TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 11-01-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ---------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỎ - TỈNH QUẢNG NGÃI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Trung
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bà Bùi Thị Cẩm
Ông Phạm Hòa
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thị Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tụ – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đức Phổ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 60/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 2087/TB-TA ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Mộng T, sinh ngày 10/12/1991 tại: Đ, Quảng Ngãi.
Nơi cư trú: Thôn Mỹ Trang, xã Phổ Cường, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Văn A (Chết); Con bà: Nguyễn Thị T1; Vợ: Trương Thị H, sinh năm: 1991; Con: 01 đứa, sinh năm: 2018; Tiền án, tiền sự: không; Về nhân thân: chưa bị xử lý hình sự và hành chính. Hiện nay, bị cáo đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên toà
2.2 Người bị hại: Ông Phan Thanh T2, sinh năm 1981; nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn P, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Vắng mặt
2.3 Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Văn K, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn M, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
2.4 Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Trọng V, sinh năm 1991; nơi cư trú: Tổ dân phố P, phường P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
- Ông Lê S, sinh năm 1976; nơi cư trú: Thôn M, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
- Ông Nguyễn Tấn Đ, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn M, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
· Ông Lê Văn H1, sinh năm 1977; nơi cư trú: Thôn M, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
- Bà Nguyễn Thị Kim H2, sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn M, xã P, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắc như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 08/8/2023, Phan Thanh T2 đến nhà Nguyễn Tấn Đ là em con cậu ruột của T2. Tại đây, Đ, T2, ông Lê Văn H1, ông Lê S và Lê Công V1 cùng ở thôn M, xã P, thị xã Đ cùng nhậu. Nhậu được khoảng 02 lít rượu thì có ông Ngô Văn Đ1 đến nhậu chung, ông Đ1 uống được 01-02 ly rượu rồi rủ tất cả đến nhà Lê Văn K để tiếp tục nhậu.
Đến khoảng 21 giờ 30 phút, ông Đ1, ông H1, ông S cùng đi đến nhà K, tại đây có Nguyễn Mộng T, Nguyễn Trọng V, sau đó khi ông Đ1 đi về thì T2 đến. Một lúc sau, giữa T2 và T có mâu thuẫn trong việc hát karaoke nên cãi nhau qua lại, T2 cởi áo ném vào xe mô tô gần đó, thấy T2 và T có mâu thuẫn nên mọi người can ngăn, ông H1, ông S cùng T2 đi về. T2 ra cổng nhà ông K chờ ông S dắt xe ra đi về, thì T ở trong nhà đi ra và xảy ra xô xát với T2 nhưng được mọi người can ngăn, T2 và T không ai bị thương tích gì, rồi T2 chở ông S đi về. Sau khi xảy ra xô xát với T2, T bực tức nên chạy vào nhà của K lấy 01 cây kéo bằng sắt tại sàn rửa chén, khi chạy ra trước cổng nhà K, thấy V đang ngồi trên xe mô tô nên T nhờ V chở đi, K điều khiển xe mô tô đi theo sau.
Khi T2 chở S đi đến quán T4 (của bà Nguyễn Thị Kim H2, SN: 1982 ở thôn M, xã P, thị xã Đ cách nhà ông K khoảng hơn 100m về hướng T) thì dừng xe lại để mua thuốc lá, T2 đang ngồi trên xe mô tô bật thuốc hút, thì T từ phía sau chạy đến, tay phải cầm kéo đã khép gọn lại đâm 01 cái trúng lưng T2, T2 xuống xe bỏ chạy về hướng Tây thì T đuổi theo, chạy khoảng 10m thì T2 bị khụy chân trái, T2 quay mặt lại đối diện với T, lúc này T tiếp tục dùng kéo đâm T2 khoảng 03-04 cái, T2 có đưa tay lên đỡ và giằng co với T nên gây thương tích ở tay phải, ngón tay trái, mày phải và đuôi mày trái của T2. Thấy T2 bị chảy nhiều máu đồng thời có ông H1, ông S, ông K, ông V can ngăn, nên T không đâm T2 nữa và ném kéo xuống ruộng rau muống gần đó.
Nguyễn Tấn Đ ở nhà, nghe tin T2 bị đâm nên cầm 01 con dao chạy đến, khi biết T là người đâm T2, Đ bực tức nên cầm dao xông tới xô xát với T, làm T bị xây xát ngoài da và T bỏ chạy về nhà.
Hậu quả, ông Phan Thanh T2 bị thương cấp cứu điều trị tại Bệnh viện Đ2.
Tại bản Kết luận giám định số 1748/KL-KTHS ngày 30/8/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận thương tích của ông Phan Thanh T2 tại thời điểm giám định như sau:
- Sẹo cung mày phải: 03%
- Vết biến đổi sắc tố da cung mày trái: 0,5%
- Sẹo vùng lưng phải: 01%
- 02 sẹo nông tại mặt ngoài cánh tay phải, mỗi sẹo: 01%
- Vết biến đổi sắc tố da mặt ngoài cánh tay phải: 0,5%
- 02 sẹo mặt sau ngoài cẳng tay phải, mỗi sẹo: 01%
- Vết biến đổi sắc tố da mặt trong đốt 1, ngón IV bàn tay trái: 0,5%
- Gãy đầu gần xương bàn III, IV bàn chân trái: 08%
Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y quy định, xác định tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định là: 16% (mười sáu phần trăm).
Cáo trạng số: 53/ CT - VKS –ĐP ngày 27 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố bị cáo Nguyễn Mộng T về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết phạm tội “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự (BLHS) năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Mộng T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù;
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự (BLTTHS).
- Đối với 01 (một) con dao bầu, dài 50 cm; cán bằng gỗ, hình trụ trọn đường kính 03 cm, dài 14 cm; lưỡi bằng kim loại dài 36 cm, nơi rộng nhất là 06 cm, đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT đã tiến hành trả lại ông Nguyễn Tấn Đ là đúng pháp nên không xem xét.
- Đối với 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu đen, dài 23 cm, nơi rộng nhất là 11 cm; cán kéo bằng kim loại, được bọc nhựa màu đen là công cụ phạm tội của bị cáo đã qua sử dụng không còn giá trị nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Mộng T đã bồi thường cho Phan Thanh T2 số tiền 32.000.000 đồng, Phan Thanh T2 không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng đều vắng mặt không có lý do; tuy nhiên trong hồ sơ vụ án đã có lời khai của họ. Do vậy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng.
[1.2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở để xác định: Vào ngày 08/8/2023, giữa Phan Thanh T2 và Nguyễn Mộng T có mâu thuẫn cãi vã, xô xát tại nhà ông Lê Văn K được mọi người ở đó can ngăn thì T2 ra về; sau đó T dùng kéo truy tìm đâm T2 gây thương tích ở lưng, tay phải, ngón tay trái, mày phải, mày trái và gãy đầu gần xương bàn III, IV bàn chân trái của T2, tổng tỷ lệ thương tích là: 16%
[3] Tính chất, mức độ hành vi của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Mộng T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác là vi phạm pháp luật; tuy nhận thức được như thế nhưng chỉ vì mâu thuẫn cá nhân với Phan Thanh T2 tại nhà ông K được mọi người can ngăn, T2 đã ra về nhưng bị cáo dùng kéo là hung khí nguy hiểm truy tìm và đâm nhiều cái vào các vùng trên cơ thể của T2 đã gây thương tích cho T2 tỷ lệ là: 16%. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, đã xâm phạm đến tính mạng và sức khỏe của người khác, là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đức Phổ truy tố bị cáo về tội " Cố ý gây thương tích" với tình tiết phạm tội “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tính chất côn đồ” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo và bồi thường cho bị hại số tiền 32.000.000 đồng để khắc phục hậu quả, bị hại có đơn đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Với tính chất, mức độ hành vi và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nhận định nêu trên; Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, hậu quả của bị cáo gây ra và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội.
[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
- Đối với 01 (một) con dao bầu, dài 50 cm; cán bằng gỗ, hình trụ trọn đường kính 03 cm, dài 14 cm; lưỡi bằng kim loại dài 36 cm, nơi rộng nhất là 06 cm, đã qua sử dụng. Cơ quan CSĐT đã tiến hành trả lại ông Nguyễn Tấn Đ là đúng pháp nên không xem xét.
- Đối với 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu đen, dài 23 cm, nơi rộng nhất là 11 cm; cán kéo bằng kim loại, được bọc nhựa màu đen là công cụ phạm tội của bị cáo đã qua sử dụng không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Mộng T đã bồi thường cho Phan Thanh T2 số tiền 32.000.000 đồng, Phan Thanh T2 không yêu cầu gì thêm về dân sự nên không xét.
[6] Về các tình tiết có liên quan trong vụ án:
Đối với Nguyễn Trọng V: V điều khiển xe mô tô chở Nguyễn Mộng T từ cổng ngõ nhà ông Lê Văn K tới gần quán T4, tuy nhiên, khi chở T đi, V không thấy T đang cầm kéo và không biết mục đích của T là tìm Phan Thanh T2 để gây thương tích. Vì vậy, Nguyễn Trọng V không đồng phạm với Nguyễn Mộng T đối với hành vi T gây thương tích cho Phan Thanh T2 nên không xét.
Đối với Nguyễn Tấn Đ: Khi nghe có người đâm T2, Đ cầm theo 01 con dao (mục đích để phòng vệ) chạy đến chỗ T2. Khi tới nơi, thấy T2 bị chảy nhiều máu và biết T là người gây thương tích cho T2, nên Đ kích động cầm dao xông tới xô xát với T làm T bị xây xát da. Thương tích của T là nhẹ, không đáng kể, T đã có đơn từ chối giám định thương tích và không yêu cầu gì về hình sự và dân sự đối với thương tích của mình. Xét thấy, Đ ban đầu không có mục đích gây thương tích cho người khác, việc gây xây xát da cho T do hành vi trái pháp luật của T làm Đ bị kích động. Vì vậy, không xem xét xử lý Nguyễn Tấn Đ.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Mộng T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Viện kiểm sát đề nghị áp dụng Điều 54 BLHS xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là chưa phù hợp tính chất, mức độ hành vi bị cáo gây ra; đề nghị của Kiểm sát viên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mộng T phạm tội “cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Mộng T 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái kéo bằng kim loại màu đen, dài 23 cm, nơi rộng nhất là 11 cm; cán kéo bằng kim loại, được bọc nhựa màu đen.
Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 07 tháng 11 năm 2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Mộng T phải nộp 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND thị xã Đức Phổ; - Cơ quan CSĐT công an thị xã Đức Phổ; - Cơ quan THAHS công an thị xã Đức Phổ; - Chi cục THADS thị xã Đức Phổ; - Bị cáo; - Nhà tạm giữ Công an TX.Đức Phổ - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu văn phòng. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Minh Trung |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 11/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích)
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐỨC PHỔ - TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Th dùng kéo đâm c gây thương tích
