Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

Bản án số: 03/2024/DS-PT

Ngày 09/01/2024

"V/v tranh chấp quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thiết Hùng;

Các Thẩm phán:

Bà Lê Hoài Thủy;

Bà Đoàn Thị Kim Thương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhi – Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại Phòng xét xử số 03 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2023 của TAND thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 79/2023/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2023, quyết định hoãn phiên tòa số 175/2023/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T; cùng địa chỉ: Khu phố A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

- Bị đơn: Bà Phạm Thị K1; địa chỉ: Khu phố A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; có mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị K1: Anh Nguyễn Đồng T1; địa chỉ: Khu phố A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị (Giấy ủy quyền ngày 05/01/2024); có mặt.

Người kháng cáo – bị đơn: Bà Phạm Thị K1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 02/7/2021, biên bản hòa giải ngày 17/5/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T trình bày:

Năm 1984, ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T được U, thị xã Đ (nay là thành phố) và Giám đốc Nhà máy X giao một thửa đất, hiện tại là thửa đất số 61, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Khu phố A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Ông, bà đã sinh sống, làm nhà ở trên thửa đất từ đó đến nay. Thửa đất này đã được UBND thành phố Đ cấp Giấy CNQSD đất số BV 672233 ngày 12/3/2015 mang tên ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T với diện tích là 1.511m².

Quá trình sử dụng đất, ông K và bà T đã khai hoang, mở rộng diện tích đất kéo dài về phía sau và sang bên trái của thửa đất số 61 bằng việc trồng hoa màu, tràm, bạch đàn; diện tích đất khai hoang, diện tích mở rộng thêm thuộc các thửa đất số 66, 67, 78, tờ bản đồ số 13, tại: Khu phố A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Năm 1990, gia đình bà Phạm Thị K1 chuyển đến sinh sống tại thửa đất nhà ông T2, liền kề thửa đất gia đình ông K, bà T. Bà K1 làm nhà, sinh sống trên thửa đất và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 62, tờ bản đồ số 13. Quá trình sinh sống, bà K1 đã khai hoang, mở rộng thêm ở phần sau của thửa đất bà K1, nằm phía bên phải con đường mòn lên rừng.

Năm 2004, U, thành phố Đ có chính sách mở đường dân sinh, các gia đình ông K, bà K1 và ông T3 đã tự nguyện hiến đất làm đường và không yêu cầu bồi thường. Sau khi con đường được mở, diện tích đất khai hoang của các gia đình được tách ra nằm hai phía con đường, các gia đình vẫn canh tác, sử dụng ổn định trên thửa đất này từ đó đến nay, không có tranh chấp.

Năm 2008, gia đình ông K làm hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã khai khoang thì phát hiện một phần diện tích đất thuộc các thửa số 66, 67, 78, tờ bản đồ số 13 được ghi nhận là đất do gia đình bà K1 khai hoang, mở rộng; còn phần đất gia đình ông K lại được ghi nhận nằm ở phía sau lưng thửa đất số 62, tờ bản đồ số 13. Gia đình ông K đã làm đơn kiến nghị để U xem xét lại hồ sơ ghi nhận việc sử dụng đất. Sau khi làm đơn kiến nghị, gia đình ông K vẫn tiếp tục sử dụng các thửa đất nêu trên và không phát sinh tranh chấp với ai.

Năm 2019, khi gia đình ông K làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên thì bà K1 cản trở, cho rằng đó là đất của bà K1, đồng thời bà K1 đã tiến hành trồng sả trên một phần thửa đất số 67 và trồng tràm trên một phần thửa đất số 78, với diện tích 123m². Tranh chấp giữa gia đình ông K với gia đình bà K1 đã được U, thành phố Đ hòa giải nhưng không thành. Do đó, ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc bà Phạm Thị K1 thu hồi toàn bộ cây sả trên đất để trả phần diện tích đất đã lấn chiếm tại các thửa đất số 67 và 78 và chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất của gia đình ông K, bà T đối với các thửa đất sau:

  • - Một phần thửa đất số 67 (theo sơ đồ hiện trạng khu đất là thửa 67/1), tờ bản đồ số 13 năm 2001, với diện tích 224m², có vị trí, kích thước cụ thể:
    • + Phía Bắc: Giáp đường giao thông, dài khoảng 13.74m;
    • + Phía Nam: Giáp thửa đất số 70/1 và 78/1, dài khoảng 11,89m + 8,19m;
    • + Phía Đông: Giáp thửa đất 77 và 77/1;
    • + Phía Tây: Giáp thửa đất 67;
  • - Một phần thửa đất số 78 (theo sơ đồ hiện trạng khu đất là thửa 78/1), tờ bản đồ số 13 năm 2001, với diện tích 255m², có vị trí, kích thước cụ thể:
    • + Phía Bắc: Giáp thửa đất 67/1, dài khoảng 11,89m;
    • + Phía Nam: Giáp đường giao thông, dài khoảng 22,46m;
    • + Phía Đông: Giáp thửa đất 70/1 dài khoảng 20m +4,27m;
    • + Phía Tây: Giáp thửa 78.
  • - Một phần thửa đất số 78 (diện tích đất còn lại sau khi mở đường khu vực), tờ bản đồ số 13 năm 2001, diện tích tranh chấp: 123m², có vị trí, kích thước cụ thể:
    • + Phía Bắc: Giáp đường giao thông, dài khoảng 20m;
    • + Phía Nam: Giáp đất rừng bà K1, dài khoảng 08m;
    • + Phía Đông: Giáp đất rừng bà K1, dài khoảng 08m;
    • + Phía Tây: Giáp đất rừng ông T3, dài khoảng 15m.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T rút một phần yêu cầu khởi kiện đối phần diện tích đất tranh chấp 123m² không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại văn bản trình bày ý kiến của bị đơn ngày 11/8/2021, văn bản trình bày ý kiến bổ sung ý kiến về thụ lý vụ án ngày 25/8/2021; biên bản hòa giải ngày 17/5/2023, và tại phiên tòa bị đơn bà Phạm Thị K1 trình bày:

Năm 1984, để ổn định cuộc sống gia đình bà K1 đã làm đơn gửi U, thị xã Đ (nay là thành phố Đ) xin được cấp 1.500m² đất ở và được U xác nhận. Đến năm 2005, UBND thị xã Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà K1 với diện tích 1.153m² đất ở. Sau khi được cấp đất, gia đình bà K1 đã sinh sống ổn định, liên tục từ năm 1984 cho đến nay.

Do phía Tây Nam của thửa đất gia đình bà K1 sinh sống là một vùng đồi núi hoang hóa có diện tích khoảng 10ha. Để cải thiện đời sống và thực hiện cuộc vận động khai hoang của Nhà nước nên ít năm sau đó, bà K1 đã làm thủ tục để xin giao đất trồng rừng.

Năm 1994, gia đình bà K1 nộp đơn đến Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xin giao 10ha đất để trồng cây lâm nghiệp. Căn cứ đơn xin giao đất, UBND thị xã Đ (nay là thành phố) ban hành Quyết định số 03/QĐ ngày 15/8/1995, giao đất cho hộ gia đình bà K1. Thửa đất có vị trí:

  • - Phía Bắc giáp vườn nhà ông Nguyễn Tiến C và Nguyễn Thành K;
  • - Phía Nam giáp rừng tràm C;
  • - Phía Đông giáp khe nước và đường dây 500kv;
  • - Phía Tây giáp khe cạn trước nhà Hoàng Văn L, Trần Lương Q.

Phần diện tích đất 10ha đất trồng rừng được đo vẽ trên bản đồ lưới, thể hiện địa hình và vị trí của thửa đất. Trước khi giao đất, bị đơn đã thực hiện nghĩa vụ thuế đầy đủ cho Nhà nước.

Khi được giao đất cho đến nay gia đình bà K1 sử dụng đúng mục đích là trồng cây lâm nghiệp. Hiện nay, trên phần diện tích đất vẫn còn các cây bạch đàn được trồng trước năm 2010 chưa khai thác.

Năm 1996, gia đình bà K1 được Nhà máy xi măng Đông Hà đền bù giải tỏa rừng thi công tuyến đường điện 35kv số tiền 966.000 đồng.

Ngày 30/3/1998, gia đình bà K1 được Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đền bù số tiền 21.840.000 đồng về thiệt hại thực tế do thực hiện Dự án Hồ chứa nước km6 - Phường D.

Năm 2004, Nhà nước mở đường từ Nhà máy phân đến Hồ chứa nước km6. Con đường này đi qua một phần diện tích đất trồng rừng của gia đình bà K1, nhưng gia đình bà K1 đã thỏa thuận không đền bù.

Vào năm 1994, để được Nhà nước giao đất trồng rừng nên gia đình bà K1 đã nộp số tiền 200.000 đồng cho Phòng Kinh tế thị xã Đ.

Từ năm 1997 gia đình bà K1 đã sử dụng 10ha rừng trồng vay vốn Quỹ tín dụng T4 và Ngân hàng A.

Từ các lẽ trên có căn cứ khẳng định: Gia đình bà K1 đã được UBND thị xã Đ (nay là thành phố Đ) ban hành quyết định giao đất trồng rừng diện tích 10ha đã sử dụng đúng mục đích, ổn định và liên tục, không tranh chấp, thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nước. Quá trình sử dụng đã đưa tài sản hợp pháp thế chấp vay vốn, khi làm Hồ chứa nước thì được Nhà nước bồi thường, khi đường điện đi ngang qua được doanh nghiệp đền bù. Tất cả các quyền lợi hợp pháp của người sử dụng đất được cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân thừa nhận.

Do đó, việc khởi kiện của ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T đòi phần diện tích 619m² thuộc phần diện tích 10ha được Nhà nước giao cho bị đơn là không có căn cứ. Ông K, bà T không cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của

mình. Việc ông K, bà T đòi 619m² đất là nhằm mục đích làm căn cứ đòi thêm quyền sử dụng đất đối với các thửa đất 66, 67, 78.

Đề nghị TAND thành phố Đông Hà bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và thừa nhận phần diện tích tranh chấp là trong phần diện tích 10ha đất rừng được Nhà nước giao đất thuộc trường hợp người sử dụng đất có giấy tờ quy định tại khoản 4 Điều 100 Luật đất đai 2013 và bà K1 có đủ điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Yêu cầu Tòa án hủy một phần trang sổ mục kê số 65, quyển số 01 do Sở Địa chính phê duyệt năm 2002, đối với thửa đất số 67, 78 đứng tên người sử dụng đất là ông Nguyễn Thành K và hủy việc chỉnh lý thửa đất trên tờ bản đồ số 13 năm 2001 đối với các thửa đất 67 và 78 và đưa các cơ quan có liên quan vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 20/9/2023 của TAND thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị quyết định:

Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 158, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 15, khoản 1 Điều 46; Điều 50; khoản 5 Điều 105; khoản 1, 2 Điều 107 Luật đất đai năm 1993; khoản 10 Điều 12; khoản 1 Điều 26; Điều 95; Điều 100; khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T.

- Buộc bị đơn bà Phạm Thị K1 thu hồi toàn bộ cây Sả trên đất để trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T phần diện tích đất đã lấn chiếm tại các thửa đất số 67/1 và 78/1 thuộc các thửa đất số 67 và 78, tờ bản đồ số 13 năm 2001, địa chỉ các thửa đất: Khu phố A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, cụ thể như sau:

  • + Một phần diện tích của thửa đất số 67 (theo sơ đồ hiện trạng khu đất lấn chiếm là thửa 67/1 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ lập ngày 22/11/2021), tờ bản đồ số 13 năm 2001, với diện tích 224m², có vị trí, kích thước và đặc điểm:
    • * Phía Bắc: Giáp đường giao thông, dài khoảng 13.74m;
    • * Phía Nam: Giáp thửa đất số 70/1 và 78/1, dài khoảng 11,89m + 8,19m;
    • * Phía Đông: Giáp thửa đất số 77 và số 77/1;
  • * Phía Tây: Giáp thửa đất 67;
  • + Một phần diện tích của thửa đất số 78 (theo sơ đồ hiện trạng khu đất lấn chiếm là thửa 78/1 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ lập ngày 22/11/2021), tờ bản đồ số 13 năm 2001, với diện tích 255m², có vị trí, kích thước và đặc điểm:
    • * Phía Bắc: Giáp thửa đất 67/1, dài khoảng 11,89m;
    • * Phía Nam: Giáp đường giao thông, dài khoảng 22,46m;
    • * Phía Đông: Giáp thửa đất 70/1 dài khoảng 20m +4,27m;
    • * Phía Tây: Giáp thửa 78.
  • - Buộc bị đơn bà Phạm Thị K1 chấm dứt hành vi cản trở nguyên đơn ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T thực hiện quyền sử dụng đất của mình đối với phần diện tích đất tại các thửa đất 67/1 và 78/1 thuộc các thửa đất số 67 và 78, tờ bản đồ số 13 năm 2001, mà bị đơn bà Phạm Thị K2 đã lấn chiếm.
  • - Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T đối với phần diện tích đất tranh chấp 123m².

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 25/9/2023, bị đơn bà Phạm Thị K1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 20/9/2023 đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị giải quyết: Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm của TAND thành phố Đông Hà chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án hoặc sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn với lý do: TAND thành phố Đông Hà vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và nội dung.

Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn giữ nguyên ý kiến của mình và nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của người tham gia tố tụng và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Ngay sau khi bị đơn kháng cáo, Thẩm phán cấp sơ thẩm đã tiến hành các thủ tục như: Kiểm tra tính hợp lệ của kháng cáo, thông báo nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, thông báo việc kháng cáo và gửi hồ sơ cho Tòa án cấp phúc thẩm. Thẩm phán cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến trước khi mở phiên tòa.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận một phần nội dung kháng cáo của bị đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa Bản án sơ thẩm số 40/2023/DS–ST ngày 20/9/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà theo hướng:

Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông K và bà T về việc buộc bị đơn bà K1 thu hồi toàn bộ cây Sả trên đất để trả lại cho nguyên đơn ông K và bà T phần diện tích đất đã lấn chiếm tại thửa đất số 67 (theo sơ đồ hiện trạng khu đất lấn chiếm là thửa 67/1 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ lập ngày 22/11/2021), tờ bản đồ số 13 năm 2001, với diện tích 224m² và thửa đất số 78 (theo sơ đồ hiện trạng khu đất lấn chiếm là thửa 78/1 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ lập ngày 22/11/2021), tờ bản đồ số 13 năm 2001, với diện tích 255m²; Buộc bị đơn bà K1 chấm dứt hành vi cản trở nguyên đơn ông K và bà T thực hiện quyền sử dụng đất của mình đối với phần diện tích đất tại các thửa đất 67/1 và 78/1 thuộc các thửa đất số 67 và 78, tờ bản đồ số 13 năm 2001, mà bị đơn bà K1 đã lấn chiếm.

Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông K và bà T đối với phần diện tích đất tranh chấp 123m².

Căn cứ Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông K phải chịu 300.000 đồng án phí sơ thẩm và bà K1 không phải chịu 300.000 đồng án phí phúc thẩm.

Căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, ông K phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền 2.760.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Nguyễn Thành K, bà Lê Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Phạm Thị K1 thu hồi toàn bộ cây sả trên đất để trả phần diện tích đất đã lấn chiếm tại các thửa đất số 67 và 78 và chấm dứt hành vi cản trở việc sử dụng đất của gia

đình ông K, bà T đối với một phần thửa đất số 67, một phần diện tích của thửa đất số 78, tờ bản đồ số 13 năm 2001. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ "Tranh chấp quyền sử dụng đất ” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng quy định của pháp luật.

[1.2] Về thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị K1 được thực hiện trong thời hạn kháng cáo, đảm bảo nội dung, hình thức theo quy định, bị đơn thuộc đối tượng được miễn nộp tiền án phí nên được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

[1.3] Đối với nội dung bị đơn cho rằng cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị đơn cho rằng TAND thành phố Đông Hà vi phạm về thẩm quyền giải quyết vụ án: Quá trình giải quyết vụ án tại giai đoạn sơ thẩm, bị đơn có yêu cầu hủy quyết định hành chính cá biệt theo quy định tại Điều 34 BLTTDS 2015 là hủy một phần trang mục kê đất do Chủ tịch UBND Phường 4 và Giám đốc Sở địa chính (nay là Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q) phê duyệt vào ngày 01/01/2002. Căn cứ Điều 32 LTTHC thì thẩm quyền xem xét hủy quyết định hành chính cá biệt nói trên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Quảng Trị nhưng TAND thành phố Đông Hà không chuyển hồ sơ vụ án cho TAND tỉnh giải quyết là không đúng thẩm quyền. Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phần nhận định của bản án sơ thẩm xác định không có cơ sở để hủy các quyết định hành chính cá biệt nêu trên nên việc TAND thành phố Đông Hà giải quyết sơ thẩm và không đưa các cơ quan vào tham gia tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

[2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị K1, Hội đồng xét xử thấy rằng:

- Về cơ sở pháp lý đối với các thửa đất của ông K, bà T: Năm 1984, ông K, bà T được UBND Phường 4 và Giám đốc nhà máy X đồng ý giao thửa đất số 61, tờ bản đồ số 13, địa chỉ thửa đất: Khu phố A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị. Theo sổ mục kê kèm theo bản đồ địa chính năm 1994 thì ông K đã đăng ký đất tại thửa số 260, tờ bản đồ số 06, diện tích 2.291 m² (T). Theo sổ mục kê năm 2002, tờ bản đồ số 13 đo vẽ năm 2001 thể hiện ông K đăng ký đất tại thửa số 61, tờ bản đồ số 13, diện tích tích 1.511 m². Ngày 12/3/2015, ông K bà T được UBND thành phố Đ cấp giấy CNQSD đất số BV 672233 với diện tích 1.511m² (trong đó, đất ở 250m², đất trồng cây hàng năm khác 1.261m²), địa chỉ thửa đất: Khu phố A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.

Quá trình sử dụng đất, gia đình ông K đã mở rộng khai hoang, mở rộng thêm

phần diện tích liền kề kéo dài về phía sau và sang bên trái của thửa đất số 61, tờ bản đồ số 13 nêu trên. Tại sổ mục kê năm 2002, tờ bản đồ địa chính năm 2001 ghi nhận các thửa đất số 66 có diện tích 532m², thửa đất số 67 có diện tích 519m², thửa đất số 78 có diện tích 1.259m² (đất RTS) thuộc tờ bản đồ số 13 (địa chỉ: Khu phố A, Phường D) do ông Nguyễn Thành K đứng tên.

- Về cơ sở pháp lý đối với thửa đất của bà K1: Năm 1994, bà Phạm Thị K1 có đơn xin giao 10 ha đất để trồng cây lâm nghiệp. Ngày 15/8/1995, UBND thị xã Đ ban hành Quyết định số 03/QĐ giao đất cho bà K1 trồng rừng diện tích 10 ha (không ghi cụ thể số thửa), có vị trí:

  • + Phía Bắc giáp đường Quốc lộ 9;
  • + Phía Nam giáp rừng tràm xã C;
  • + Phía Đông giáp khe nước phía Tây đường dây 500KV;
  • + Phía Tây giáp khe cạn trước nhà ông Hoàng Văn L.

Bà K1 cho rằng, diện tích 10 ha bà K1 được giao có vị trí phía Bắc tiếp giáp với vườn nhà ông Nguyễn Tiến C và ông Nguyễn Thành K. Tuy nhiên, sau khi có Quyết định giao đất thì cơ quan nhà nước chưa bàn giao đất trên thực địa, theo quyết định giao đất số 03/QĐ ghi phía Bắc giáp đường Quốc lộ 9 nên không có cơ sở để xem xét.

Việc bà K1 cho rằng trong diện tích 10 ha được giao thì có thửa đất số 67, 68 đang tranh chấp nhưng bà K1 không có các tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Sau khi có Quyết định số 03/QĐ-UB ngày 15/8/1995 về giao đất, gia đình bà K1 không thực hiện nghĩa vụ kê khai theo quy định tại khoản 1 Điều 33 Luật Đất đai 1993 nên không có trong hồ sơ địa chính và bản đồ địa chính do Nhà nước đang quản lý. Mặt khác, hiện nay không tìm thấy hồ sơ lưu cũng như không được thể hiện trên bản đồ địa chính do Nhà nước quản lý nên không có cơ sở để xác định ranh giới, mốc giới, tọa độ đối với diện tích 10 ha theo Quyết định số 03/QĐ-UB ngày 15/8/1995 nói trên. Công văn số 484/UBND-PTNMT ngày 16/3/2023 của UBND thành phố Đ và Công văn số 728/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 25/7/2023 của Văn phòng ĐKĐĐ tỉnh Q về việc cung cấp tài liệu chứng cứ thể hiện: Hai cơ quan không lưu trữ Quyết định số 03 và các hồ sơ liên quan đến quyết định giao 10 ha rừng cho bà K1.

Ngoài ra, tại thời điểm năm 2001, ông Nguyễn C (chồng bà K1) có kê khai, đăng ký việc sử dụng đất nhưng là đối với các thửa 70, 01, 149, 03, 22, 158, 77 với tổng diện tích 63.688m²; gia đình bà K1 không kê khai, đăng ký sử dụng đối với các diện tích đất đang tranh chấp.

Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 27/10/2021 của Tòa án nhân

dân thành phố Đông Hà cho thấy phần diện tích đất tranh chấp đối với thửa đất 67/1, 78/1 được xác định như sau:

  • - Phần diện tích đất đang tranh chấp ở thửa đất 67/1, có diện tích 224m², thuộc thửa đất số 67, tờ bản đồ số 13 năm 2001, tại địa chỉ: Khu phố A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị có vị trí, đặc điểm như sau:
    • + Phía Bắc: Giáp đường giao thông, có cạnh dài 13.74m;
    • + Phía Nam: Giáp thửa đất số 70/1 và 78/1, có cạnh dài 11,89m + 8,19m;
    • + Phía Đông: Giáp thửa đất 77 và 77/1;
    • + Phía Tây: Giáp thửa đất 67;
  • - Phần diện tích đất đang tranh chấp ở thửa đất 78/1, có diện tích 255m², thuộc thửa đất số 78, tờ bản đồ số 13 năm 2001, có vị trí, đặc điểm như sau:
    • + Phía Bắc: Giáp thửa đất 67/1, dài khoảng 11,89m;
    • + Phía Nam: Giáp đường giao thông, dài khoảng 22,46m;
    • + Phía Đông: Giáp thửa đất 70/1 (thuộc thửa đất số 70) dài 20m + 4,27m;
    • + Phía Tây: Giáp thửa đất 78.

Toàn bộ phần diện tích đất đang tranh chấp là đất rừng sản xuất, trên đất có vài cây Bạch đàn mọc tái sinh và cây sả do bà K1 trồng.

- Đối với một phần diện tích thửa đất số 78, tờ bản đồ số 13, đo vẽ năm 2001 (diên tích còn lại sau khi mở đường khu vực, diện tích 123m²). Quá trình giải quyết vụ án ông K, bà T rút yêu cầu khởi kiện đối với phần này nên Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của ông K và bà T đối với phần diện tích đất tranh chấp 123m² là đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, có cơ sở xác định thửa đất số 67/1 và thửa đất số 78/1 đang tranh chấp do ông K, bà T kê khai, đăng ký và quản lý, sử dụng. Việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ pháp luật. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị và kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị K1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[3] Về án phí: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị đơn bà Phạm Thị K1 có đơn xin miễn án phí với lý do là người cao tuổi, nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội miễn án phí sơ thẩm, phúc thẩm cho bà Phạm Thị K1.

[4] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định của

pháp luật.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phạm Thị K1, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 20/9/2023 của TAND thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.

Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 158, khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 15, khoản 1 Điều 46; Điều 50; khoản 5 Điều 105; khoản 1 Điều 33 Luật đất đai năm 1993; khoản 10 Điều 12; khoản 1 Điều 26; Điều 95; Điều 100; khoản 5 Điều 166, khoản 1 Điều 170 và Điều 203 Luật đất đai năm 2013; điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án tuyên xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T.

- Buộc bị đơn bà Phạm Thị K1 thu hồi toàn bộ cây Sả trên đất để trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T phần diện tích đất đã lấn chiếm tại các thửa đất số 67/1 và 78/1 thuộc các thửa đất số 67 và 78, tờ bản đồ số 13 năm 2001, địa chỉ các thửa đất: Khu phố A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị, cụ thể như sau:

  • + Một phần diện tích của thửa đất số 67 (theo sơ đồ hiện trạng khu đất lấn chiếm là thửa 67/1 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ lập ngày 22/11/2021), tờ bản đồ số 13 năm 2001, với diện tích 224m², có vị trí, kích thước và đặc điểm:
    • * Phía Bắc: Giáp đường giao thông, dài khoảng 13.74m;
    • * Phía Nam: Giáp thửa đất số 70/1 và 78/1, dài khoảng 11,89m + 8,19m;
    • * Phía Đông: Giáp thửa đất số 77 và số 77/1;
    • * Phía Tây: Giáp thửa đất 67;
  • + Một phần diện tích của thửa đất số 78 (theo sơ đồ hiện trạng khu đất lấn chiếm là thửa 78/1 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố Đ lập ngày 22/11/2021), tờ bản đồ số 13 năm 2001, với diện tích 255m², có vị trí, kích thước và đặc điểm:
    • * Phía Bắc: Giáp thửa đất 67/1, dài khoảng 11,89m;
    • * Phía Nam: Giáp đường giao thông, dài khoảng 22,46m;
    • * Phía Đông: Giáp thửa đất 70/1 dài khoảng 20m +4,27m;
    • * Phía Tây: Giáp thửa 78.
  • - Buộc bị đơn bà Phạm Thị K1 chấm dứt hành vi cản trở nguyên đơn ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T thực hiện quyền sử dụng đất của mình đối với phần diện tích đất tại các thửa đất 67/1 và 78/1 thuộc các thửa đất số 67 và 78, tờ bản đồ số 13 năm 2001 mà bị đơn bà Phạm Thị K2 đã lấn chiếm.
  • - Đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T đối với phần diện tích đất tranh chấp 123m², có vị trí, kích thước cụ thể:
    • - Phía Bắc: Giáp đường giao thông, dài khoảng 20m;
    • - Phía Nam: Giáp đất rừng bà K1, dài khoảng 08m;
    • - Phía Đông: Giáp đất rừng bà K1, dài khoảng 08m;
    • - Phía Tây: Giáp đất rừng ông T3, dài khoảng 15m.
  • 2. Về án phí và chi phí tố tụng:
    • - Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho bị đơn bà Phạm Thị K1.
    • - Hoàn trả lại cho nguyên đơn ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2016/0001271 ngày 29/7/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
    • - Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bị đơn bà Phạm Thị K1 phải hoàn trả cho nguyên đơn ông Nguyễn Thành K và bà Lê Thị T số tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 2.760.000 đồng (Hai triệu bảy trăm sáu mươi nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Những phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- VKSND tỉnh Quảng Trị;

- TAND TP. Đông Hà;

- VKSND TP. Đông Hà;

- Chi cục THADS TP. Đông Hà;

- Các đương sự;

- Phòng KTNV & THA;

- Tổ HCTP;

- Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thiết Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/DS-PT ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 03/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành K -Phạm Thị K1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger