 06 (sáu) bao ni lông trong đó có hạt thực vật màu vàng của chị Nguyễn Thị Bích K;
- 07 (bảy) bao ni lông trong đó có hạt thực vật màu vàng của bà Võ Thị N;
- 09 (chín) bao ni lông trong đó có hạt thực vật màu vàng của chị Huỳnh Thị H3;
- 14 (mười bốn) bao ni lông trong đó có hạt thực vật màu vàng của chị Lê Thị Đ;
Cơ quan CSĐT Công an quận C tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Trần Thị S1 và Nguyễn Thị Kim A thu giữ được những tang vật:
- Số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) do ông Trần Duy H6 tự nguyện giao nộp;
- 01 (Một) bao hạt thực vật, 01 bì chứa nhiều bao nilông và 01 cân số (hiệu N, loại 5kg) tại nhà của Nguyễn Thị Kim A;
- 01 (Một) quyển sổ ghi chép số tiền thu được từ việc phạm tội tại nhà Trần Thị S1.
- 01 (Một) quyển sổ tay của Trần Thị S1.
Tại bản cáo trạng số 115/CT-VKSCL ngày 30 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Kim A về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự, bị cáo Trần Thị S và Trần Thị S1 về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự, bị cáo Trần Duy P về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt:
-
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Kim A:
Áp dụng các điểm a, b, c khoản 2 Điều 174, các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
-
Đối với bị cáo Trần Thị S1:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174, các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
-
Đối với bị cáo Trần Thị Sang:
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 174, các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
-
Đối với bị cáo Trần Duy P:
Áp dụng khoản 1 Điều 174, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.
* Về trách nhiệm dân sự:
Bà Lê Thị Đ yêu cầu bồi thường số tiền 9.000.000 đồng, tại cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Kim A tự nguyện nộp 7.600.000 đồng và Trần Thị S tự nguyện nộp 1.400.000 đồng để bồi thường nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả số tiền 9.000.000 đồng cho bà Đ là có cơ sở.
Chị Nguyễn Thị Bích K yêu cầu bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, bà Võ Thị N yêu cầu bồi thường số tiền 6.400.000 đồng và bà Huỳnh Thị H3 yêu cầu bồi thường số tiền 7.500.000 đồng, các bị cáo đã bồi thường đầy đủ. Bà Đ, bà N, chị K, và chị H3 đã có đơn bãi nại dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Trần Thị S1 và Trần Thị S yêu cầu Kim A và P bồi thường mỗi người 10.000.000 đồng, P và Kim A chưa thực hiện bồi thường. Tuy nhiên, quá trình điều tra, P, Kim A và ông H6 tự nguyện giao nộp số tiền 12.400.000 đồng (Kim A giao nộp 4.400.000 đồng, ông H6 giao nộp: 5.000.000 đồng và P giao nộp: 3.000.000 đồng). Tại phiên tòa S xác nhận đã nhận của P số tiền 3.500.000 đồng, S1 xác nhận chồng S1 (Nguyễn Minh V) đã nhận của P số tiền 4.100.000 đồng. Do đó, đề nghị HĐXX cho S1 và S tiếp tục nhận số tiền còn lại tại cơ quan Thi hành án dân sự quận C.
* Xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 43C1-133.27 và giấy tờ kèm theo do anh Trần Duy P1 (sinh năm 1985, trú tổ A, T, H, Đà Nẵng; anh ruột P) đứng tên chủ sở hữu. Anh P1 cho Kim A mượn để dùng làm phương tiện đi lại, không biết việc Kim A sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý và trả lại xe và giấy tờ kèm theo cho anh P1 là có cơ sở.
Đối với 01 quyển sổ ghi chép số tiền thu được từ việc phạm tội tại nhà Trần Thị S1, là chứng cứ nên lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Đối với các vật chứng: Tổng cộng số tiền 12.400.000 đồng (trong đó Kim A giao nộp: 4.400.000 đồng; ông H6 (ba P) giao nộp: 5.000.000 đồng; P giao nộp, 3.000.000 đồng)
Đề nghị HĐXX tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các tài sản sau:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 có gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh, không gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, có gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động S4 A21S, không gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu vàng đồng, không gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, có gắn sim;
- 06 (sáu) điện thoại di động trên chưa kiểm tra sim và chất lượng bên trong.
- 01 xe mô tô BKS 43K1-517.62 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 036329 (không có chìa khóa xe) và chưa kiểm tra chất lượng bên trong
- 01 xe mô tô loại ATTILA, BKS 43D1-668.08 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 027374 (không có chìa khóa xe) và chưa kiểm tra chất lượng bên trong.
Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy:
- 01 cân số (hiệu N, loại 5kg)
- 06 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được đựng trong một bao nilông được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Nguyễn Thị Bích K, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an quận C (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
07 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được đựng trong một bao nilông được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Võ Thị N, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an quận C (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
09 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được đựng trong một bao nilông được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Huỳnh Thị H3, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an quận C (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
04 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Lâm Quang H7, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Chi cục Nông nghiệp thành phố Đ (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
08 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Lâm Quang H7, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Chi cục Nông nghiệp thành phố Đ (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
01 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng và một bao chứa nhiều bao ni lông khác nhau được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Lâm Quang H7, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Chi cục Nông nghiệp thành phố Đ (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
Ngoài ra, tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Trần Thị S và Trần Thị S1 khai nhận còn thực hiện nhiều vụ lừa đảo tương tự tại các chợ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng, tuy nhiên, chưa xác định được bị hại nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý là có cơ sở.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, các bị cáo xin hứa với HĐXX các bị cáo sẽ phấn đấu rèn luyện, trở thành công dân tốt, không vi phạm pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Trần Thị S1, Trần Thị S và Trần Duy P khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, HĐXX có đủ cơ sở khẳng định: Do không có việc ổn định và cần tiền để sinh sống nên từ ngày 20 tháng 02 năm 2023 đến ngày 17 tháng 3 năm 2023, tại địa bàn thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, Nguyễn Thị Kim A, Trần Thị S1 và Trần Thị S đã thống nhất, bàn bạc, phân công vai trò rồi cùng nhau đến các chợ, đưa ra thông tin gian dối hạt lúa mạch tên là hạt “kim sương”, có tác dụng chữa được các loại bệnh khiến chị Nguyễn Thị Bích K, Huỳnh Thị H3, bà Võ Thị N và bà Lê Thị Đ tin thật và mua với giá 1.000.000 đồng/kg, với tổng số tiền chiếm đoạt được là 32.000.000 đồng (Ba mươi hai triệu đồng) số tiền có được, cả ba chia nhau tiêu xài hết.
Sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Thị Kim A đã cùng Trần Duy P đưa ra thông tin gian dối rằng sẽ nhờ người xử lý hồ sơ để Kim A, S1 và S không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên S và S1 đã tin là thật và chuyển cho P số tiền 20.000.000 đồng. Số tiền chiếm đoạt được, Kim A và P tiêu xài vào việc cá nhân. Cụ thể, số tiền mà các bị cáo đã chiếm đoạt được như sau:
- Nguyễn Thị Kim A cùng Trần Thị S và Trần Thị S1 thực hiện 04 vụ, chiếm đoạt số tiền 32.000.000 đồng, lấy đó làm nguồn sống chính.
- Nguyễn Thị Kim A và Trần Duy P thực hiện 02 vụ, chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng.
Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Kim A phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo phạm tội với hình thức đồng phạm có sự cấu kết chặt chẽ với bị cáo S1 và S, đã cùng nhau phạm tội nhiều lần theo một kế hoạch đã thống nhất trước, được tính toán kỹ càng, chu đáo, có sự phân công vai trò giữa các bị cáo A, S1, S; bị cáo A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản 05 lần trở lên và lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn sống chính; bị cáo A chiếm đoạt tài sản giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng, tội phạm và hình phạt được quy định tại các điểm a,b,c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Thị S và Trần Thị S1 phạm tội có tổ chức như đã phân tích ở trên quy định tại điểm a khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Duy P được quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Hành vi của các bị cáo vi phạm các tình tiết định khung tăng nặng: phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, mỗi lần phạm tội với số tiền rất thấp. Hành vi của các bị cáo nêu trên thể hiện các bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội, gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, cần phải xử phạt thích đáng, tương xứng với hành vi và hậu quả mà các bị cáo đã gây ra.
Tuy nhiên xét vai trò của từng bị cáo thì thấy:
+ Trong vụ án này phạm tội có tổ chức: Anh, S1 và S cùng nhau đến các chợ tìm những người phụ nữ có biểu hiện bên ngoài về thể trạng da, dẻ, mắt có vấn đề về bệnh tật, các bị cáo phân chia nhiệm vụ cho nhau để tìm cách tiếp cận và đưa thông tin gian dối rằng có loại trị được bệnh bọng mắt, giảm tàn nhang, tóc bạc làm cho những người này tin tưởng mua hàng giao tiền cho các bị cáo. Để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo S1 lập ra một nhóm trò chuyện trên ứng dụng Messenger để trao đổi, bàn bạc nói chuyện với nhau về phương thức, thời gian, địa điểm, ăn chia số tiền chiếm đoạt, trước khi thực hiện hành vi vi phạm các bị cáo đã bàn bạc, phân công nhiệm vụ cho nhau cụ thể như sau: Kim A sẽ chịu trách nhiệm mua các hạt lúa mạch tại cửa hàng B địa chỉ A H, quận T, thành phố Đà Nẵng về phân chia vào từng bì ni lông nhỏ, mỗi bao 01 ký để dễ bán cho từng người, trực tiếp bán hạt lúa mạch, nhận tiền (gọi là người cân); S1 và S làm nhiệm vụ tìm kiếm khách, dụ dỗ bị hại đưa thông tin gian dối để thuyết phục người mua hàng. Sen theo dõi thu chi rồi ghi vào sổ đưa lên Facebook để kiểm tra. S là người chỉ địa điểm sẽ đi lừa và thông báo với nhau qua nhóm chung trên Facebook hoặc gọi điện thông báo cho nhau. Sau khi bán xong, Kim A đưa tiền cho S giữ rồi tính tiền để chia cho từng người. Tiền mua hạt lúa mạch, Kim A tính mỗi ký là 60.000 đồng (tính luôn tiền bao bì), sau khi bán được sẽ lấy tiền thu được trừ tiền vốn, tiền nước uống, số tiền còn lại chia đều cho mỗi người. Trong các bị cáo S là người quyết định địa điểm các chợ và địa điểm ngồi tại chợ để thực hiện hành vi lừa đảo, S giữ tiền và chia tiền cho các bị cáo. Từ những phân tích trên xét thấy trong vụ án này Kim A có vai trò chính, sau đó đến S1 và đến S.
Đối với việc Nguyễn Thị Kim A đã cùng Trần Duy P đưa ra thông tin gian dối rằng sẽ nhờ người xử lý hồ sơ để Kim A và S1, S không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên Trần Thị S và Trần Thị S1 đã tin là thật và chuyển cho P số tiền 20.000.000 đồng. Kim A và P là đồng phạm giản đơn, P có vai trò thực hành, Kim A giúp sức cho P.
[3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, mặc dù hoàn cảnh gia đình các bị cáo rất khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, người bị hại xin
giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài các tình tiết giảm nhẹ chung giống bị cáo Kim A và S1, bị cáo S còn có thêm 03 tình tiết giảm nhẹ: Gia đình có công cách mạng (gia đình có bà Nguyễn Thị T5 là bà mẹ Việt Nam anh hùng, ông Ngô T6 và bà Nguyễn Thị T5 được nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam tặng huân chương hạng nhì vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông Ngô G1 được nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam tặng huân chương hạng ba vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước,ông Ngô G1 đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước (liệt sĩ), ông Ngô Ú được nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam tặng huân chương hạng nhì vì đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông Ngô D1 đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước (liệt sĩ), bà Ngô Thị R được Thủ tướng Chính phủ nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam tặng kỷ niệm chương là chiến sĩ cách mạng bị địch bắt, tù đầy vì đã nêu cao tinh thần kiên trung bất khuất, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc.); Có con nhỏ nhất sinh ngày 15 tháng 5 năm 2022 chưa đủ 36 tháng tuổi; nuôi 03 con nhỏ ( 02 con bị bệnh, 01 con còn bú sữa mẹ). Cụ thể: con đầu Ngô Thị Tường V1 sinh năm 2011 vào năm 2018 bị tai nạn giao thông tụ huyết não để lại di chứng đến bây giờ, con thứ 2 Ngô Thanh V2, sinh năm: 2019 bị sốt, co giật thường xuyên đi viện, con thứ 3 Ngô Khả H8, sinh ngày 15 tháng 5 năm 2022 còn quá nhỏ. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo P: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đã tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường cho người S và S1, S và S1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận. Do đó HĐXX cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.3] Căn cứ tính chất mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS như trên, HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim A và bị cáo Trần Thị S1 thích đáng, cách ly các bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để có tác dụng cải tạo giáo dục đồng thời để răn đe làm gương cho người khác.
[3.4] Căn cứ tính chất mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS như trên, HĐXX xét thấy bị cáo Trần Thị S chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, phạm tội do am hiểu pháp luật còn hạn chế và nguyên nhân phạm tội là do cuộc sống quá khó khăn, các con còn nhỏ, bị bệnh, tật. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, từ trước đến nay bị cáo chấp hành tốt pháp luật và các nghĩa vụ tại địa phương. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù, vẫn có khả năng cải tạo và việc hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, HĐXX quyết định cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về UBND nơi bị cáo đang sinh sống giám sát, giáo dục cũng có tác dụng răn đe đối với bị cáo đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và tạo điều kiện để bị cáo chăm sóc, nuôi dưỡng cho các con đang bị bệnh.
[3.5] Căn cứ tính chất mức độ phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ TNHS như trên, HĐXX xét thấy bị cáo P là chồng của bị cáo Kim A trong cùng vụ án, bị cáo Kim A đã cách ly ra ngoài xã hội, hiện bị cáo P là lao động chính trong gia đình, nuôi 03 con và phụng dưỡng cha mẹ già, bị cáo P có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy không cần thiết phải buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù, vẫn có khả năng cải tạo và việc hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội. Vì vậy, HĐXX quyết định cho bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo về UBND nơi bị cáo đang sinh sống giám sát, giáo dục cũng có tác dụng răn đe đối với bị cáo đồng thời thể hiện tính khoan hồng của pháp luật và cũng tạo điều kiện cho bị cáo thay vợ chăm sóc cho 03 con nhỏ, phụng dưỡng cha mẹ trong lúc không có vợ bị cáo ở nhà.
Ngoài ra, tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Thị Kim A, Trần Thị S1 và Trần Thị S tự nguyện khai nhận còn thực hiện nhiều vụ lừa đảo tương tự tại các chợ trên địa bàn tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng, tuy nhiên, chưa xác định được bị hại nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục xác minh, xử lý là có cơ sở nên HĐXX không đề cập xử lý trong vụ án này.
[4] Đối với các đối tượng liên quan:
Đối với ông Trần Duy H6, không biết số tiền bị cáo Nguyễn Thị Kim A đưa là tiền do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.
Đối với chị Trần Thị T3 chuyển tiền giúp cho Trần Thị S nhưng không biết tiền này để dùng vào việc phạm tôi nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.
Đối với ông Nguyễn Văn L1 làm nghề xe ôm, được Nguyễn Thị Kim A thuê vận chuyển hạt, không liên quan đến hành vi phạm tội của Kim A và đồng phạm nên Cơ quan điều tra không đề cập, xử lý là có cơ sở.
Đối với Trần Thị Minh H4 cho Nguyễn Thị Kim A mượn số tài khoản để nhận tiền do bà Lê Thị Đ chuyển đến, không biết đây là tiền do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có cơ sở.
[5] Đánh giá về vật chứng, xử lý vật chứng:
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 43C1-133.27 và giấy tờ kèm theo do anh Trần Duy P1 (sinh năm 1985, trú tổ A, T, H, Đà Nẵng; anh ruột P) đứng tên chủ sở hữu. Anh P1 cho Kim A mượn để dùng làm phương tiện đi lại, không biết việc Kim A sử dụng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý và trả lại xe và giấy tờ kèm theo cho anh P1 là có cơ sở nên HĐXX không đề cập đến.
Đối với 01 quyển sổ ghi chép số tiền thu được từ việc phạm tội tại nhà Trần Thị S1, là chứng cứ nên lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Đối với các vật chứng: Số tiền 4.400.000 đồng còn lại của Nguyễn Thị Kim A giao nộp, số tiền 5.000.000 đồng do ông H6 giao nộp, 3.000.000 đồng do P giao nộp trả lại cho S1 và S.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các tài sản sau là công cụ,
phương tiện dùng vào việc phạm tội:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 có gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh, không gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, có gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động S4 A21S, không gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu vàng đồng, không gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, có gắn sim;
- 06 (sáu) điện thoại di động trên chưa kiểm tra sim và chất lượng bên trong.
- 01 xe mô tô BKS 43K1-517.62 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 036329 (không có chìa khóa xe) và chưa kiểm tra chất lượng bên trong
- 01 xe mô tô loại ATTILA, BKS 43D1-668.08 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 027374 (không có chìa khóa xe) và chưa kiểm tra chất lượng bên trong.
Tịch thu tiêu hủy do không còn giá trị sử dụng:
- 01 cân số (hiệu N, loại 5kg)
- 06 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được đựng trong một bao nilông được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Nguyễn Thị Bích K, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an quận C (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
07 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được đựng trong một bao nilông được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Võ Thị N, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an quận C (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
09 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được đựng trong một bao nilông được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Huỳnh Thị H3, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an quận C (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
04 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Lâm Quang H7, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Chi cục Nông nghiệp thành phố Đ (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
08 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Lâm Quang H7, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Chi cục Nông nghiệp thành phố Đ (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
01 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng và một bao chứa nhiều bao ni lông khác nhau được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Lâm Quang H7, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Chi cục Nông nghiệp thành phố Đ (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Bà Lê Thị Đ yêu cầu bồi thường số tiền 9.000.000 đồng, tại cơ quan điều tra, Nguyễn Thị Kim A tự nguyện nộp 7.600.000 đồng và Trần Thị S tự nguyện nộp 1.400.000 đồng để bồi thường nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả số tiền 9.000.000 đồng cho bà Đ là có cơ sở.
Chị Nguyễn Thị Bích K yêu cầu bồi thường số tiền 5.000.000 đồng, bà Võ Thị N yêu cầu bồi thường số tiền 6.400.000 đồng và bà Huỳnh Thị H3 yêu cầu bồi thường số tiền 7.500.000 đồng, các bị cáo đã bồi thường đầy đủ. Bà Đ, bà N, chị K, và chị H3 đã có đơn bãi nại dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên HĐXX không xem xét.
Trần Thị S1 và Trần Thị S yêu cầu Kim A và P bồi thường mỗi người 10.000.000 đồng, P và Kim A chưa thực hiện bồi thường. Tuy nhiên, quá trình điều tra, P, Kim A và ông H6 tự nguyện giao nộp số tiền 12.400.000 đồng (Kim A giao nộp: 4.400.000 đồng, ông H6 (ba ruột P) giao nộp: 5.000.000 đồng, P giao nộp: 3.000.000 đồng). Tại phiên tòa S xác nhận đã nhận của P số tiền 3.500.000 đồng, S1 xác nhận chồng S1 (Nguyễn Minh V) đã nhận của P số tiền 4.100.000 đồng. Vậy S nhận tại cơ quan Thi hành án dân sự quận C số tiền 6.500.000 đồng, S1 nhận tại cơ quan Thi hành án dân sự quận C số tiền 5.900.000 đồng.
[7] Về án phí: Căn cứ Điều 136 của bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí tòa án các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của HĐXX nên HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào các điểm a, b, c khoản 2 Điều 174, các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Kim A phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Kim A 02 (Hai) năm 06 (S3) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/3/2023.
-
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 174, các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Sen phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
+ Xử phạt bị cáo Trần Thị Sen 02 (Hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/3/2023.
-
Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 174, các điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Thị S phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
+ Xử phạt bị cáo Trần Thị Sang 02 (H9) năm tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm, thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/01/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Quảng Nam nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
-
Căn cứ khoản 1 Điều 174, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Trần Duy P phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”
+ Xử phạt bị cáo Trần Duy P 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng, thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/01/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường T, quận H, thành phố Đà Nẵng nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
-
Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ các điều 584, 589 Bộ luật dân sự năm 2015
Bị cáo Trần Thị S nhận tại cơ quan Thi hành án dân sự quận C, thành phố Đà Nẵng số tiền 6.500.000 đồng (Sáu triệu năm trăm ngàn đồng).
Bị cáo Trần Thị S1 nhận tại cơ quan Thi hành án dân sự quận C, thành phố Đà Nẵng số tiền 5.900.000 đồng (Năm triệu chín trăm ngàn đồng).
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 BLHS năm 2015, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên:
Đối với 01 quyển sổ ghi chép số tiền thu được từ việc phạm tội tại nhà Trần Thị S1, là chứng cứ nên lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Đối với các vật chứng: Tổng cộng số tiền 12.400.000 đồng (trong đó Kim A giao nộp: 4.400.000 đồng; ông H6 (ba P) giao nộp: 5.000.000 đồng; P giao nộp, 3.000.000 đồng) trả lại cho S và S1 như nêu trên.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước các tài sản sau:
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 7 có gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu VIVO, màu xanh, không gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, có gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động S4 A21S, không gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động Iphone 12 Pro Max màu vàng đồng, không gắn sim;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen, có gắn sim;
- 06 (sáu) điện thoại di động trên chưa kiểm tra sim và chất lượng bên trong.
- 01 xe mô tô BKS 43K1-517.62 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 036329 (không có chìa khóa xe) và chưa kiểm tra chất lượng bên trong
- 01 xe mô tô loại ATTILA, BKS 43D1-668.08 và Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 027374 (không có chìa khóa xe) và chưa kiểm tra chất lượng bên trong.
Tịch thu tiêu hủy những vật chứng sau:
- 01 cân số (hiệu N, loại 5kg)
- 06 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được đựng trong một bao nilông được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Nguyễn Thị Bích K, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an quận C (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
- 07 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được đựng trong một bao nilông được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Võ Thị N, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an quận C (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
- 09 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được đựng trong một bao nilông được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Huỳnh Thị H3, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an quận C (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
- 04 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Lâm Quang H7, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Chi cục Nông nghiệp thành phố Đ (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
- 08 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng, được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Lâm Quang H7, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Chi cục Nông nghiệp thành phố Đ (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
- 01 bao ni lông bên trong chứa hạt thực vật màu vàng và một bao chứa nhiều bao ni lông khác nhau được niêm phong trong thùng giấy có chữ ký của Lâm Quang H7, Lý Thị Thanh T4 và dấu màu đỏ của Chi cục Nông nghiệp thành phố Đ (chưa kiểm tra số lượng, chất lượng bên trong)
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 12 năm 2023 giữa công an quận quận C, thành phố Đà Nẵng và Chi cục thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng và giấy nộp tiền ngày 08 tháng 12 năm 2023 số tiền 12.400.000 đồng).
-
Về án phí: Mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, những người tham gia tố tụng tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người tham gia tố tụng khác vắng mặt có quyền kháng cáo với thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Thị Hai |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Nguyễn Thị Kim Anh, Trần Thị Sen, Trần Thij Sang, Trần Duy Phong phạm tội Lừa đảo chiêm đoạt tai san
