Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/HS-ST

Ngày: 10/01/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Thị Giang.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và bà Nguyễn Thị Nguyên.

- Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Tâm - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh - Kiểm sát viên.

Ngày 10/01/2024, tại phòng xét xử của Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2023/TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 75/2023/QĐXXST-HS ngày 27/12/2023, đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn K, sinh năm 1983, tại huyện G, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1960; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị P, sinh năm 1960; Vợ: Khúc Thị H, sinh năm 1984, có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2013; Tiền sự, Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/10/2023 đến ngày 07/10/2023, tạm giam từ ngày 07/10/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt.

2. Nguyễn Văn C, sinh năm 1969, tại huyện T, tỉnh Bắc Ninh; Nơi ĐKHKTT: Tập thể công ty H4, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội; Nơi ở: Thôn P, xã M, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa (học vấn): 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Họ và tên cha: Nguyễn Quang C1, sinh năm 1942; Họ và tên mẹ: Lê Thị K1, sinh năm 1944; Vợ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1973, có 02 con, lớn sinh năm 1993, nhỏ sinh năm 1998; Tiền sự, Tiền án: Không;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 01/10/2023 đến ngày 07/10/2023, tạm giam từ ngày 07/10/2023 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H.Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Tập thể ô tô 8, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Chị Phạm Thị D1, sinh năm 1987. Vắng mặt.
  2. Anh Phan Văn H2, sinh năm 1991. Vắng mặt.
  3. Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1990. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn C có mối quan hệ quen biết nhau ngoài xã hội và đều sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine. Khoảng hơn 07 giờ ngày 01/10/2023, C điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Daewoo, màu đen, mang biển kiểm soát 98A- 017.26 (xe mượn của chị Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1982, trú tại: Tập thể ô tô 8, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội) đi từ chỗ ở: Thôn P, xã M, huyện T, tỉnh Hải Dương đi đến thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên để mua ma túy về sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Khi C đi trên đường Q gần cầu T, thuộc địa phận xã Đ, huyện G thì C có việc, nên đã dừng xe. Tại đây, C có gặp K và K có hỏi C: “Anh đi đâu”. C trả lời: “đi sang Hưng Yên". Thấy vậy, K bảo cho K đi nhờ và C đồng ý. Trên xe, K nói đi sang khu vực thị trấn T, huyện P, tỉnh Hưng Yên để mua ma túy về sử dụng và bán kiếm lời. Lúc này, C có hỏi K: “mua bao nhiêu tiền”, K trả lời: “mua 1.300.000 đồng”. Thấy vậy C nhờ K mua hộ 1.300.000 đồng thì K đồng ý, nên C đã đưa số tiền 1.300.000 đồng cho K (do sử dụng ma túy đã lâu nên cả hai đều biết nếu mua nhiều ma túy sẽ được cho thêm). Khi đến nơi, C ngồi trên xe ô tô, còn K đi tìm ma túy để mua. Tại đây, K có gặp một người đàn ông không quen biết rồi mua của người này 13 gói ma túy và được cho thêm 01 gói ma túy, tổng là 14 gói ma túy. Sau đó, K cầm lấy 14 gói ma túy vừa mua rồi quay lại xe ô tô và bảo với C là mua được 13 gói Heroine và được cho thêm 01 gói tổng là 14 gói. Sau đó, cả hai thống nhất là chia 14 gói ma túy thành 20 gói ma túy, mỗi người giữ 10 gói để tự quản lý và bán khi có người hỏi mua. Lúc này, K ngồi hàng ghế sau, dùng dao tem của C đã có sẵn từ trước trên xe và giấy bạc K cắt từ bao thuốc lá của C và K đang sử dụng, rồi K chia nhỏ 14 gói ma túy vừa mua được thành 20 gói ma túy như đã thống nhất với C. Sau khi chia xong, C và K mỗi người giữ 10 gói ma túy để tự quản lý. Sau đó cả hai tiếp tục đi về nhà một người bạn của K tên là Nguyễn Văn V, sinh năm 1990, trú tại: Thôn B, xã T, huyện G ngồi chơi và ăn cơm nhà anh V. Ăn cơm xong mỗi người đi một nơi để đi bán ma túy. Do cả hai mới bán ma túy lần đầu nên khi chưa có ai hỏi mua, lại thèm ma túy, nên C đã sử dụng hết 09 gói ma túy bằng hình thức hít tại nghĩa trang thôn B, xã T, công cụ sử dụng ma túy là 01 chiếc bật lửa C mang theo sẵn, sau khi sử dụng xong đã vứt ở đâu không rõ. Còn lại 01 gói ma túy C cất giấu trong túi quần đang mặc, nếu có ai hỏi mua thì bán lại kiếm lời. Còn K cũng sử dụng hết 09 gói ma túy bằng hình

thức hít tại cánh đồng thôn B, xã T, công cụ sử dụng ma túy là 01 chiếc bật lửa K mang theo sẵn, sau khi sử dụng xong đã vứt ở đâu không rõ. Còn lại 01 gói ma túy K cất giấu trong túi quần đang mặc, nếu có ai hỏi mua thì vẫn bán lại kiếm lời.

Đến khoảng hơn 17 giờ cùng ngày do không bán được ma túy cho ai nên C đã đi về khu vực nhà văn hóa thôn B, T để chờ K cùng về. Khoảng 10 phút sau C thấy K quay về rồi hỏi C: “có bán được gói ma túy cho ai không”? C trả lời: “chưa bán được cho ai và đã sử dụng hết 09 gói ma túy, còn 01 gói ma túy”. K cũng bảo với C là K cũng không bán được cho ai và đã sử dụng hết 09 gói ma túy, còn 01 gói ma túy. Sau đó K bảo C là đưa nốt gói ma túy cho K cầm, nếu có ai hỏi mua thì bán, tiền bán ma túy được thì sẽ chia đôi. C đồng ý và đưa 01 gói ma túy còn lại cho K, K cất gói ma túy trong túi quần đùi bên phải đang mặc. Sau đó cả hai cùng ngồi đợi để có ai hỏi mua thì bán nốt 02 gói ma túy trên. Đến 18 giờ cùng ngày, Phan Văn H2, sinh năm 1991 trú tại: xã G, huyện G đi đến khu vực nhà văn hóa thôn B thì gặp K và C. Hợp hỏi K: “Anh có biết chỗ nào bán ma túy không bảo em với”, K nói: “tao có đây, mày mua bao nhiêu”, H2 nói: “em mua hai trăm nghìn đồng”, K nói: “đưa tiền đây”. H2 đưa cho K số tiền 200.000 đồng, K cầm tiền rồi đưa cho H2 01 gói giấy thiếc màu bạc, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, số tiền bán ma túy K đưa cho C cầm thì bị lực lượng Công an huyện G phối hợp với Công an xã T, huyện G phát hiện bắt quả tang. Thu giữ: trong lòng bàn tay phải của H2 01 gói giấy thiếc nhỏ màu bạc, bên trong có chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu Ml). H2 khai nhận đây là ma túy loại H3 vừa mua của K để sử dụng cho bản thân. Thu giữ trong lòng bàn tay phải của C số tiền 200.000 đồng. C khai nhận đây là tiền K vừa bán ma túy cho H2; thu giữ trong túi quần đùi bên phải phía trước K đang mặc 01 gói giấy thiếc nhỏ màu bạc bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng (niêm phong trong phong bì ký hiệu M2). K khai nhận đây là ma túy loại H3, K cất giấu để sử dụng và nếu có ai mua thì bán lại kiếm lời. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe ô tô màu đen, nhãn hiệu DAEWOO, BKS: 98A- 017.26. Kiểm tra bên trong xe ô tô thu giữ: 01 dao tem và 6 mảnh giấy thiếc màu bạc đựng trong vỏ bao thuốc lá Thăng Long, màu vàng ở khu vực cần số xe ô tô. Quá trình bắt quả tang có chị Phạm Thị D1, sinh năm 1987, trú tại: Khu D, thị trấn G, huyện G là người làm chứng. Kết quả xét nghiệm ngày 02/10/2023, K, C dương tính với ma túy dạng Morphin.

Tại Kết luận giám định số 485/KL- KTHS ngày 03/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận:

- Mẫu chất bột (dạng cục) màu trắng trong gói giấy thiếc màu bạc được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1, ghi thu của Phan Văn H2 khối lượng là 0,044g, gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

- Mẫu chất bột dạng cục màu trắng trong gói giấy màu bạc được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2, ghi thu của Nguyễn Văn K khối lượng là 0,042g, gửi giám định là ma túy, loại Heroine.

Cáo trạng số 77/CT-VKS ngày 27/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) huyện G, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Nguyễn Văn K và bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Gia Lộc giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; điểm b, c khoản 1 Điều 47, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự (BLHS); điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS); Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với 02 bị cáo. Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K và bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K từ 26 tháng tù đến 28 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2023; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 25 tháng tù đến 27 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2023;

Về xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy: 0,059 gam ma túy, loại Heroine; 01con dao tem, 08 mảnh giấy thiếc màu bạc, 02 phong bì niêm phong mẫu vật; Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng; Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thúy H1 01 xe ô tô màu đen, nhãn hiệu DAEWOO, BKS: 98A- 017.26.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, xác định nội dung bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện G và quyết định truy tố, luận tội của VKSND huyện Gia Lộc đối với các bị cáo là đúng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị HĐXX cho xin lại 01 xe ô tô màu đen, nhãn hiệu DAEWOO, BKS: 98A-017.26, đây là tài sản của chị và chị không biết bị cáo Chung sử dụng để phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xác định là hợp pháp.

[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và một số tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn C là các đối tượng đều sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine nên cả hai đã mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Hồi 18 giờ ngày 01/10/2023 tại khu vực trước cửa nhà văn hóa thôn B, xã T huyện G, K và C có hành vi bán cho Phan Văn H2 01 gói Heroine có khối lượng là 0,044gam với số tiền 200.000đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra còn thu giữ trong túi quần đùi bên phải K đang mặc 01 gói Heroine có khối lượng 0,042gam. K khai mục đích cất giấu số ma túy để K, C bán lại kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy loại Heroine K và C đã bán và cất giấu để bán là: 0,044gam + 0,042gam = 0,086 gam.

[3] Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, các bị cáo vẫn cố ý thực hiện để thu lợi bất chính, kiếm tiền tiêu xài cá nhân; lượng ma túy các bị cáo đã bán và cất giấu để bán là 0,086 gam Heroine. Dó đó, VKSND huyện Gia Lộc truy tố bị cáo Nguyễn Văn K và bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây tác hại lớn về nhiều mặt, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Ma túy có tác hại rất lớn đến con người cũng như toàn xã hội. Nó không chỉ là nguyên nhân lây truyền căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS mà còn là nguồn phát sinh các loại vi phạm, tội phạm khác. Do đó cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm khắc mới đủ tác dụng giáo dục, trừng trị, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Đây là vụ án đồng phạm nên cần phân tích đánh giá vai trò của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo tuy có sự thống nhất cùng thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng giữa các bị cáo không có sự phân công, câu kết chặt chẽ. Bị cáo K là người trực tiếp đi mua ma túy, chia nhỏ các gói ma túy và bán ma túy cho H2 nên giữ vai trò thứ nhất. Bị cáo Chung góp tiền mua ma túy, đồng ý bán ma túy với bị cáo K nên giữ vai trò thứ hai.

[6] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Bị cáo K: Bản án số 734/HSPT ngày 24/5/2004 của Tòa phúc thẩm tại Hà Nội - Tòa án nhân dân tối cao xử phạt K 9 năm tù về tội: Giết người (ngày 31/12/2008, K chấp hành xong bản án - đã được xóa án tích); Ngày 10/11/2013, K có hành vi Gây rối trật tự công cộng nên ngày 28/11/2013, Công an huyện G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 169/QĐ- XPHC đối với K (đã được xóa); Ngày 28/3/2018, K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên ngày 12/4/2018, Chủ tịch UBND xã Đ, huyện G ra Quyết định về việc áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, T- UBND đối với K (đã được xóa); Ngày 26/7/2018, Tòa án nhân dân huyện Gia Lộc ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc số 08/2018/QĐ-TA đối với K, thời gian chấp hành là 18 tháng (ngày 05/02/2020, K chấp hành xong quyết định - đã được xóa). Mặc dù các bản án, các quyết định trên đã được xóa nhưng HĐXX xác định bị cáo K có nhân thân xấu.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo. Bị cáo Chung có bố, mẹ đẻ được tặng thưởng Huân chương và bị cáo K có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương nên cả hai bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.

[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, HĐXX thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung của xã hội một thời gian thích hợp để Nhà nước giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật. HĐXX sẽ quyết định mức hình phạt phù hợp với vai trò của từng bị cáo trong vụ án, bị cáo K giữ vai trò thứ nhất nên sẽ có mức án cao hơn bị cáo Chung.

[8] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[9] Về vật chứng:

- Đối với 01 con dao tem, 08 mảnh giấy thiếc màu bạc, 02 phong bì niêm phong mẫu vật được hoàn lại sau giám định, xét thấy đây là vật không có giá trị nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- Đối với 0,059 gam ma túy, loại Heroine hoàn lại sau giám định, xét thấy đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy;

- Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của các bị cáo, xét thấy đây là tiền do các bị cáo bán trái phép ma túy mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 xe ô tô màu đen, nhãn hiệu DAEWOO, BKS: 98A-017.26, quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chị Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1982, nơi cư trú: Tập thể ô tô 8, xã V, huyện T, thành phố Hà Nội. Chị H1 không biết các bị cáo sử dụng xe ô tô của mình làm phương tiện đi mua ma túy và có quan điểm xin lại tài sản này, do vậy cần trả lại cho chị H1 chiếc xe ô tô này là phù hợp.

[10] Về nguồn gốc ma túy, Nguyễn Văn K khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu đô thị T, huyện P, tỉnh Hưng Yên, quá trình điều tra không xác định được người này là ai, ở đâu nên không có căn cứ xử lý.

Đối với anh Nguyễn Văn V không biết Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn C khi đến nhà anh V chơi cất giấu ma túy trong người để sử dụng và bán kiếm lời nên không có căn cứ xử lý.

Đối với chị Nguyễn Thị Thúy H1 là chủ sở hữu chiếc xe ô tô màu đen, nhãn hiệu DAEWOO, loại MAGNUS, BKS: 98A-017.26, tuy nhiên chị H1 không biết C sử dụng để làm phương tiện đi mua ma túy ngày 01/10/2023 nên không có căn cứ xử lý.

Đối với Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn C, ngoài hành vi phạm tội, còn có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, ngày 11/11/2023, Công an huyện G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 42, 43/QĐ-XPHC đối với K, C là phù hợp.

Đối với hành vi của Phan Văn H2 mua 01 gói Heroin có khối lượng 0,044gam của Nguyễn Văn K. Hợp chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi: Tàng trữ trái chất ma túy và chưa bị kết án về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy và các tội quy định tại Điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật Hình sự nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Ngày 11/11/2023 Công an huyện G ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 89/QĐ-XPHC đối với H2 là phù hợp.

[11] Về án phí: Các bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm b, c khoản 1 Điều 47, Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106, các Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo.

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn K và bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính:

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2023.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 25 (hai mươi lăm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 01/10/2023.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy: 0,059 gam ma túy, loại Heroine; 01 con dao tem, 08 mảnh giấy thiếc màu bạc, 02 phong bì niêm phong mẫu vật (được đựng trong 02 phong bì thư dán kín niêm phong ký hiệu T1, T2 số 485/KL-KTHS và 01 phong bì thư dán kín niêm phong ký hiệu D).

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng (được niêm phong trong 01 phong bì số 25/CAGL ngày 09/10/2023).

- Trả lại chị Nguyễn Thị Thúy H1, sinh năm 1982, nơi cư trú: Tập thể ô tô 8, xã V, huyện T, Hà Nội 01 xe ô tô con, đặc điểm: màu đen, nhãn hiệu DAEWOO, loại MAGNUS, số khung VVAVMV2H-00559, số máy C2DSED118434, BKS: 98A-017.26.

(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện G và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc ngày 28/11/2023).

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn K và bị cáo Nguyễn Văn C, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Lộc;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Gia Lộc;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ Công an huyện Gia Lộc;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện Gia Lộc;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương,
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Lộc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 03/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA LỘC, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn K và Nguyễn Văn C là các đối tượng đều sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine nên cả hai đã mua ma túy để sử dụng và bán kiếm lời. Hồi 18 giờ ngày 01/10/2023 tại khu vực trước cửa nhà văn hóa thôn B, xã T huyện G, K và C có hành vi bán cho Phan Văn H2 01 gói Heroine có khối lượng là 0,044gam với số tiền 200.000đồng thì bị phát hiện bắt quả tang. Ngoài ra còn thu giữ trong túi quần đùi bên phải K đang mặc 01 gói Heroine có khối lượng 0,042gam. K khai mục đích cất giấu số ma túy để K, C bán lại kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy loại Heroine K và C đã bán và cất giấu để bán là: 0,044gam + 0,042gam = 0,086 gam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger