Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÁC ÁI

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10 - 5 - 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁC ÁI, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân.

1. Bà Cadá Thị Lính.

2. Bà Mẫu Thị Kim Khanh.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bác Ái tham gia phiên toà: Ông Thành Chế Trọng Triết - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 71/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2024/QĐXX-ST ngày 01 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Chamaléa Thị T, sinh năm 1988 (Có mặt)

    Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Chamaléa Thị T: Bà Lê Thị Ngọc Thoa - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Thuận (Có mặt).

  2. Bị đơn: Anh Lê Đức S, sinh năm 1988 (Vắng mặt)

    Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Chamaléa Thị T trình bày:

Chị và anh Lê Đức S sống chung với nhau có giấy đăng ký kết hôn số 61 ngày 03/02/2009 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, sau đó hai người làm ăn sinh sống ở thôn M, xã P. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau tương đối hạnh phúc, sau do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, từ năm 2020 đến nay hai người không còn sống chung và không còn quan tâm gì đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, vì vậy chị T làm đơn yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh S.

Về con chung: Chị T và anh S có 02 người con chung là cháu Lê Anh P, sinh ngày 01/4/2008; cháu Lê Anh Ph, sinh ngày 03/01/2013, hiện nay chị đang làm công nhân tại Công ty may H có thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi các con. Nếu Tòa án giải quyết việc ly hôn chị xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lê Anh P và Lê Anh Ph, chị không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa bà Lê Thị Ngọc Thoa người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị Chamaléa Thị T, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cụ thể:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh S sống chung với nhau có giấy đăng ký kết hôn số 61 ngày 03/02/2009 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, sau đó hai người làm ăn sinh sống ở thôn M, xã P. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau tương đối hạnh phúc, sau do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, từ năm 2020 đến nay hai người không còn sống chung và không còn quan tâm gì đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng và chị T có yêu cầu ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đức S.

  • - Về con chung: Chị T và anh S có 02 người con chung là cháu Lê Anh P, sinh ngày 01/4/2008; cháu Lê Anh Ph, sinh ngày 03/01/2013, hiện nay hai cháu đang ở cùng với chị T, chị đang làm công nhân tại Công ty may H có thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con. Tại phiên tòa chị T cũng có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con, chị không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con, căn cứ vào quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của chị T.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Bác Ái đã nhiều lần triệu tập Lê Đức S đến Tòa án để giải quyết việc ly hôn với chị T, nhưng anh S vắng mặt, từ ngày 11/01/2024 đến ngày 02/4/2024, Tòa án đã nhiều lần niêm yết giấy triệu tập và các văn bản tố tụng nơi anh S đang ở để anh biết đến Tòa án giải quyết vụ, việc. Mặc dù vẫn có mặt ở địa phương, anh S không chấp hành cố tình vắng mặt không có lý do nên Tòa án không lấy được lời khai của anh S và không tiến hành hòa giải được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bác Ái phát biểu quan điểm:

Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Chamaléa Thị T và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn bà Lê Thị Ngọc Thoa – Trợ giúp viên pháp lý đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Lê Đức S không thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt anh S là có căn cứ.

  • - Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, bị đơn anh S đang cư trú tại thôn M, xã P, huyện B nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bác Ái được quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh S sống chung với nhau có giấy đăng ký kết hôn số 61 ngày 03/02/2009 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, sau đó hai người làm ăn sinh sống ở thôn M, xã P. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau tương đối hạnh phúc, sau do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, từ năm 2020 đến nay hai người không còn sống chung và không còn quan tâm gì đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng và chị T có yêu cầu ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đức S.

  • - Về con chung: Chị T và anh S có 02 người con chung là cháu Lê Anh P, sinh ngày 01/4/2008 và cháu Lê Anh Ph, sinh ngày 03/01/2013, hiện nay hai cháu đang ở cùng với chị T, chị đang làm công nhân tại Công ty may H có thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con. Tại phiên tòa chị T cũng có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con, không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con, căn cứ vào quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của chị T.

  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết.

  • - Về án phí: Chị Chamaléa Thị T là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã P, huyện B là nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chị đã làm đơn xin miễn nộp tiền án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm cho chị T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng: Ngày 28/8/2023, chị Chamaléa Thị T đã làm đơn đến Tòa án huyện Bác Ái để yêu cầu giải quyết ly hôn với anh Lê Đức S. Hiện nay anh S đang cư trú tại Thôn M, xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận nên Tòa án huyện Bác Ái đã áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự để thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.

[2] Về áp dụng pháp luật nội dung.

2.1. Về quan hệ hôn nhân:

Chị Chamaléa Thị T và anh Lê Đức S sống chung với nhau trên cơ sở tự nguyện có giấy đăng ký kết hôn số 61 ngày 03/02/2009 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện B, sau đó hai người làm ăn sinh sống ở thôn M, xã P. Thời gian đầu vợ chồng sống với nhau tương đối hạnh phúc, sau do tính tình không hợp và bất đồng quan điểm nên vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi nhau, từ năm 2020 đến nay hai người không còn sống chung và không còn quan tâm gì đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng và chị T có yêu cầu ly hôn căn cứ vào quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đức S.

2.2. Về nuôi con chung: Hiện nay chị T đang làm công nhân tại Công ty may H có thu nhập ổn định đủ điều kiện để nuôi con, tại phiên tòa chị có nguyện vọng xin được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Lê Anh P, sinh ngày 01/4/2008 và cháu Lê Anh Ph, sinh ngày 03/01/2013, chị không yêu cầu anh Lê Đức S phải cấp dưỡng nuôi con. Sự tự nguyện nuôi con của chị là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình nên chấp nhận.

2.3. Về tài sản chung: Không có nên không đề cập đến.

[3] Về án phí: Chị Chamaléa Thị T là người đồng bào dân tộc thiểu số sống ở xã P, huyện B là nơi có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, chị đã làm đơn xin miễn nộp tiền án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm cho chị T.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Căn cứ vào các điều 51, 56, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Chamaléa Thị T.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Giải quyết cho chị Chamaléa Thị T được ly hôn với anh Lê Đức S.

  2. Về nuôi con chung: Giao cháu Lê Anh P, sinh ngày 01/4/2008 và cháu Lê Anh Ph, sinh ngày 03/01/2013 cho chị T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh Lê Đức S không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về án phí: Miễn toàn bộ khoản tiền án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Chamaléa Thị T.

  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/5/2024).

    Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • -VKSND huyện;
  • -Các đương sự;
  • - UBND xã P;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁC ÁI, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 03/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁC ÁI, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger