|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST Ngày 10-01-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thu Hà;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Chữ
Bà Lý Thị Liên
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Hiền - Kiểm sát viên;
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 414/2023/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 139/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 21 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1986 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1980 (có đơn xin xét xử vắng mặt);
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 06/9/2023 và các lời khai có trong hồ sơ vụ án, chị Lê Thị T trình bày: Chị tự nguyện tìm hiểu, kết hôn với anh Nguyễn Văn K, có đăng ký kết hôn ngày 31/3/2008 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng thời gian đầu hòa thuận, hạnh phúc. Đầu năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong làm ăn phát triển kinh tế. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 5/2023 đến nay không ai quan tâm đến ai; vợ chồng không còn tôn trọng, yêu thương nhau, tình trạng hôn nhân căng thẳng, trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được; chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K.
Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 23/02/2009 và Nguyễn Ngọc Khánh L, sinh ngày 05/01/2013, hiện cháu đang ở cùng chị. Vợ chồng ly hôn chị có nguyện vọng nuôi cả 02 con chung, chị không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị và anh K không có tài sản chung, không liên quan đến vay nợ chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Bị đơn: Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 14/12/2023, anh Nguyễn Văn K trình bày: Anh K thừa nhận thời gian kết hôn, có đăng ký kết hôn như chị T trình bày là đúng, anh K cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong làm ăn phát triển kinh tế. Vợ chồng đã ly thân từ tháng 5/2023 đến nay không ai quan tâm đến ai, chị T không còn chung sống cùng gia đình anh nữa. Nay anh xác định tình nghĩa vợ chồng đã không còn, nên chị T xin ly hôn thì anh đồng ý ly hôn theo yêu cầu khởi kiện của chị T.
Về con chung: Anh K thừa nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 23/02/2009 và Nguyễn Ngọc Khánh L, sinh ngày 05/01/2013 như chị T trình bày là đúng, hiện 02 cháu đang ở cùng chị T. Vợ chồng ly hôn chị T có nguyện vọng nuôi cả 02 con chung, anh đồng ý; anh không yêu cầu Toà án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Anh và chị T không có tài sản chung, không liên quan đến vay nợ chung nên không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy ý kiến con chung của chị T, anh K cháu Nguyễn Đăng K1 trình bày có nguyện vọng được ở cùng bố, cháu Nguyễn Ngọc Khánh L trình bày có nguyện vọng được ở cùng mẹ.
Tại phiên toà anh K, chị T đều có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến đã trình bày với Toà án, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị T, anh K.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng và đầy đủ thủ tục tố tụng. Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự của phiên tòa sơ thẩm.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
Về con chung: Giao cho chị Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 23/02/2009 và Nguyễn Ngọc Khánh L, sinh ngày 05/01/2013.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T, anh K không có yêu cầu nên Toà án không đặt ra xem xét, giải quyết.
Chị T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Lê Thị T và anh Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh K theo quy định tại Điều 227, Điều 228; Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Lê Thị T khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung với anh Nguyễn Văn K, anh Nguyễn Văn K có địa chỉ tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đây là quan hệ tranh chấp Hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[3] Về Nội dung: Chị T và anh K đều thừa nhận tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L ngày 31/3/2008. Lời thừa nhận của chị T và anh K phù hợp với Trích lục kết hôn số 65/TLKH-BS ngày 05/8/2023 của UBND xã T, huyện L do chị T nộp kèm theo đơn khởi kiện. Như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị T và anh K là hợp pháp. Do vợ chồng mâu thuẫn, chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh K, yêu cầu Tòa án giải quyết về nuôi con chung.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị T, Hội đồng xét xử thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Các lời khai của chị T và anh K đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, không có tiếng nói chung trong làm ăn, phát triển kinh tế và đã ly thân từ tháng 5/2023 đến nay. Nay chị T xin ly hôn anh K đồng ý ly hôn. Đối với yêu cầu xin ly hôn của chị T, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong thời gian sống chung vợ chồng chị T và anh K không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ vợ chồng không thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ mọi việc, không giữ gìn, bảo vệ hạnh phúc gia đình, mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng sống ly thân, việc này trái với các quy định tại các điều 19, 21 luật Hôn nhân gia đình năm 2014. Từ những phân tích trên, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 8 Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23/12/2000 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về căn cứ cho ly hôn thì thấy rằng: Tình trạng của vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Nguyễn Văn K.
[3.2] Về con chung: Chị T và anh K đều thừa nhận có 02 con chung là Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 23/02/2009 và Nguyễn Ngọc Khánh L, sinh ngày 05/01/2013, hiện 02 cháu đang ở cùng với chị T, các cháu vẫn khoẻ mạnh phát triển bình thường, cháu K1 có nguyện vọng được ở với bố, cháu L có nguyện vọng ở cùng mẹ; chị T và anh K đều có nguyện vọng để chị T nuôi cả 02 con chung. Về yêu cầu nuôi con chung thì thấy: Mặc dù cháu K1 có nguyện vọng được ở với bố, cháu L có nguyện vọng ở cùng mẹ nhưng chị T, anh K đều thống nhất để chị T nuôi cả 02 con chung, chị T có thu nhập và nơi ở ổn định, để các cháu ổn định cuộc sống và học tập, các cháu có điều kiên tốt nhất để phát triển toàn diện, nên cần giao cho chị Lê Thị T nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 23/02/2009 và Nguyễn Ngọc Khánh L, sinh ngày 05/01/2013 cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị T, anh K đều không yêu cầu Tòa án giải quyết về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung của vợ chồng: Chị T, anh K đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[4] Án phí: Chị Lê Thị T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và tiểu mục 1.1 mục 1 phần II danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271,273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 238, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, khoản 1, khoản 3 Điều 82 Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn anh Nguyễn Văn K.
2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Đăng K1, sinh ngày 23/02/2009 và Nguyễn Ngọc Khánh L, sinh ngày 05/01/2013.
Anh K có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai có quyền cản trở anh K thực hiện quyền này.
Chị T và anh K có quyền làm đơn đề nghị thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn theo quy định của pháp luật.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T, anh K đều không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
4. Án phí: Chị Lê Thị T phải chịu 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0000534, ngày 25/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn. Xác nhận chị T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thu Hà |
Bản án số 03/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 03/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung
