TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/HS-PT Ngày 10 - 01 -2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Lâm.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Dũng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 206/2023/TLPT-HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo Trần Văn Q cùng đồng phạm. Do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 92/2023/HS-ST ngày 15 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương.
* Các bị cáo kháng cáo:
- Trần Văn Q, sinh năm 1978 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn K và bà Hoàng Thị N; có vợ là Nguyễn Thị N1 và 02 con; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/9/2023 đến ngày 15/9/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Nguyễn Chí Q1, sinh năm 1979 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn N, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí Q2 và bà Nguyễn Thị T; có vợ là Trần Thị G và 02 con; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/9/2023 đến ngày 15/9/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Đào Đắc T1, sinh năm 1979 tại Hải Dương; nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Đắc M và bà Vũ Thị Đ; có vợ là Bùi Thị L và 04 con; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/9/2023 đến ngày 15/9/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
- Hoàng Xuân D, sinh năm 1978 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Xuân G1 và bà Hoàng Thị L1; có vợ là Vũ Thị X và 03 con; tiền án; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/9/2023 đến ngày 15/9/2023 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
Người làm chứng: Anh Phạm Khắc Q3, sinh năm 1977. Vắng mặt.
Trong vụ án còn có 01 bị cáo khác là Vũ Đình Đ1 không kháng cáo, không bị kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 14/9/2023, Đào Đắc T1, Trần Văn Q, Nguyễn Chí Q1 và Vũ Đình Đ1 đến nhà Hoàng Xuân D ở thôn P, xã C, huyện C ăn cơm. Sau đó, T1, Q, Q1, Đ1 nảy sinh ý định đánh bạc, sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh chắn đồng thời hỏi ý kiến D thì được D đồng ý, bảo cả nhóm lên phòng thờ tầng 2 đánh bạc. Khoảng hơn 12 giờ cùng ngày, Q lấy 01 bát sứ trong bếp (nhà D) rồi cùng Q1, Đ1, T1 đi lên phòng thờ tầng 2 nhà D đánh bạc còn D đi làm. Q1 lấy 01 bộ bài chắn và 01 chiếu trúc có sẵn trong phòng trải ra nền nhà ngồi đánh bạc. Tất cả thống nhất cách chơi và mức độ sát phạt như sau: Bốn người chơi dùng bộ bài Chắn 100 quân chia đều làm 5 phần, mỗi phần 19 quân, người đánh trước được 20 quân, số còn lại để làm bài lọc được đặt trên 01 bát sứ; mức độ sát phạt là “xuông 20 dịch 10”, tức là ù xuông (ù không có cước) thì mỗi nhà phải trả cho người ù 20.000 đồng, ù có cước thì mỗi cước được tính bằng 1 điểm tương đương với số tiền 10.000 đồng. Cụ thể: ù tôm được tính 5 điểm bằng 50.000 đồng, ù lèo được tính 6 điểm bằng 60.000 đồng; ù tám đỏ, ù bạch định hoặc ù bạch thủ chi thì được tính 7 điểm bằng 70.000 đồng. Nếu một trong bốn người chơi ù thì 3 người còn lại phải trả tiền cho người ù theo số tiền đã quy định; nếu bốc hết quân bài lọc trên bát mà không có người ù thì ván chơi đó hòa. Sau khi trả tiền xong cho người ù hoặc ván bài hòa thì những người chơi lại tiếp tục chia bài để đánh ván mới. Quá trình các đối tượng đánh bạc có anh Phạm Khắc Q3, sinh năm 1977 đến chơi và ngồi xem. Đến 15 giờ cùng ngày, khi Hoàng Xuân D vừa về đến nhà thì Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện C bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 20.100.000 đồng, 01 bộ bài Chắn 100 quân bài; 01 bát sứ, 01 chiếu trúc. Quản lý trong người Vũ Đình Đại số tiền 3.200.000 đồng không dùng để đánh bạc. Đào Đắc T1 khai có 5.000.000 đồng, Trần Văn Q khai có 5.400.000 đồng, Nguyễn Chí Q1 khai có 4.700.000 đồng sử dụng hết vào mục đích đánh bạc; Vũ Đình Đ1 khai có 8.200.000 đồng, sử dụng 5.000.000 đồng để đánh bạc (3.200.000 đồng không sử dụng vào việc đánh bạc). Tổng số tiền các đối tượng dùng để đánh bạc là 20.100.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 92/2023/HS-ST ngày 15/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đã tuyên bố các bị cáo Trần Văn Q, Nguyễn Chí Q1, Đào Đắc T1, Hoàng Xuân D phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Q, Q1, T1, D. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D và Q1. Xử phạt bị cáo Q 15 tháng tù, được trừ 01 ngày đã bị tạm giữ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 14 tháng 29 ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xử phạt bị cáo Q1 14 tháng tù, được trừ 01 ngày tạm giữ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại 13 tháng 29 ngày tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Xử phạt bị cáo T1 12 tháng tù được trừ 01 ngày tạm giữ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại 11 tháng 29 ngày tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Xử phạt bị cáo D 11 tháng tù được trừ 01 ngày tạm giữ, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại 10 tháng 29 ngày tù, thời hạn tính từ ngày bắt thi hành án. Ngoài ra, bản án còn tuyên về hình phạt bổ sung, biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với các bị cáo.
Ngày 20/11/2023, các bị cáo Q1, D, T1, Q đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.
Tại cấp phúc thẩm các bị cáo Q, Q1, T1, D giao nộp cho Tòa án Biên lai thu tiền thể hiện các bị cáo đã nộp trước quyết định thi hành án khoản tiền phạt và án phí theo quyết định của bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như được nêu trong bản án sơ thẩm, nhất trí với tội danh như Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với mình và đều giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Sau khi phân tích các tình tiết trong vụ án, xác định các bị cáo đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và áp dụng mức hình phạt đối với từng bị cáo là phù hợp. Các bị cáo Q, T1 có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cấp phúc thẩm có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên đề nghị HĐXX giữ nguyên mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách gấp đôi, tính từ ngày tuyên án phúc thẩm. Bị cáo Q1 là người sử dụng số tiền thấp hơn các bị cáo khác vào việc đánh bạc, bị cáo D không trực tiếp đánh bạc có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tại cấp phúc thẩm có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, có nơi cư trú rõ ràng nên đề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, chuyển áp dụng một hình phạt nhẹ hơn là cải tạo không giam giữ; đồng thời khấu trừ 5% thu nhập của các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ sung quỹ Nhà nước. Về án phí: các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau.
[1] Về tố tụng: Kháng cáo của các bị cáo trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 12 giờ ngày 14/9/2023, tại nhà của Hoàng Xuân D ở thôn P, xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương, D đã có hành vi đồng ý cho các bị cáo Đào Đắc T1, Trần Văn Q, Nguyễn Chí Q1 đánh bạc trái phép sát phạt nhau bằng tiền dưới hình thức đánh chắn. Đến khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, thì bị Công an huyện C, tỉnh Hải Dương bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Tổng số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc là 20.100.000 đồng. Với hành vi nêu trên, các bị cáo bị Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo, thấy rằng:
Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất hành vi, vai trò của các bị cáo, áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Sau khi xét xử sơ thẩm các bị cáo Q, Q1, T1, D đã tự nguyện nộp trước quyết định thi hành án tiền phạt, án phí hình sự sơ thẩm thể hiện ý thức chấp hành pháp luật. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng thêm cho các bị cáo. Các bị cáo Q, T1 mặc dù tại cấp phúc thẩm có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nhưng HĐXX thẩy rằng hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo là phù hợp nên không có căn cứ giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo. Tuy nhiên, xét các bị cáo Q, T1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có địa chỉ nơi cư trú rõ ràng, có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 2 Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao quy định về án treo nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên tòa, HĐXX giữ nguyên mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên nhưng cho các bị cáo Q, T1 được hưởng án treo và phải chịu thời gian thử thách gấp đôi cũng có tác dụng giáo dục các bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo Q1 là người sử dụng số tiền ít nhất vào việc đánh bạc, bị cáo D không tham gia đánh bạc mà chỉ cho các bị cáo khác đánh bạc tại nhà ở của mình, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, thấy rằng không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo mà cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương tại phiên tòa chuyển áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là hình phạt nhẹ hơn cũng đảm bảo mục đích trừng trị, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật đồng thời cũng đảm bảo được nguyên tắc xử lý đối với người phạm tội theo Điều 3 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Q1 và D phải bị khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ sung quỹ Nhà nước.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, HĐXX không xét và đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí: Kháng cáo của các bị cáo Q, Q1, T1, D được chấp nhận nên các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ, e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo Trần Văn Q, Đào Đắc T1. Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Chí Q1, Hoàng Xuân D. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 92/2023/HS-ST ngày 15/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương về phần hình phạt đối với các bị cáo Trần Văn Q, Nguyễn Chí Q1, Đào Đắc T1, Hoàng Xuân D.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thửa thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Đánh bạc”. Xử phạt bị cáo Đào Đắc T1 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi hai) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Đánh bạc”. Giao các bị cáo Trần Văn Q, Đào Đắc T1 cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 68, Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 36 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Chí Q1 14 (mười bốn) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 01 ngày đã bị tạm giữ = 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 13 (mười ba) tháng 27 (hai mươi bẩy) ngày cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án. Xử phạt bị cáo Hoàng Xuân D 11 (mười một) tháng cải tạo không giam giữ, được trừ 01 ngày đã bị tạm giữ = 03 (ba) ngày cải tạo không giam giữ, còn phải chấp hành 10 (mười) tháng 27 (hai mươi bẩy) ngày cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”, thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện C, tỉnh Hải Dương nhận được quyết định thi hành án. Khấu trừ 5% thu nhập hàng tháng của mỗi bị cáo Nguyễn Chí Q1 và Hoàng Xuân D trong thời gian cải tạo không giam giữ sung quỹ Nhà nước. Giao các bị cáo Nguyễn Chí Q1 và Hoàng Xuân D cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục. Trường hợp người được cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 100 Luật thi hành án hình sự.
[2] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Các bị cáo Trần Văn Q, Nguyễn Chí Q1, Đào Đắc T1, Hoàng Xuân D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (10/01/2024).
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Lâm |
Bản án số 03/2024/HS-PT ngày 10/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG về đánh bạc (gambling)
- Số bản án: 03/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Gambling)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 12 giờ ngày 14/9/2023, tại nhà của Hoàng Xuân D, D đã có hành vi đồng ý cho các 04 đối tượng khác đánh bạc tại nhà mình với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 20.100.000 đồng.
