|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày: 10-01-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Thanh – Giám đốc Trung tâm GDNN huyện An Minh và bà Trương Thị Như Ngọc – Bí thư Huyện đoàn huyện An Minh.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện A, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đông H - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 01 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 88/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Phạm Văn S, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1992 tại A, Kiên Giang; CCCD số [...]; Nơi cư trú: ấp A Chợ A, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang; Giới tính: nam; Nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ văn hóa: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn C và bà Võ Thị C1; chưa có vợ con; tiền án: Ngày 30/9/2009 bị Tòa án nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù, về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ tại bản án số: 36/2009/HS-ST và ngày 29/12/2009 bị Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử phúc phẩm về phần bồi thường thiệt hại và xử lý vật chứng tại bản án số: 245/2009/HSPT (chưa chấp hành xong bản án, chưa được xóa án tích); tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 27/8/2023, chuyển tạm giam ngày 30/8/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Anh Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 23/4/2009; địa chỉ: ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Mỹ N, sinh năm 1985; địa chỉ: ấp G, xã Đ, huyện A, tỉnh Kiên Giang (Mẹ bị hại Tuấn Đ1), (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Trần Tuấn A - Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 02/6/2022 anh Lê văn T (tên thường gọi là T1) điều khiển xe ô tô tải mang biển kiểm soát 48C - 067.12 đi cùng với em Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 23/4/2009 và anh Thái Văn M, Đ ngồi giữa anh Lê Văn T2 và anh Thái Văn M là phụ xế đi từ hướng Xẻo Nhàu A về hướng thứ 9 rưỡi. Khi đến đoạn trại tôm giống “Sú Việt” thuộc ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang thì bị Phạm Văn S cầm đá loại 4x6 cm đứng bên lề phải hướng đi của xe tải ném vào xe lọt qua cửa kính (xe không đóng cửa) trúng vào thái dương phải của em Đ nên bị thương chảy máu nên được anh T1 đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh K.
Tại Kết luận giám định pháp ý về thương tích số: 418/TgT ngày 14/7/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh K, kết luận thương tích của em Phạm Tuấn Đ như sau:
- Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương vùng trán phải, vỡ lún sọ trán phải gây tụ máu ngoài màng cứng trán phải, dập não, xuất huyết trán phải, đường giữa lệch trái, đã được phẫu thuật mở hộp sọ lấy máu tụ, treo màng cứng, tái tạo xương sọ vỡ và dẫn lưu. Hiện tại còn tổn thương dập não thuỳ trán thái dương phải và chỗ khuyết sọ được vá lại bằng mảng xương rời nứt nhiều mảnh vùng trán thái dương phải.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 45% (Bốn mươi lăm phần trăm).
- Vật gây thương tích: Vật tày có cạnh; Vật chứng (Cục đá) gửi giám định gây ra được thương tích trên.
- Về tang vật: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã tạm giữ 01 cục đá (loại 4x6cm) màu xám, không định hình, kích thước 9x8x6cm, cân nặng 572 gram, có nhiều góc cạnh nham nhở, nhiều chỗ khuyết lõm và có chỗ có cạnh, bờ tù, mặt bên có dính nhựa đương màu đen. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện A đã nhập kho vật chứng là phù hợp.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 cục đá (loại 4x6cm) màu xám, không định hình, kích thước 9x8x6cm, cân nặng 572 gram, có nhiều góc cạnh nham nhở, nhiều chỗ khuyết lõm và có chỗ có cạnh, bờ tù, mặt bên có dính nhựa đương màu đen.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại Phạm Tuấn Đ và gia đình không có yêu cầu khắc phục, bồi hoàn phần dân sự nên không xem xét.
Tại Cáo trạng số 94/CT-VKS-AM ngày 12-12-2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang truy tố Phạm Văn Sang về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa,
- - Kiểm sát viên kết luận bị cáo Phạm Văn S phạm tội cố ý gây thương tích và đề nghị: Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 và khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn S từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù; Về trách nhiệm dân sự đề nghị ghi nhận thỏa thuận; Về vật chứng: tịch thu tiêu hủy 01 cục đá (loại 4x6cm) màu xám, không định hình.
- - Bị cáo trình bày: Thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như nội dung Cáo trạng đã nêu. Trong lời nói sau cùng bị cáo trình bày đã biết lỗi, rất hối hận về hành vi của bản thân đã gây ra, xin lỗi gia đình bị hại; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để sớm về lo cho gia đình.
- - Bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại trình bày: tại phiên tòa đã được gia đình bị cáo bồi thường đủ số tiền 5.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm; về hình sự, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, ông Trần Tuấn A trình bày: thống nhất với tội danh, các tình tiết và mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị. Cần xem xét bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của trẻ em nên cần xử lý nghiêm bằng hình phạt tù có thời hạn; trách nhiệm dân sự gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội, tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và những tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, từ đó có đủ căn cứ để kết luận:
[3.1] Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 02/6/2022 tại ấp X, xã T, huyện A, tỉnh Kiên Giang, Phạm Văn S đứng cạnh hàng rào trại tôm giống Sú Việt thì nhìn thấy cục đá 4x6 nằm cặp mé lộ xe nên S nhặt cục đá lên và cầm trên tay, lúc này nhìn thấy xe tải của anh Phạm Văn T3 do anh Lê Văn T2 điều khiển chạy tới nên S ném cục Đ2 về hướng xe tải. Cục đá lọt qua khe cửa kính của xe tải và trúng vào đầu của Phạm Tuấn Đ, làm cho Đ bị thương nặng phải điều trị tại Bệnh viện. Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 418/TgT ngày 14/7/2022 của Trung tâm pháp y tỉnh K kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 45%; vật chứng (cục Đ2) gửi giám định gây ra được các thương tích trên.
[3.2] Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được việc dùng cục đá ném mạnh vào chiếc xe đang di chuyển, nếu trúng vào người khác sẽ gây ra thương tích, nhưng bị cáo vẫn thực hiện nên thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý; công cụ bị cáo dùng để gây thương tích cho bị hại là cục đá (loại 4x6cm), không định hình, kích thước 9x8x6cm, cân nặng 572gram, có nhiều góc cạnh nham nhở, nhiều chỗ khuyết lõm và có chỗ có cạnh, bờ tù được xác định là hung khí nguy hiểm; đối tượng bị cáo đã gây thương tích là em Phạm Tuấn Đ, sinh ngày 23/4/2009 (chưa đủ 16 tuổi); đây là tình tiết định tội theo quy định tại điểm a và điểm c khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự. Do bị hại bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ 45% nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung tại điểm a, c khoản 1 Điều này. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Phạm Văn S phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[4] Về hình phạt:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng, tính chất của vụ án: Bị cáo đã bị kết án về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, được quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, tuy vào thời điểm thực hiện hành vi phạm tội và bị kết án bị cáo là người dưới 18 tuổi nhưng tội phạm bị cáo thực hiện là tội phạm rất nghiêm trọng do lỗi vô ý, nên không thuộc trường hợp được coi là không có án tích theo quy định tại khoản 1 Điều 107 Bộ luật hình sự, đến nay bị cáo chưa chấp hành xong bản án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên thuộc trường hợp tái phạm.
Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của bị hại. Sức khỏe là vốn quý giá của con người, không ai được quyền xâm phạm một cách trái pháp luật. Hành vi của bị cáo không chỉ gây tổn thương sức khỏe cho bị hại mà còn gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, gây hoang mang, lo lắng trong nhân dân. Đối tượng bị cáo xâm phạm là trẻ em. Do đó, HĐXX cần xử phạt bị cáo hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội bị cáo đã gây ra, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải; đã bồi thường đầy đủ thiệt hại cho bị hại; Ông N1 của bị cáo là người có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất; bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. HĐXX xác định đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[4.3] Về quyết định hình phạt, HĐXX thấy bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ trốn khỏi địa phương, gây khó khăn cho quá trình điều tra vụ án và bị bắt theo Quyết định truy nã nên cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn. Khi quyết định hình phạt thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt bị truy tố, xét xử nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đã được bồi thường 5.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 cục đá (loại 4x6cm) màu xám, không định hình, là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về án phí, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn S phạm tội Cố ý gây thương tích.
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn S 03 (ba) năm tù về tội Cố ý gây thương tích. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ (ngày 27/8/2023).
- Về trách nhiệm dân sự, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đã được bồi thường 5.000.000 đồng, không yêu cầu gì thêm.
- Về xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu, tiêu hủy: 01 cục đá (loại 4x6cm) màu xám, không định hình, kích thước 9x8x6cm, cân nặng 572gram, có nhiều góc cạnh nham nhở, nhiều chỗ khuyết lõm và có chỗ có cạnh, bờ tù, mặt bên có dính nhựa đường màu đen (Hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Minh đang quản lý theo Quyết định chuyển vật chứng số 55/QĐ-VKS-AM ngày 12-12-2023 của VKSND huyện An Minh).
- Về án phí, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Phạm Văn S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 10-01-2024)./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Chí Công |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN MINH, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn S Cố ý gây thương tích
