TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/HNGĐ - PT Ngày: 10-6-2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Túc
Các Thẩm phán:
- Bà Trần Thanh Hải
- Bà Hoàng Ngọc Liễu
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình tham gia phiên tòa:
Ông Lê Quý Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 10/6/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 04/2024/TLPT-HNGĐ ngày 24/4/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số:04/2024/HNGĐ-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 03/2024/QĐ-PT ngày 21/5/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Mạnh C, sinh năm 196; Có mặt.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1974; Có mặt.
Cả hai cùng địa chỉ: Số A, ngõ A T, tiểu khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Thu H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Ông Lê Mạnh C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Mạnh C và bà Nguyễn Thị Thu H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/12/1998 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Sau khi kết hôn, ông C công tác trong quân đội, sống xa nhà, bà H sống cùng với bố mẹ đẻ ông C, được một thời gian thì ông C đón vợ con về sinh sống tại khu tập thể của đơn vị ông. Năm 2011, vợ chồng xây dựng ngôi nhà cấp bốn và sinh sống cạnh nhà bố mẹ đẻ ông C.
Năm 2014, ông C nghỉ hưu, mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tôn trọng nhau. Từ năm 2017 đến nay vợ chồng tuy sống cùng nhà nhưng không còn quan tâm đến nhau. Năm 2019 ông C có ý định ly hôn nhưng được bố mẹ hai bên khuyên bảo nên ông C không làm đơn ly hôn nữa. Đến tháng 7 năm 2023, mâu thuẫn vợ chồng tiếp tục phát sinh. Ông C thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị được ly hôn với bà H.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Lê Thu P, sinh ngày 24/10/2000 và Lê Xuân B, sinh ngày 28/12/2002 do hai con đều đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Không có.
Bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H trình bày: Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông C kết hôn tự nguyện có đăng ký kết hôn ngày 07/12/1998 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Sau khi kết hôn, ông C ở tại đơn vị, còn bà H sinh sống với bố mẹ đẻ ông C. Do bà H có mâu thuẫn với bố mẹ chồng nên sau đó bà đã chuyển tới nhà tập thể của đơn vị ông C1 sinh sống. Năm 2011, vợ chồng có xây dựng 01 căn nhà cấp bốn, cạnh nhà bố mẹ đẻ ông C. Trong cuộc sống hôn nhân, bà H luôn quan tâm, chăm sóc, xây dựng gia đình. Vợ chồng tuy có mâu thuẫn có tranh luận với nhau, theo bà H mâu thuẫn vợ chồng chưa đến mức trầm trọng, còn cơ hội để hàn gắn. Do vậy Bà H không đồng ý ly hôn.
Về con chung, tài sản chung và nợ chung Bà H thống nhất với lời khai của ông C, không có bổ sung gì.
Tại bản án sơ thẩm số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình ddax quyết định:
Áp dụng: Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 227; Điều 147; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Mạnh C.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Mạnh C được ly hôn bà Nguyễn Thị Thu H.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 22/3/2024, bà Nguyễn Thị Thu H kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử cho vợ chồng bà được đoàn tụ.
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn ông Lê Mạnh C giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H giữ nguyên nội dung kháng cáo
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hòa Bình có ý kiến phát biểu:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, thẩm phán và thư ký Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, xét thấy: Mâu thuẫn vợ chồng ông C, bà H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc cấp sơ thẩm xử cho ông Lê Mạnh C được ly hôn bà Nguyễn Thị Thu H là có căn cứ. Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn chị H. Đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về tố tụng: Ông Lê Mạnh C khởi kiện xin ly hôn bà Nguyễn Thị Thu H; nguyên đơn, bị đơn đều cư trú tại tiểu khu C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. TAND huyện Lương Sơn đã thụ lý và giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 BLTTDS 2015 là đúng thẩm quyền .
Ngày 21/3/2024 Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vụ án. Ngày 22/3/2024 bà Nguyễn Thị Thu H kháng cáo bản án. Đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, được chấp nhận.
[2]. Về nội dung: Ông Lê Mạnh C và bà Nguyễn Thị Thu H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 07/12/1998 tại Ủy ban nhân dân thị trấn L, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Qúa trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn; Theo ông C vợ chồng đã ly thân từ năm 2017 đến nay lý do vì vợ chồng sống không có hạnh phúc, bất đồng quan điểm, mâu thuân nảy sinh từ nhiều năm không thể giải quyết được, hiện tại ông C thấy tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ nên xin ly hôn. Bà H không đồng ý ly hôn, bà H cho rằng vợ chồng chỉ có các mâu thuẫn nhỏ, chưa đến mức phải ly hôn, vợ chồng vần sống chung một nhà chứ chưa ly thân.
[3]. Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H:
Bà H không đồng ý với việc cấp sơ thẩm xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông C, xử cho vợ chồng ly hôn, bà H kháng cáo xin Tòa án cấp phúc thẩm xét xử bác đơn xin ly hôn của ông C để cho vợ chồng bà được đoàn tụ.
Mặc dù bà H cho rằng vợ chồng chỉ có các mâu thuẫn nhỏ, chưa đến mức phải ly hôn, vợ chồng vẫn sống chung nhà chứ chưa ly thân. Nhưng thực tế, mâu thuẫn vợ chồng đã phát sinh từ lâu và kéo dài nhiều năm cho đến hiện tại, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, không thể cùng nhau hàn gắn hạnh phúc gia đình.Tại phiên tòa bà H mong muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng không có giải giải pháp nào để cải thiện quan hệ vợ chồng; Phía ông C vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, kiên quyết xin ly hôn bà H.
Từ các căn cứ trên, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông Lê Mạnh C và bà Nguyễn Thị Thu H đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài.
Việc Tòa cấp sơ thẩm xử cho ông C được ly hôn với bà H là có cơ sở và phù hợp với quy định của pháp luật Luật Hôn nhân và Gia đình nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Thu H.
Căn cứ các Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ các Điều 28, 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa an;
Hội đồng xét xử xét: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 04/2024/HNGĐ-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; Xử cho Ông Lê Mạnh C được ly hôn bà Nguyễn Thị Thu H.
Vê án phí phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thu H; Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 04/2024/HNGĐ-ST ngày 21/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình; Cụ thể:
Căn cứ các Điều 51; 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ các Điều 28, 35; 39 Bộ luật tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa an; Tuyên xử :
- Về quan hệ hôn nhận: Ông Lê Mạnh C được ly hôn bà Nguyễn Thị Thu H.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận không yêu cầu giải quyết.
- Về con chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết.
- Về án phí: Ông Lê Mạnh C phải chịu 300.000(Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được đối trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ông C đã nộp theo Biên lai số 0001078 ngày 21/11/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
Án phí phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ 300.000đ tạm ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai số 0001227 ngày 26/3/2024, tại Chi cục thi hành án Dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Túc |
Bản án số 03/2024/HNGĐ - PT ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 03/2024/HNGĐ - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
