Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ H

TỈNH H

Bản án số: 03/2024/HSST.

Ngày: 11/01/2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Ph

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H - TỈNH H

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tân Huyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Khải và ông Phan Xuân Hùng

Th ký phiên toà: Ông Lê Mạnh Hùng - Th ký Tòa án nhân dân thị xã H, tỉnh H.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H, tỉnh H tham gia phiên tòa: Bà Đặng Hiền Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã H, mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 86/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 95/2023/ QĐXXST-HS ngày 12 tháng 12 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2023/QĐ – HSST ngày 26/12/2023 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thanh L; Sinh năm 1982, tại tỉnh H; Hộ khẩu Thường trú: Tổ dân phố V, phường Bần Yên Nhân, thị xã H, tỉnh H; Nghề nghiệp: Viên chức; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Nguyễn Thanh V (đã chết); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị C; Vợ: Phạm Thị Y, sinh năm 1989. (đã ly hôn), có 02 con, lớn sinh năm 2009, nhỏ sinh năm 2013.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2023, tạm giam từ ngày 23/6/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã H. Có mặt tại phiên tòa

  2. Nguyễn Thành L; Sinh năm 1994, tại tỉnh H; Hộ khẩu Thường trú: Tổ dân phố Nguyễn Xá, phường Nhân Hòa, thị xã H, tỉnh H; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Nguyễn Hải B; Họ và tên mẹ: Trịnh Thị Th; Vợ: Nguyễn Vân A, sinh năm 2000; có 02 con, lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/6/2023, tạm giam từ ngày 23/6/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã H. Có mặt tại phiên tòa

  3. Đinh Văn B- Sinh năm 1978, tại tỉnh H; Hộ khẩu Thường trú: Thôn Yên Phú, xã Giai Phạm, huyện Yên Mỹ, tỉnh H; Nghề nghiệp: Viên chức; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Đinh Văn Đ; Họ và tên mẹ: Lê Thị Th; Vợ: Luyện Thị Thanh U, sinh năm 1979; có 2 con, lớn sinh năm 2002, nhỏ sinh năm 2008.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2023 đến ngày 23/6/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Gi, huyện Y, tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.

  4. Vũ Quốc Tr- Sinh năm 1996, tại tỉnh H, Hộ khẩu Thường trú: Tổ dân phố Y, phường Ph, thị xã H, tỉnh H; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Vũ Thành V; Họ và tên mẹ: Trần Thị T; Vợ: Đào Thị H, sinh năm 1999; Có 02 con, lớn sinh năm 2019, nhỏ sinh năm 2021.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2023, tạm giam từ ngày 23/6/2023; Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã H. Có mặt tại phiên tòa.

  5. Nguyễn Thành L; Sinh năm 1995, tại tỉnh H; Hộ khẩu Thường trú: Tổ dân phố Y, phường Ph, thị xã H, tỉnh H. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Nguyễn Đức Ng; Họ và tên mẹ: Đỗ Thị H, Vợ: Nguyễn Thị H – Sinh năm 1996; con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/6/2023, tạm giam từ ngày 23/6/2023. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã H. Có mặt tại phiên tòa.

  6. Đỗ Bá M; Sinh năm 1997, tại tỉnh H; Hộ khẩu Thường trú: Thôn B, xã Đ, huyện Kh, tỉnh H; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Họ và tên cha: Đỗ Bá H; Họ và tên mẹ: Đỗ Thị H; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo bị tạm giữ ngày 17/6/2023 đến ngày 23/6/2023 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã Đ, huyện Kh, tỉnh H, có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan

  1. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm:1990
  2. Địa chỉ: Tổ dân phố L, phường Nh, thị xã H, tỉnh H.

  3. Chị Lê Thị Tr, sinh năm: 2002
  4. Địa chỉ: Thôn Ch, xã V, huyện Â, tỉnh H.

  5. Chị Lê Thị Trà Gi, sinh năm: 2002
  6. Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Ph, thị xã H, tỉnh H.

  7. Chị Triệu Thị S, sinh năm: 2004
  8. Địa chỉ: Thôn Nh, xã T, huyện Y, tỉnh H.

  9. Chị Lê Thị Cẩm H, sinh năm: 2005
  10. Địa chỉ: Làng D, xã T, huyện Y, tỉnh H.

  11. Anh Nguyễn Đa Ph, sinh năm: 1982
  12. Anh Nguyễn Trọng H, sinh năm: 1981
  13. Đều có địa chỉ: Tổ dân phố V, phường B, thị xã H, tỉnh H.

  14. Anh Nguyễn Xuân Th, sinh năm: 1983
  15. Địa chỉ: Thôn Y, xã Gi, huyện Y, tỉnh H.

  16. Anh Trần Văn V, sinh năm: 1997
  17. Địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường Ph, thị xã H, tỉnh H.

  18. Anh Vũ Minh H, sinh năm: 1994
  19. Địa chỉ: Tổ dân phố V, phường B, thị xã H, tỉnh H.

Người làm chứng

  1. Chị Nguyễn Thị T, sinh năm: 1988
  2. Địa chỉ: Thôn Nh, xã T, huyện Y, tỉnh H.

  3. Chị Phạm Thị Ng, sinh năm: 1986
  4. Chị Trịnh Thị Th, sinh năm:1970
  5. Đều có địa chỉ: Tổ dân phố Ng, phường Nh, thị xã H, tỉnh H.

  6. Ông Vũ Thành V, sinh năm: 1974
  7. Ông Nguyễn Đức Ng, sinh năm: 1972
  8. Đều có địa chỉ: Tổ dân phố Y, phường Ph, thị xã H, tỉnh H.

(Tại phiên toà người làm chứng chị Trịnh Thị Th và anh Nguyễn Đức Ng có mặt. Toàn B những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt; Những người làm chứng khác vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ 23 giờ ngày 16/6/2023 đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 17/6/2023, tại phòng Vip 7 và Vip 6 quán Karaoke Sen Hồ thuộc Làng du lịch sinh thái Sen Hồ ở tổ dân phố Ph, phường D, thị xã H, Nguyễn Thanh L, Nguyễn Thành L, Đinh Văn B; Vũ Quốc Tr, Nguyễn Thành L và Đỗ Bá M đã có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể như sau:

1. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng vip 7:

Khoảng 22 giờ ngày 16/6/2023 sau khi uống bia xong, Nguyễn Thanh L cùng với Nguyễn Đa Ph, Vũ Minh Hiếu và Nguyễn Trọng H (đều ở cùng tổ dân phố V, phường Bần Yên Nhân với L) rủ nhau đi hát Karaoke. L gọi điện cho Nguyễn Thành L là nhân viên của khu sinh thái Sen Hồ để thuê phòng hát thì L đồng ý. Sau đó, L, Hiếu, H, Ph đi xe ô tô taxi đến quán Karaoke Sen Hồ thì được L dẫn từ cửa sau vào phòng hát Vip7. Tất cả ngồi hát karaoke một lúc thì L gọi điện cho chị Nguyễn Thị T (làm nghề tẩm quất) rủ chị T và nhân viên của chị T đến hát, chị T đồng ý. Sau đó, 02 nhân viên của chị T là Triệu Thị S và Lê Thị Cẩm H đến tham gia hát cùng. Quá trình ngồi hát, có Đinh Văn B và Nguyễn Xuân Th đến hát cùng. Th và H hát một lúc thì về trước. Lúc này trong phòng chỉ còn có L, L, B, Ph, Hiếu, S và Lê Thị Cẩm H. L rủ mọi người sử dụng trái phép chất ma túy thì tất cả đồng ý. L để 2 túi nilon chứa ma túy lên bàn rồi lấy 01 túi chứa 5 viên ma túy kẹo hình viên thuốc con nhộng, L rút vỏ con nhộng ra rồi đổ ma túy vào cốc côca-côla và dùng thìa nhựa khoấy đều, để trên mặt bàn. B cầm cốc ma túy L vừa pha uống trước, sau đó rót ra cốc thủy tinh nhỏ hơn đưa cho Hiếu và Ph uống. Ph uống thấy đắng nên đổ xuống nền nhà. B rót cốc ma túy cho S và H nhưng cả hai đều không uống. B tiếp tục rót cho L uống. L uống xong đưa cho L sử dụng. Sau đó, L tự đi ra khu vực phía bếp ăn lấy 01 chiếc đĩa sứ vào phòng và dùng bật lửa hơ nóng đĩa sứ rồi để lên bàn. S và H thấy vậy nên đi ra ngoài. L bảo L xào ke thì L cầm ma túy đổ ra đĩa. L hỏi B có thẻ không thì B lấy từ trong ví ra một thẻ giấy mang tên Đinh Văn B của Tr cao đẳng công nghiệp H. L đưa cho L một tờ tiền 20.000 đồng để L quấn ống hút. Do thẻ giấy mềm không rằm được ma túy nên L hỏi B còn thẻ khác không. Lúc này, B đưa cho L một thẻ căn cước công dân mang tên Đinh Văn B, L trả lại thẻ cũ cho B. L rằm ma túy và chia thành các đường chỉ nhỏ, rồi lấy ống hút từ L trực tiếp hít 1 đường chỉ ma túy ke vào mũi sau đó đưa cho L sử dụng. L sử dụng xong đặt xuống bàn thì Ph tự lấy đĩa ma túy lên sử dụng. L và L ra ngoài tìm S và H thì thấy Công an nên L chạy vào phòng thông báo cho mọi người và cầm đĩa ma túy trên bàn đi ra khu vệ sinh hất một ít ma túy xuống bồn cầu, L nghĩ Công an đến kiểm tra qua loa nên mang đĩa ma túy ra khu vực bếp cất giấu để khi Công an ra về mọi người tiếp tục dùng. Sau đó bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện.

Cơ quan điều tra tiến hành khám nghiệm hiện Tr. Vật chứng thu giữ tại phòng vip 7: 01 túi nilon kiểu túi zip bên trong có 10 nửa vỏ kiểu dạng thuốc con nhộng màu đỏ (niêm phong ký hiệu N2); 01 cốc thủy tinh trơn không có tay cầm (niêm phong ký hiệu N3). Ngoài ra còn thu giữ của: L số tiền 8.300.000 đồng, 01 điện thoại Iphone xs max màu trăng; thu giữ của B 01 điện thoại Samsung Galaxy M12, 01 ví giả da màu nâu, 01 thẻ cứng của Tr cao đẳng công nghiệp H mang tên THS. Đinh Văn B - Phó trưởng phòng NCKH&HTQT (niêm phong ký hiệu C); thu giữ của L 01 điện thoại Iphone 6S Plus màu hồng, 01 xe mô tô Honda SH màu đỏ đen biển số 89F1-176.17. Đối với 01 tờ tiền 20.000 đồng các đối tượng quận dùng làm ống hút, cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành rà soát nhưng không thu giữ được.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Thành L chỉ dẫn đến khu vực cất giấu ma túy. Kết quả thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 28cm, mặt trên của đĩa có chất tinh thể màu trắng (trên đĩa ghi chữ Đ1, niêm phong ký hiệu Đ4), chất tinh thể này được cho vào túi zip có viền màu đỏ (niêm phong ký hiệu Đ1).

Tại Bản thông báo kết luận sơ B ngày 17/6/2023 và Bản kết luận giám định số 385/KL-KTHS(MT) ngày 20/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu xanh dạng Bt bám dính trong 10 nửa vỏ dạng viên thuốc con nhộng màu đỏ, trong niêm phong ghi ký hiệu N2 không xác định được khối lượng là ma túy, loại MDMA. Tìm thấy dấu vết ma túy, loại MDMA, Ketamine ở đáy cốc thủy tinh trong niêm phong ghi ký hiệu N3. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu Đ1 có khối lượng 1,307 (Một phẩy ba không bẩy gam) là ma túy, loại Ketamine. Mẫu hoàn lại được niêm phong trong một niêm phong ghi số: 385/KL-KTHS(MT) bên trong có: 10 nửa vỏ dạng viên thuốc con nhộng màu đỏ, trong niêm phong ghi ký hiệu N2; 01 cốc thủy tinh màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu N3; 1,254g ma túy, loại Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu Đ1.

Tại Bản kết luận giám định số 388/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh H kết luận: Tìm thấy dấu vết ma túy, loại Ketamine ở thẻ căn cước công dân mang tên Đinh Văn B số [...] cấp ngày 09/5/2021 tại Cục CSQLHC về TTXH trong niêm phong ký hiệu C. Không tìm thấy dấu vết ma túy ở thẻ cứng của Tr cao đẳng Công nghiệp H mang tên Đinh Văn B, Phó trưởng phòng NCKH&HTQT trong niêm phong ghi ký hiệu C. Hoàn lại đối tượng giám định.

Ngày 17/6/2023 Cơ quan điều tra đã tiến hành thu giữ niêm phong mẫu nước tiểu của Nguyễn Thanh L ký hiệu M7-1, của Nguyễn Đa Ph ký hiệu M7-2, Vũ Minh Hiếu ký hiệu M7-3, Đinh Văn B ký hiệu M7-4, Nguyễn Thành L ký hiệu M7-5, Triệu Thị S ký hiệu M7-6, Lê Thị Cẩm H ký hiệu M7-7 và trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận số 4574/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Viện Khoa học hình sự, B Công an kết luận: Tìm thấy chất ma túy MDMA và Ketamine trong mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M1-1 và M7-5 gửi giám định. Tìm thấy chất ma túy MDMA trong mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M7-3 và M7-4 gửi giám định. Tìm thấy chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M7-2 gửi giám định. Không tìm thấy chất ma túy và sản phẩm chuyển hóa trong mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M7-6 và M7-7 gửi giám định.

Ngày 30/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã tiến hành thu thập mẫu vân tay của L, L, B và trưng cầu giám định. Tại bản kết luận số 5006/KL-KTHS ngày 07/8/2023 của Viện Khoa học hình sự, B Công an kết luận: Trên đĩa sứ có chữ Đ1 gửi giám định phát hiện 04 dấu vết vân tay đủ yếu tố giám định, ký hiệu từ số 01 đến số 04. Dấu vết vân tay ký hiệu số 01, 02 với dấu vân tay in ở ô cái trái, giữa trái trên chỉ bản ghi tên Nguyễn Thanh L là của cùng một người. Dấu vết vân tay ký hiệu số 03 với dấu vân tay in ở ô giữa phải, dấu vết ký hiệu số 04 với dấu vân tay in ở ô trỏ phải bên chỉ bản ghi tên Nguyễn Thành L là cùng một người.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thanh L khai: Nguồn gốc số ma túy là L mua của chị Nguyễn Thị H sinh năm 1990 ở tổ dân phố Lỗ Xã, phường Nhân Hòa. Trước đó, khoảng 23 giờ ngày 16/6/2023, L gọi điện thoại rủ H đến hát và hỏi có ma túy thì mang lên cho L. Sau đó, khoảng 00 giờ ngày 17/6/2023 H đến trước cửa phòng tại khu vực hành lang đưa cho L 01 túi nilon dạng túi zip bên trong có 2 túi nilon màu trắng, bên trong có 1 túi nilon chứa 5 viên nhộng màu hồng là ma túy kẹo và một túi nilon chứa ma túy ke tại khu vực trước cửa phòng vip 7. Sau khi đưa ma túy xong thì H đi về.

Ngày 19/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị H, thu giữ: 01 túi nilon nhỏ dạng túi zip viền dập màu xanh túi màu trắng niêm phong ký hiệu K1; 01 túi giấy màu trắng in chữ Ngọc Hiệp bên trong có 01 thẻ cứng Phòng khám đa khoa Việt Mỹ tên Nguyễn Thị H, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng số seri PR2005770; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn theo hình ống hút số seri QE20555288, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuốn tròn dạng ống hút số seri RQ19672775, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng cuộn tròn dạng ống hút được cố định bằng vỏ đầu thuốc lá Thăng L số seri EB21685043, 02 túi nilon màu trắng dạng túi zip viền màu đỏ; 04 túi nilon màu trắng dạng túi zip viền màu xanh, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng số seri YD5910468, tất cả được niêm phong trong hộp bìa catton ký hiệu K2; 01 túi nilon nhỏ màu trắng dạng túi zip viền màu xanh niêm phong ký hiệu K3; 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được cuộn tròn dạng ống hút số seri II18041397, 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng số seri VA6867905, 01 đầu lọc thuốc lá thăng L rỗng, được niêm phong ký hiệu K4; 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, số seri MY8447879 được niêm phong ký hiệu K5; 01 đĩa sứ tròn màu trắng mặt dưới in chữ HORECA được niêm phong ký hiệu K6.

Tại Bản kết luận giám định số 389/KL-KTHS(MT) ngày 22/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh H kết luận: Không tìm thấy dấu vết ma túy trong 01 túi nilon màu trắng có viền màu xanh ở miệng túi trong niêm phong ghi ký hiệu K1. Chất dạng tinh thể màu trắng được ký hiệu K2-1 trong niêm phong ghi ký hiệu K2 không xác định khối lượng, là ma túy, loại Ketamine. Chất màu xám dạng Bt bám dính trong 01 túi nilon màu trắng có đường viền màu đỏ ở miệng túi, được ký hiệu K2-2 trong niêm phong ghi ký hiệu K2 không xác định được khối lượng, là ma túy, loại MDMA. Chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 01 túi nilon màu trắng có đường viền màu xanh ở miệng túi, trong niêm phong ghi ký hiệu K3 không xác định khối lượng, là ma túy loại Ketamine. Tìm thấy dấu vết ma túy, loại Ketamine ở một tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 đầu lọc thuốc lá trong niêm phong ghi ký hiệu K4. Tìm thấy dấu vết ma túy, loại Ketamine ở 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng trong niêm phong ghi ký hiệu K5. Không tìm thấy dấu vết ma túy trên 01 đĩa sứ tròn màu trắng, mặt đáy có in chữ HORECA trong niêm phong ghi ký hiệu K6. Hoàn lại mẫu giám định được niêm phong trong phong bì giao cho Công an thị xã H quản lý.

Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của H nhưng H xác định không đưa ma túy cho L. Các đồ vật Công an thu giữ ở trên trong đó có thẻ phòng khám đa khoa Việt Mỹ mang tên Nguyễn Thị H và tờ tiền 10.000 đồng là của H, 02 túi nilon dạng túi zip to là của H trước mua lắc bạc nên có, đĩa sứ của H do con gái H để trong phòng; các đồ vật và tờ tiền còn lại H không biết của ai vì H mới đến thuê nhà nên chưa dọn nhà. Cơ quan điều tra đã tiến hành cho L và H đối chất, tuy nhiên L và H vẫn giữ nguyên lời khai của mình, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa có căn cứ xử lý đối với H nên tiếp tục xác minh làm rõ giải quyết sau.

2. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng vip 6:

Vũ Quốc Tr, Đỗ Bá M, Lê Thị Trà Gi, và Lê Thị Tr đều là bạn của nhau. Khoảng 23 giờ 30 ngày 16/6/2023, sau khi Tr, M, Gi và Tr, ăn uống tại phòng trọ của Gi xong thì Tr rủ mọi người đi hát karaoke, tất cả đồng ý. Tr tiếp tục gọi điện rủ L đi hát thì L đồng ý. L gọi điện cho L để thuê phòng hát tại quán Sen Hồ. Sau đó, Tr, L, Tr, Gi, M đi đến phòng vip 6 của quán Karaoke Sen Hồ. Quá trình hát, Tr rủ mọi người sử dụng ma túy thì tất cả đồng ý. Tr để 02 gói ma túy (01 gói chứa 02 viên ma túy kẹo, 01 túi chứa 2 chỉ ke) trên mặt bàn rồi lấy 02 viên ma túy kẹo hình viên thuốc con nhộng đổ ma túy ra cho vào cốc côca -côla và lắc đều. Tr uống cốc ma túy này đầu tiên xong lần lượt đưa cho Gi, Tr và M sử dụng. Sau khi sử dụng ma túy xong, Tr hỏi L không có đĩa à (ý là đĩa để xào ma túy ke) thì L đi sang phòng Vip 7 bảo L lấy cho đĩa sứ để xào ke, L đồng ý. Một lúc sau L cầm đĩa đưa cho L rồi quay trở về phòng Vip7. L câm đĩa sứ, lấy gói nilon chứa ma túy ke, quẩn giấy ăn bên ngoài và dùng cốc thủy tinh để dầm ma túy. Sau đó, L đổ ma túy ra đĩa, lấy giấy ăn có sẵn trong phòng, bật lửa đốt để làm nóng đĩa. Lúc này, Tr hỏi “không có thẻ à” thì L bảo M đi ra ngoài lấy thẻ để dầm ma túy, M đồng ý và đi ra ngoài xe mô tô lấy thẻ ATM của ngân hàng Vietcombank mang tên DO BA M đưa cho L. L cầm chiếc thẻ trên dầm ma túy rồi kẻ thành các đường chỉ nhỏ. Tr dùng tờ tiền 200.000 đồng quấn ống hút rồi cầm đĩa ma túy lên và hít trực tiếp vào mũi. Sau khi hít xong Tr đưa cho L sử dụng, L sử dụng xong thì Tr đưa cho M nhưng M không sử dụng. Tr đưa ma túy cho Tr sử dụng sau đó để đĩa ma túy xuống bàn. Một lúc sau L đi vào phòng thông báo có Công an đến kiểm tra, đồng thời L cầm đĩa ma túy và ống hút mà nhóm Tr đang sử dụng mang ra khu vực vệ sinh hất một ít xuống bồn cầu còn lại mang xuống khu vực bếp cất giấu vì L nghĩ rằng công an đến kiểm tra qua loa xong mọi người lại tiếp tục sử dụng. Sau đó bị phát hiện.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã tiến hành khám nghiệm hiện Tr, thu giữ vật chứng: Tại nền phòng chân phía Bắc của bàn 2 có 01 nửa vỏ kiểu dạng thuốc con nhộng màu đỏ (niêm phong ký hiệu N1); tại chân phía Tây của bàn 2 có 01 túi nilon nhỏ màu đen đã bị xé rách (niêm phong ký hiệu N4). Ngoài ra còn thu giữ của Tr 01 điện thoại Iphone 12 Pro max, 01 xe mô tô Honda Airblade biển số 89F1-277.39; thu giữ của L 01 điện thoại Samsung Galaxy S20 Ultra 5G màu xám, 01 xe mô tô Honda SH biển số 89F1-35091 màu đen; thu giữ của M 01 điện thoại Iphone 12 Pro max, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade biển số 89E1-685.96 màu đỏ đen, 01 ví giả da màu nâu. Đối với 01 tờ tiền 200.000 đồng các đối tượng dùng làm ống hút, cơ quan cảnh sát điều tra đã tiến hành rà soát nhưng không thu giữ được.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Thành L chỉ dẫn đến khu vực cất giấu ma túy. Kết quả thu giữ: 01 đĩa sứ màu trắng đường kính 26cm (đĩa được ghi chữ Đ2, niêm phong ghi ký hiệu Đ5), mặt trên của đĩa có chất tinh thể màu trắng được cho vào túi zip viền màu đỏ (niêm phong ký hiệu Đ2) và 01 thẻ cứng ngân hàng Vietcombank có chữ DO BA M (niêm phong ký hiệu Đ3). Tiến hành thu giữ niêm phong mẫu nước tiểu của Vũ Quốc Tr trong chai nhựa ký hiệu M6-1, của Nguyễn Thành L ký hiệu M6-2, của Đỗ Bá M ký hiệu M6-3, của Lê Thị Tr ký hiệu M6-4, của Lê Thị Trà Gi ký hiệu M6-5.

Tại Bản thông báo kết luận sơ B ngày 17/6/2023 và Kết luận giám định số 384/KL-KTHS(MT) ngày 20/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất màu xanh dạng Bt bám dính trong 1/2 dạng vỏ viên thuốc con nhộng màu đỏ, trong niêm phong ghi ký hiệu N1 không xác định được khối lượng là ma túy, loại MDMA. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong 01 túi nilon màu đen trong niêm phong ghi ký hiệu N4 không xác định được khối lượng, là ma túy, loại Ketamine. Hoàn lại mẫu giám định được niêm phong trong phong bì giao cho Công an thị xã H quản lý.

Tại Bản thông báo kết luận sơ B ngày 17/6/2023 và Bản kết luận giám định số 385/KL-KTHS(MT) ngày 20/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh H kết luận: Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu Đ2, có khối lượng là 0,409g là ma túy, loại Ketamine. Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trên 01 thẻ cứng màu xanh trắng của ngân hàng Vietcombank, trong niêm phong ghi ký hiệu Đ3, không xác định được khối lượng là ma túy, loại Ketamine. Mẫu hoàn lại được niêm phong trong một niêm phong ghi số: 385/KL-KTHS(MT) bên trong có 0,381g ma túy, loại Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu Đ2.

Tại bản kết luận giám định số 4575/KL-KTHS ngày 21/6/2023 của Viện Khoa học hình sự, B Công an kết luận: Tìm thấy chất ma túy Ketamine và MDMA trong mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M6-1 và M6-4 gửi giám định. Tìm thấy chất ma túy MDMA trong mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M6-3 và M6-5 gửi giám định. Tìm thấy chất ma túy Ketamine trong mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu M6-2 gửi giám định. Không hoàn lại đối tượng giám định.

Ngày 30/6/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H đã tiến hành thu thập mẫu vân tay của L, Tr, L và M. Tại bản kết luận số 5006/KL-KTHS ngày 07/8/2023 của Viện Khoa học hình sự, B Công an kết luận: Trên đĩa sứ có chữ Đ2 gửi giám định phát hiện 03 dấu vết vân tay đủ yếu tố giám định, ký hiệu từ số 05 đến số 07. Dấu vết vân tay ký hiệu số 05 với dấu vân tay in ở ô giữa phải chỉ bản ghi tên Nguyễn Thành L là cùng một người. Dấu vết ký hiệu số 06, 07 với dấu vân tay in ở ô giữa trái, nhẫn trái trên chỉ bản ghi tên Vũ Quốc Tr là của cùng một người.

Quá trình điều tra Tr khai: Số ma túy trên là Tr nhờ Trần Văn V, sinh năm 1997 ở cùng tổ dân phố với Tr mua hộ với giá 4.300.000 đồng. Đến khoảng hơn 00 giờ ngày 17/6/2023 V liên lạc lại bảo Tr ra cổng lấy thì gặp người thanh niên (Tr không biết tên tuổi địa chỉ) đưa cho Tr 02 túi nilon nhỏ dạng túi zip trong đó có 01 túi nilon có ma túy Ke và 01 túi nilon có 02 viên hình con nhộng màu đỏ là ma túy kẹo. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai của V nhưng V xác định không mua bán ma túy hộ Tr. Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chất giữa Tr và V nhưng Tr và V vẫn giữ nguyên lời khai, do vậy không có căn cứ xử lý trách nhiệm hình sự đối với V.

Đối với 01 căn cước công dân mang tên Đinh Văn B, 01 thẻ cứng của Tr cao đẳng công nghiệp H mang tên THS. Đinh Văn B dùng vào việc phạm tội, B đề nghị được nhận lại thẻ căn cước công dân; 01 thẻ ngân hàng Vietcombank có chữ DO BA M dùng vào việc phạm tội không đề nghị nhận lại. Đối với 01 Iphone Xs Max màu trắng thu của L, L khai liên lạc với H để mua ma túy và không đề nghị nhận lại; 01 điện thoại Iphone 12 Pro max màu vàng thu của Tr, Tr không đề nghị nhận lại.

Đối với số tiền 8.300.000 đồng thu giữ của L; 01 điện thoại Samsung Galaxy M12, 01 ví giả da màu nâu thu của B; 01 điện thoại Samsung Galaxy S20 Ultra 5G màu xám thu của L; 01 điện thoại Iphone 12 Pro max màu xanh, 01 ví giả da màu nâu thu của M; 01 Iphone 6s Plus màu hồng thu của L đều không liên quan đến việc phạm tội.

Đối với 01 xe mô tô SH 125I màu đỏ đen biển số: 89F1-176.17 thu giữ của L là tài sản của chị Trịnh Thị Th, sinh năm 1970 (mẹ của L); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Ablade màu đỏ đen, biển số: 89F1-277.39 thu giữ của Tr là tài sản của anh Vũ Thành Vũ, sinh năm 1974 (bố của Tr); 01 xe mô tô biển số: 89F1-350.91 thu giữ của L là tài sản của anh Nguyễn Đức Ng, sinh năm 1972 (bố của L); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Ablade màu đỏ đen, biển số 89E1-685.96 thu giữ của M xác định là tài sản của M, các tài sản này đều không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại các xe mô tô cho từng chủ sở hữu.

Bản cáo trạng số 81/CT-VKSMH ngày 24/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Đinh Văn B, Vũ Quốc Tr, Nguyễn Thành L và Đỗ Bá M về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 B luật hình sự; Truy tố Nguyễn Thành L về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255 B luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay:

Các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã H đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ :

  • Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 của B luật hình sự đối với bị cáo L.
  • Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 của B luật hình sự đối với bị cáo L, Tr, L, M.
  • Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s,v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 2 Điều 54, khoản 1 Điều 38 của B luật hình sự đối với bị cáo B.

T bố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Vũ Quốc Tr, Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành L, Đỗ Bá M và Đinh Văn B đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 08 năm – 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2023.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh L và Vũ Quốc Tr mỗi bị cáo 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2023.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 07 năm 03 tháng – 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2023.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Bá M 07 năm – 07 năm 06 tháng tù. Được trừ 06 ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn B 05 năm – 05 năm 06 tháng tù. Được trừ 06 ngày tạm giữ. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a,b khoản 1 điều 46; điểm a,c khoản 1 điều 47 - B luật hình sự; khoản 2 và điểm a khoản 3 điều 106 - B luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ: Ma tuý và các vật chứng được niêm phong trong các phong bì hoàn lại sau giám định;
  • - Tịch thu sung quĩ nhà nước: 01 Iphone Xs Max màu trắng IMEI: 357273093186429 của bị cáo L; 01 điện thoại Iphone 12 Pro max màu vàng IMEI: 354876509027293 của bị cáo Tr. 01 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng trong niêm phong ký hiệu K2; 01 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trong niêm phong ký hiệu K4; 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng trong niêm phong ghi ký hiệu K5.
  • - Trả lại bị cáo L số tiền 8.300.000 đồng; trả lại bị cáo L 01 điện thoại Samsung Galaxy S20 Ultra 5G màu xám; Trả lại bị cáo M 01 điện thoại Iphone 12 Pro max màu xanh và 01 ví giả da màu nâu; Trả lại bị cáo L 01 Iphone 6s Plus màu hồng. Trả lại bị cáo B 01 điện thoại Samsung Galaxy M12 và 01 ví giả da màu nâu, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Đinh Văn B, 01 thẻ cứng của Tr cao đẳng công nghiệp H mang tên THS. Đinh Văn B Phó trưởng phòng NCKH&HTQT. Trả lại chị Nguyễn Thị H 01 thẻ cứng “Phòng khám đa khoa Việt Mỹ” mang tên NGUYỄN THỊ H và 01 đĩa sứ tròn màu trắng, mặt đáy có in chữ HORECA.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã H và kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện nên đều hợp pháp.

[2]- Lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên toà phù hợp với nhau và phù hợp với biên bản bắt giữ người trong Tr hợp khẩn cấp, biên bản khám nghiệm hiện Tr, sơ đồ, bản ảnh, xét nghiệm ma túy, kết luận giám định, vật chứng đã thu giữ; phù hợp khách quan với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, những người làm chứng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận kết luận: Trong khoảng thời gian từ 23 giờ ngày 16/6/2023 đến khoảng 01 giờ 30 phút ngày 17/6/2023, tại phòng vip 7 quán Karaoke Sen Hồ thuộc Làng du lịch sinh thái Sen Hồ địa chỉ tổ dân phố Phan Bôi, phường Dị Sử, thị xã H, Nguyễn Thanh L đã có hành vi thuê địa điểm, cung cấp ma tuý, chế biến ma tuý, đưa cho L một tờ tiền 20.000 đồng để L quấn ống hút để cho mình và Nguyễn Thành L, Đinh Văn B, Nguyễn Đa Ph, Vũ Minh Hiếu cùng sử dụng ma tuý. Nguyễn Thành L có hành vi 02 lần chuẩn bị đĩa sứ để chế biến ma tuý, 02 lần cất giấu số ma tuý còn lại của phòng Víp 6 và phòng Vip 7 khi cơ quan công an kiểm tra; trực tiếp rủ mọi người sử dụng ma túy; B có hành vi đưa thẻ cho L để chế biến ma tuý, trực tiếp mời Hiếu và Ph sử dụng ma túy. Sau đó bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện, thu giữ công cụ, pH tiện sử dụng trái phép chất ma túy và 1,307 gam ma túy loại Ketamine. Cùng thời gian trên tại phòng vip 6 khu Làng du lịch sinh thái Sen Hồ, Vũ Quốc Tr đã có hành vi thuê địa điểm, cung cấp ma tuý, chế biến ma tuý, dùng tờ tiền 200.000 đồng quấn ống hút, để cho mình và Nguyễn Thành L, Đỗ Bá M, Lê Thị Trà Gi, Lê Thị Tr cùng sử dụng ma tuý. Nguyễn Thành L có hành vi chuẩn bị đĩa để chế biến ma tuý, trực tiếp chế biến ma tuý. Đỗ Bá M có hành vi đưa thẻ cho L để chế biến ma tuý thì bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H phát hiện, thu giữ công cụ, pH tiện sử dụng trái phép chất ma túy và 0,409 gam Ketamine. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã H đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh L, Đinh Văn B, Vũ Quốc Tr, Nguyễn Thành L và Đỗ Bá M về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255 B luật hình sự; Truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 255 B luật hình sự là chính xác và đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc sử dụng chất ma tuý, xâm phạm đến sức khỏe của người khác và trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy không những gây cảnh nghiện ngập làm cho kinh tê gia đình kiệt quệ, hạnh Ph gia đình bị đổ vỡ, ma tuý còn là nguyên nhân phát sinh các vụ phạm pháp hình sự, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa pH và là nguyên nhân lây nhiễm các căn bệnh xã hội. Các bị cáo đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật vẫn tổ chức sử dụng ma tuý. Vì vậy cần thiết phải xử lý nghiêm và cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Vụ án có đồng phạm tham gia, xét vai trò của các bị cáo thì thấy:

  • - Tại phòng Vip 7: Bị cáo L là người khởi xướng, rủ rê, thuê địa điểm, cung cấp ma tuý, trực tiếp chế biến ma tuý, đưa cho L một tờ tiền 20.000 đồng để L quấn ống hút, để cho bản thân L và mọi người cùng sử dụng ma tuý. Bị cáo L giúp sức tích cực cho L, hỗ trợ việc tổ chức sử dụng ma tuý cho thuê địa điểm là phòng Vip 6 và Vip 7, cung cấp đĩa cho 02 phòng Vip7 và Víp 6 để sử dụng ma tuý, bị cáo dùng bật lửa hơ nóng đĩa sứ cho L chế biến ma tuý, bị cáo cuộn ống hút, bị cáo còn là người trực tiếp rủ mọi người sử dụng ma tuý Ketamine, ngoài ra khi Công an vào kiểm tra, để che dấu hành vi phạm tội của mình và của các bị cáo khác thì bị cáo đã mang 02 đĩa còn ma tuý của 02 phòng hát Vip7 và Vip 6 đi cất giấu. Hành vi giúp sức của bị cáo cung cấp đĩa và cất giấu ma tuý còn thừa tại 02 đĩa của 2 phòng Vip 6 và Vip 7 độc lập, tội phạm đã hoàn thành, có đủ căn cứ xác định bị cáo phạm tội 02 lần trở lên theo tình tiết định khung tại điểm a khoản 2 Điều 255 B luật hình sự. Bị cáo B là người giúp sức, cung cấp công cụ là chiếc thẻ căn cước công dân để chế biến ma tuý và đưa ma túy cho mọi người dùng nên có vai trò đồng phạm thứ yếu.
  • - Tại phòng Vip 6: Bị cáo Tr là người khởi xướng, rủ rê, nhờ L thuê địa điểm, cung cấp ma tuý, chế biến ma tuý, dùng tờ tiền 200.000 đồng quấn ống hút, tổ chức để cho bản thân và mọi người cùng sử dụng ma tuý. Bị cáo L là người giúp sức tích cực cho bị cáo Tr, bị cáo là người bảo L lấy đĩa, hơ lửa đốt làm nóng đĩa và trực tiếp chế biến ma tuý cho mình và mọi người cùng sử dụng. Bị cáo M là người giúp sức cho Tr, đưa chiếc thẻ ATM cho L để chế biến ma tuý.

Xét vị trí vai trò của các bị cáo thì thấy bị cáo L và Tr giữ vai trò đầu nên sẽ có mức hình phạt bằng nhau. Tiếp đến là bị cáo L do bị cáo có 02 hành vi độc lập giúp sức tích cực cho cả 02 phòng Vip 6 và Vip 7 nên phải chịu trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên vì thế mức hình phạt của bị cáo sẽ cao hơn bị cáo L và bị cáo Tr. Bị cáo L sẽ có mức hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại. Sau cùng là bị cáo B và bị cáo M.

[3]- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Cả 06 bị cáo đều khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 B luật hình sự. Bị cáo B được Ban chấp hành Công đoàn Công tH Việt Nam tặng Bằng khen có thành tích xuất sắc trong lao động, được Tr cao đẳng công nghiệp H tặng Thưởng danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ “người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong công tác” quy định tại điểm v khoản 1 Điều 51 B luật hình sự. Ông nội bị cáo L được nhà nước tặng huy chương kháng chiến, bố bị cáo B được nhà nước tặng huân chương lao động hạng 3 và được chủ tịch nước tặng bằng khen, nhà giáo ưu tú; Ông nội bị cáo L được nhà nước tặng huân chương kháng chiến hạng 3; Bị cáo M được Trung đoàn B Binh 18 tặng danh hiệu Chiến sĩ tiên tiến và có ông nội được nhà nước tặng huy chương kháng chiến, bị cáo L là đoàn viên công đoàn xuất sắc năm 2019,2020, 2022, gia đình bị cáo L, Tr và L có đơn trình bày hoàn cảnh có xác nhận của chính quyền địa phương nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 B luật hình sự. Gia đình bị cáo L có đơn nội dung trình bày hoàn cảnh được gửi qua đường công văn nhưng không có xác nhận của chính quyền địa phương nên đơn không được chấp nhận.

Căn cứ động cơ, mục đích, tính chất, vai trò của hành vi phạm tội, xét thấy bị cáo B là đồng phạm giúp sức với vai trò thứ yếu trong vụ án, phạm tội lần đầu, bị cáo B có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51 và 01 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 B luật hình sự nên có thể cho bị cáo B được áp dụng khoản 2 Điều 54 B luật hình sự và được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt qui định tại khoản 2 Điều 255 B luật hình sự.

[4] -Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định các bị cáo không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử sẽ miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • -Đối với 1,254gam ma túy loại Ketamine và 0,381gam Ketamine hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành, đĩa sứ là vật không còn giá trị sử dụng; 01 thẻ ngân hàng Vietcombank có chữ DO BA M là vật bị cáo dùng vào việc phạm tội nên sẽ cho tịch thu tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 căn cước công dân mang tên Đinh Văn B, 01 thẻ cứng của Tr cao đẳng công nghiệp H mang tên THS. Đinh Văn B là các giấy tờ liên quan đến nhân thân của bị cáo nên sẽ trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với 01 Iphone Xs Max màu trắng thu của L, L khai liên lạc với H để mua ma túy và không đề nghị nhận lại; 01 điện thoại Iphone 12 Pro max màu vàng thu của Tr, Tr không đề nghị nhận lại nên sẽ cho tịch thu sung quĩ nhà nước.
  • - Trả lại bị cáo L số tiền 8.300.000 đồng; trả lại bị cáo B 01 điện thoại Samsung Galaxy M12, 01 ví giả da màu nâu; trả lại bị cáo L 01 điện thoại Samsung Galaxy S20 Ultra 5G màu xám; Trả lại bị cáo M 01 điện thoại Iphone 12 Pro max màu xanh, 01 ví giả da màu nâu; Trả lại bị cáo L 01 Iphone 6s Plus màu hồng.
  • - Đối với 01 xe môtô SH 125I màu đỏ đen biển số: 89F1-176.17 là tài sản của chị Trịnh Thị Th; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Ablade màu đỏ đen, biển số: 89F1-277.39 là tài sản của anh Vũ Thành Vũ; 01 xe mô tô biển số: 89F1-350.91 là tài sản của anh Nguyễn Đức Ng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Ablade màu đỏ đen, biển số 89E1-685.96 là tài sản của M không liên quan đến việc phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho các chủ sở hữu, không ai có yêu cầu đề nghị gì nên hội đồng xét xử không xét.
  • - Các vật chứng thu tại nhà chị H gồm: 01 tờ tiền 5000đ, 01 tờ tiền 1000đ; 02 tờ tiền 10.000đ, 01 tờ tiền 20.000đ, 01 tờ tiền 5000đ; 01 tờ tiền 10.000đ; 01 tờ tiền 1000đ là các vật có liên quan đến phạm tội nên sẽ tịch thu sung quĩ nhà nước. Trả lại chị Nguyễn Thị H 01 thẻ cứng “Phòng khám đa khoa Việt Mỹ” mang tên NGUYỄN THỊ H và 01 đĩa sứ đều không liên quan đến việc phạm tội. Tịch thu tiêu huỷ các túi nilon do không còn giá trị sử dụng.
  • - Đối với chủ cơ sở kinh doanh Karaoke Sen Hồ không biết các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy tại quán hát, khi phát hiện thì đã trình báo đến cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H để ngăn chặn hành vi phạm tội nêu trên nên không có căn cứ xử lý.
  • - Đối với chị Lê Thị Trà Gi; Lê Thị Tr; Nguyễn Đa Ph và Vũ Minh Hiếu có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng không đủ điều kiện xử lý hình sự nên Công an thị xã H đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
  • - Chị Nguyễn Thị H đã được đối chất với bị cáo L nhưng chị H không thừa nhận bán ma tuý cho L, anh Trần Văn V đã được đối chất với bị cáo Tr nhưng anh V không thừa nhận mua ma tuý hộ Tr. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa có căn cứ xử lý đối với chị H và anh V nên tiếp tục xác minh làm rõ giải quyết sau.

[5] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ:

  • Điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 của B luật hình sự đối với bị cáo L.
  • Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, khoản 1 Điều 38 của B luật hình sự đối với bị cáo L, Tr, L, M.
  • Điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s,v khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; khoản 2 Điều 54, khoản 1 Điều 38 của B luật hình sự đối với bị cáo B.

* Tuyên bố:

Các bị cáo Nguyễn Thanh L, Vũ Quốc Tr, Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành L, Đỗ Bá M và Đinh Văn B đều phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý ".

* Xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thành L 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2023.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh L và Vũ Quốc Tr mỗi bị cáo 07 (bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2023.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành L 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 17/6/2023.

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Bá M 07 (bảy) năm tù. Được trừ 06 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 06 năm 11 tháng 24 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Xử phạt: Bị cáo Đinh Văn B 05 (năm) năm tù. Được trừ 06 ngày tạm giữ, bị cáo còn phải chấp hành 04 năm 11 tháng 24 ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

* Về vật chứng:

Áp dụng điểm a,b khoản 1 điều 46; điểm a, c khoản 1 điều 47 - B luật hình sự; khoản 2 và điểm a khoản 3 điều 106 - B luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 384/KL-KTHS(MT) bên trong có: 1/2 dạng vỏ viên thuốc con nhộng màu đỏ và 01 túi nilon trong niêm phong ghi ký hiệu N1; 01 vỏ túi nilon màu đen trong niêm phong ghi ký hiệu N4 và 02 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định. 01 hộp niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 385/KL-KTHS(MT) bên trong có 10 nửa vỏ dạng viên thuốc con nhộng màu đỏ, trong niêm phong ghi ký hiệu N2; 01 cốc thủy tinh màu trắng trong niêm phong ghi ký hiệu N3; 1,254g (một phẩy hai năm bốn gam) ma túy loại Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu Đ1; 0,381g (Không phẩy ba tám một gam) ma túy loại Ketamine trong niêm phong ghi ký hiệu Đ2, 01 thẻ cứng màu xanh trắng của ngân hàng Vietcombank trong niêm phong ghi ký hiệu Đ3, 03 vỏ túi nilon và 05 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 hộp niêm phong hoàn lại sau giám định ghi số 389/KL-KTHS(MT) bên trong có: 01 túi nilon màu trắng có viền màu xanh ở miệng túi, trong niêm phong ghi ký hiệu K1; 04 túi nilon màu trắng có đường viền màu xanh ở miệng túi; 02 túi nilon màu trắng có đường viền màu đỏ ở miệng túi trong niêm phong ghi ký hiệu K2; 01 túi nilon màu trắng có viền màu xanh ở miệng túi trong niêm phong ghi ký hiệu K3;01 đầu lọc thuốc lá, 01 vỏ niêm phong mẫu vật gửi giám định; 01 niêm phong hoàn lại sau giám định (hộp cát tông dán kín các mép bằng băng dính và các mảnh giấy trắng bên trên có đóng dấu đỏ của Viện khoa học hình sự B Công an cùng họ tên và chữ ký của những người tham gia niêm phong) bên trong có 01 đĩa sứ màu trắng đường kính khoảng 28cm bên trên có chữ Đ1, 01 đĩa sứ màu trắng đường kính khoảng 26cm bên trên có chữ Đ2; 01 vỏ niêm phòng mẫu vật gửi giám định.
  • - Tịch thu sung quĩ nhà nước: 01 Iphone Xs Max màu trắng IMEI: 357273093186429 của bị cáo L; 01 điện thoại Iphone 12 Pro max màu vàng IMEI: 354876509027293 của bị cáo Tr. 01 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, 02 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng trong niêm phong ký hiệu K2; 01 tờ tiền mệnh giá 5000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng trong niêm phong ký hiệu K4; 01 tờ tiền mệnh giá 1000 đồng trong niêm phong ghi ký hiệu K5.
  • - Trả lại bị cáo L số tiền 8.300.000 đồng (Tám triệu ba trăm nghìn đồng) theo giấy uỷ nhiệm chi; trả lại bị cáo L 01 điện thoại Samsung Galaxy S20 Ultra 5G màu xám IMEI: 352649113524274; Trả lại bị cáo M 01 điện thoại Iphone 12 Pro max màu xanh IMEI: 359173737618340 và 01 ví giả da màu nâu; Trả lại bị cáo L 01 Iphone 6s Plus màu hồng IMEI: 353297072173557. Trả lại bị cáo B 01 điện thoại Samsung Galaxy M12 IMEI: 350481171538943 và 01 ví giả da màu nâu, 01 thẻ căn cước công dân mang tên Đinh Văn B số [...] cấp ngày 09/5/2021 tại Cục CSQLHS về TTXH, 01 thẻ cứng của Tr cao đẳng công nghiệp H mang tên THS. Đinh Văn B Phó trưởng phòng NCKH&HTQT trong niêm phong ghi ký hiệu C. Trả lại chị Nguyễn Thị H 01 thẻ cứng “Phòng khám đa khoa Việt Mỹ” mang tên NGUYỄN THỊ H và 01 đĩa sứ tròn màu trắng, mặt đáy có in chữ HORECA trong niêm phong ghi ký hiệu K6.

(Tình trạng đặc điểm các vật chứng được mô tả theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/11/2023 của cơ quan CSĐT công an thị xã H và Chi cục thi hành án thị xã H).

* Về án phí:

Áp dụng khoản 1, 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của B luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc các bị cáo Nguyễn Thanh L, Vũ Quốc Tr, Nguyễn Thành L, Nguyễn Thành L, Đỗ Bá M và Đinh Văn B mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo:

Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh H
  • (gửi qua P.KTNV & THAHS);
  • - VKSND thị xã H;
  • - Cơ quan CSĐT -CA thị xã H;
  • - Cơ quan T.H.A HS-CA thị xã H;
  • - Chi cục T.H.A DS thị xã H;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Tân Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HSST ngày 11/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H - TỈNH H về hình sự - tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 03/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ H - TỈNH H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Liêm cùng đồng bọn tổ chức ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger