Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS-PT

Ngày 09 tháng 01 năm 2024

V/v: Tranh chấp chia di sản thừa kế.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trường

Các thẩm phán: ÔngPhạm Văn Toàn

Bà Điêu Thị Bích Lượt

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Trung Hiếu - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa:Ông Hoàng Thanh Phương- Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số:79/2023/TLPT-DS ngày 09 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp chia di sản thừa kế”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-PT ngày 04tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọcó kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXPT-DS ngày 25 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1969 (Có mặt )

Địa chỉ: Thôn T, xã T, Thị xã D, tỉnh Hà Nam

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1973 ( Có mặt )

Địa chỉ: Khu B xã G, huyện H, tỉnh Phú thọ

-Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1943 ( Có mặt)
  • Chị Trần Thị T1, sinh năm 1973 ( Có mặt )

Bà T và chị T1 đều có địa chỉ: Khu B xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa, chị Nguyễn Thị Thanh X là nguyên đơn trình bày:

Bố tôi là Nguyễn Văn L ( chết năm 1994 ) và mẹ tôi là Nguyễn Thị T, sinh năm 1943 hiện đang ở tại khu B xã G, huyện H, tỉnh Phú thọ. Bố mẹ tôi sinh được hai người con chung là tôi Nguyễn Thị Thanh X ( hiện đang ở tỉnh Hà nam ) và anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1973 hiện đang ở với mẹ tôi tại khu 2 xã G, huyện H. Bố mẹ tôi không có con nuôi. Bố tôi chết không để lại di chúc.

Trong thời kỳ hôn nhân, bố mẹ tôi đã tạo lập được khối tài sản chung và được UBND huyện H công nhận Quyền sử dụng đối với đất ở, đất vườn và các loại đất khác tại Khu B xã G, huyện H. Trong đó có 300m2 đất ở và 1.222m2 đất vườn. Khi còn sống, bố tôi có nói là cho tôi một phần đất để tôi làm nhà ở, nhưng ông không có văn bản nào để lại. Nay tôi yêu cầu TAND huyện Hạ Hòa chia di sản của bố tôi trong khối tài sản chung với mẹ tôi là quyền sử dụng đất ở và đất vườn tại khu B xã G, huyện H cho các đồng thừa kế theo pháp luật. Tôi xin nhận kỷ phần được chia. Đối với các loại đất khác và các tài sản khác tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tôi nhất trí với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của TAND huyện Hạ Hòa về diện tích đất ở và đất vườn là 1.348,9m2. Nhất trí với kết quả định giá: 1m2 đất ở = 2.100.000đ, 1m2 đất vườn = 450.000đ.

Anh Nguyễn Văn S là bị đơn trình bày: Tôi công nhận về nhân thân gia đình như chị X trình bày là đúng. Công nhận bố mẹ tôi tạo lập được khối tài sản chung như chị X đã trình bày là đúng. Năm 1996 tôi kết hôn với chị Trần Thị T1, vợ chồng tôi ở cùng với mẹ tôi là Nguyễn Thị T trên thửa đất hiện đang có tranh chấp. Khoảng năm 2006 sau khi được sự đồng ý của mẹ tôi, vợ chồng tôi đã dỡ bỏ ngôi nhà gỗ lợp lá của bố mẹ tôi và xây dựng nên một ngôi nhà xây cấp bốn trên đất. Hiện nay chị X yêu cầu TAND huyện Hạ Hòa chia di sản của bố tôi là Nguyễn Văn L đối với QSD đất ở và đất vườn cho các đồng thừa kế theo pháp luật, tôi nhất trí. Tôi xin nhận kỷ phần được chia. Tôi nhất trí với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ của TAND huyện Hạ Hòa về diện tích đất ở và đất vườn là 1.348,9m2. Nhất trí với kết quả định giá: 1m2 đất ở = 2.100.000đ, 1m2 đất vườn = 450.000đ.

Đối với phần đất ở + đất vườn thuộc di sản của bố tôi để chia theo pháp luật có cạnh phía trước giáp đường giao thông số đo là 8,21m, đề nghị Tòa án chia 3 phần, mỗi phần là 2,7m.

Bà Nguyễn Thị T trình bày: Chồng tôi là ông Nguyễn Văn L ( chết năm 1994). Chúng tôi sinh được hai người con là chị Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1969 ( hiện lấy chồng và ở tỉnh Hà Nam ) và anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1973 đang ở cùng với tôi tại khu 2 xã G, huyện H. Chúng tôi không có con nuôi. Chồng tôi chết không để lại di chúc.

Năm 1997 UBND huyện H cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ ông Nguyễn Văn L bao gồm 1.522m2 đất ở và đất vườn, đất lúa, đất rừng, đất cây công nghiệp, đất màu. ( Giấy chứng nhận số K 615446 cấp ngày 02/4/1997). Sau khi chồng tôi chết, tôi và anh S ở trên thửa đất này. Đến năm 1996 anh S kết hôn và vợ chồng ở cùng với tôi cho đến nay. Khoảng năm 2006 được sự đồng ý của tôi, vợ chồng anh S dỡ bỏ ngôi nhà gỗ ba gian lợp lá của vợ chồng tôi để xây dựng nhà cấp 4 và các công trình trên đất như hiện nay. Tôi có đưa cho anh chị được mấy triệu đồng ( tôi không nhớ cụ thể là bao nhiêu tiền ).

Nay chị X yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa chia di sản của chồng tôi để lại là đất ở và đất vườn theo quy định của pháp luật về thừa kế, tôi nhất trí. Tôi xin nhận phần di sản được chia. Đối với phần tài sản của tôi ( đất ở + đất vườn ) trong khối tài sản chung với ông Nguyễn Văn L và phần di sản được chia ( đất ở + đất vườn ) tôi tặng cho con trai là Nguyễn Văn S và vợ là Trần Thị T1.

Chị Trần Thị T1 trình bày: Năm 1996 tôi kết hôn với anh Nguyễn Văn S và về ở cùng với mẹ anh S trên thửa đất hiện nay đang tranh chấp. Khoảng năm 2006 sau khi được sự đồng ý của bà T, vợ chồng tôi đã dỡ bỏ ngôi nhà gỗ lợp lá của ông bà và xây dựng nên một ngôi nhà xây cấp bốn trên đất. Trong khoảng thời gian từ năm 1996 đến nay, vợ chồng tôi cũng có nhiều công sức trong việc tôn tạo, duy trì tài sản của ông bà. Nay chị X yêu cầu Tòa án chia di sản của bố chồng tôi là Nguyễn Văn L, tôi không có ý kiến gì và cũng không yêu cầu Tòa án tính toán công sức cho tôi.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:

Căn cứ các điều 149, 207, 209, 212, 219, 357, 468, 609, 610, 611, 612, 613, 614, 649, 650,651, 660, khoản 1 điều 623 của Bộ luật dân sự; Khoản 5 điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 2 điều 147; khoản 2 Điều 157; khoản 2 Điều 165; khoản 1 điều 227, khoản 1 điều 228; khoản 4 điều 264 của Bộ luật tố tụng dân sự Khoản 4 Điều 36 pháp lệnh về thừa kế năm 1990; Điều 166, 167Luật đất đai;Điểm đ khoản 1 điều 12; điểm a khoản 7 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Thanh X về yêu cầu chia thừa kế đối với di sản là quyền sử dụng đất ở và đất vườn của ông Nguyễn Văn L theo quy định của pháp luật.

1-Xác định tài sản của bà Nguyễn Thị T trong khối tài sản chung với ông Nguyễn Văn L gồm: quyền sử dụng diện tích đất là 674,4m2, trong đó có 150m2 đất ở và 524,4m2 đất vườn, trị giá = 550.980.000đ (Năm trăm năm mươi triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng ) tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36 – Địa chỉ: Khu 2 xã Gia Điền, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú thọ

2- Xác định di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn L gồm: quyền sử dụng diện tích đất là 674,4m2, trong đó có 150m2 đất ở và 524,4m2 đất vườn, trị giá = 550.980.000₫.

3- Xác định hàng thừa kế của ông Nguyễn Văn L gồm bà Nguyễn Thị T, chị Nguyễn Thị Thanh X và anh Nguyễn Văn S.

Xử:

1-Giao bà T kỷ phần di sản được chia có diện tích đất là 224,8m2, trong đó có 50m2 đất ở, trị giá = 105.000.000đ và 174,8m2 đất vườn, trị giá = 78.660.000đ. Tổng giá trị tài sản được hưởng là 183.660.000đ (Một trăm tám mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) và tài sản của bà trong khối tài sản chung với ông L có diện tích đất là 674,4m2, trong đó có 150m2 đất ở và 524,4m2 đất vườn tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36 – Địa chỉ: Khu B xã G, huyện H, tỉnh Phú thọ có chỉ giớiD,C,4,5,6,7,8,9,10,11,12,13,14,15,16,D

( Số đo các cạnh và vị trí của thửa đất có bản vẽ kèm theo.)

Trên thửa đất số 27 có 01 ngôi nhà xây cấp 4 + khu nhà tắm, vệ sinh + 1/2 chuồng lợn xây + 01 bếp đun củi + 49,3m2 sân sau nhà chính mái lợp tôn + 78m2 sân trước nhà lát gạch men + 91,83m tường rào xây + 9,5m tường rào nan bê tông...cùng cây cối lâm lộc trên đất.

2- Giao chị Nguyễn Thị Thanh X diện tích đất được chia là 224,8m2 trong đó có 50m2 đất ở, trị giá = 105.000.000₫ và 174,8m2 đất vườn, trị giá = 78.660.000đ, tổng giá trị tài sản được hưởng là 183.660.000₫ ( Một trăm tám mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), tại thửa đất số 27-2, tờ bản đồ số 36 - Địa chỉ: Khu B xã G, huyện H, tỉnh Phú thọ, trên đất có 01 cây bưởi phi 10 và 7,24m tường rào xây có chỉ giới 1,2,B,A,1 ( Số đo các cạnh và vị trí của thửa đất có bản vẽ kèm theo.)

Chị X phải thanh toán lại giá trị tài sản trên đất gồm 01 cây bưởi = 461.000₫ và 7,24m tường rào xây cho anh S, chị T1 số tiền là 1.621.000đ và hỗ trợ anh S, chị T1 di dời trụ cổng để trả đất cho chị số tiền là 3.000.000đ. Tổng cộng = 5.082.000₫ ( Năm triệu không trăm tám mươi hai nghìn đồng )

3- Giao anh Nguyễn Văn S thửa đất diện tích là 224,8m2 trong đó có 50m2 đất ở, trị giá = 105.000.000đ và 174,8m2 đất vườn, trị giá = 78.660.000đ, tổng giá trị tài sản được hưởng là 183.660.000đ ( Một trăm tám mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng) tại thửa đất số 27-1, tờ bản đồ số 36 - Địa chỉ: Khu B xã G, huyện H, tỉnh Phú thọ, trên đất có 01 cổng đi, 36,8m2 sân phơi đổ bê tông và ½ chuồng lợn xây.

Công nhận tặng cho tài sản của bà T cho anh S và chị T1 gồm: quyền sử dụng diện tích 899,3m2 đất, trong đó có 200m2 đất ở, trị giá = 420.000.000₫ và 699,3m2 đất vườn, trị giá = 314.685.000đ, tổng giá trị tài sản = 734.685.000₫ ( Bảy trăm ba mươi tư triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng ) tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36 – Địa chỉ: Khu B xã G, huyện H, tỉnh Phú thọ

Anh S, chị T1 được nhận toàn bộ tài sản là quyền sử dụng diện tích 899,3m2 đất, trong đó có 200m2 đất ở, trị giá = 420.000.000đ và 699,3m2 đất vườn, trị giá = 314.685.000đ, tổng giá trị tài sản = 734.685.000đ ( Bảy trăm ba mươi tư triệu sáu trăm tám mươi lăm nghìn đồng ) của bà Nguyễn Thị T tặng cho tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36 – Địa chỉ: Khu B xã G, huyện H, tỉnh Phú thọ. Trên thửa đất số 27 có 01 ngôi nhà xây cấp 4 + khu nhà tắm, vệ sinh + ½ chuồng lợn xây + 01 bếp đun củi + 49,3m2 sân sau nhà chính mái lợp tôn + 78m2 sân trước nhà lát gạch men + 91,83m tường rào xây + 9,5m tường rào nan bê tông...cùng cây cối lâm lộc trên đất.

Anh S, chị T1 được nhận số tiền của chị X thanh toán và hỗ trợ là 5.082.000đ (Năm triệu không trăm tám mươi hai nghìn đồng )

Buộc anh S, chị T1 phải di dời trụ cổng xây để trả đất cho chị X.

5- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Miễn toàn bộ án phí dân sự cho bà Nguyễn Thị T.

Anh S phải chịu: 9.183.000đ ( Chín triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng).

Chị X phải chịu: 9.183.000đ ( Chín triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng). Xác nhận chị X đã nộp tạm ứng án phí là 300.000đ ( Ba trăm nghìn đồng ) tại Chi cục THADS huyện H theo biên lai thu tiền số AA/2020/0005341 ngày 19/6/2023. Chị X còn phải nộp số tiền là 8.883.000đ ( Tám triệu tám trăm tám mươi ba nghìn đồng ).

Kể từ ngày chị X, anh S có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bà T, anh S và chị X còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Bản án còn tuyên về quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10 tháng 10 năm 2023 bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn S có đơnkháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, cụ thể: Bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn S đề nghị: Sửa bản án sơ thẩm chiasuất thừa kế cho chị X chiềurộng mặt đường là 2,7 m đúng theo phần di sản của mỗi người được hưởng.

Tại phiên tòa phúc thẩmbị đơn anh Nguyễn Văn S, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T, chị Trần Thị T1 có ý kiến vì không muốn gia đình mất đoàn kết nên anh S, bà T và chị T1 đã thỏa thuậnvới chị X với nội dung:Anh S, chị T1 xin được trực tiếp nhận suất thừa kế của chị X bằnghiện vậtlà 224,8m² trong đó có 50m2 đất ở và 174,8m2 đất vườn, tại thửa đất số 27-2, tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ, có chỉ giới 1,2,B,A,1; Anh S chị T1 có trách nhiệm thanh toán cho chị X số tiền 280.000.000đ (Hai trăm tám mươi triệu đồng);

Phía chị X trình bày chị chấp nhận ý kiến của anh S và chị T1, chị xin nhậnsố tiền 280.000.000đ do anh S chị Thu thanh t và chị đề nghị Tòa án giao cho anh S chị T1 được quyền sử dụng suất thừa kế của chị là 224,8 m² đất trong đó có 50 m² đất ở và 174,8 m² đất vườn, tại thửa đất số 27-2, tờ bản đồ số 36, địa chỉ: Khu B xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ;

Bà T nhất trí nhận toàn bộ tài sản của bà và suất thừa kế của bà trong khối tài sản chung của bà với ông L, sau khi nhận bà tặng cho anh S và chị T1 được quyền sử dụng và sở hữu toàn bộ tài sản và không yêu cầu anh S chị Thu thanh t; Anh S và chị T1 nhất trí nhận toàn bộ tài sản của bà T, suất thừa kế của bà T và suất thừa kế của chị X;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điều 300 khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự, chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị T và anh Nguyễn Văn S; Sửa bản án sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 04/10/2023 theo thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về hình thức đơn kháng cáo của bà T và anh S trong hạn luật định, đơn kháng cáo hợp lệ, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét về nội dung kháng cáo trong phạm vi xét xử của bản án sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung này theo quy định tại điều 293 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[3] Về giải quyết nội dung kháng cáo và thỏa thuận của các đương sự:

Tại phiên tòa phúc thẩm anh Nguyễn Văn S, bà Nguyễn Thị T là những người có kháng cáo, chị Nguyễn Thị Thanh X và chị Trần Thị T1 là những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã thống nhất thỏa thuận được với nhau vềviệc giải quyết vụ án như sau:

-Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất 674,4m², (Là tài sản của bà Nguyễn Thị T), trị giá 550.980.000đ, trong đó có 150 m² đất ở và 524,4m2 đất vườn, tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Do bà T tặng cho anh S và chị T1, anh S chị Thu nhận tài sản).

-Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất 224,8 m² (Là suất thừa kế của bà Nguyễn Thị T) trị giá 183.660.000đ (Một trăm tám mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó có 50 m² đất ởvà 174,8 m² đất vườn, tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Do bà T tặng cho anh S và chị T1, anh S chị Thu nhận tài sản).

- Anh Nguyễn Văn S1 quyền sử dụngtoàn diện tích đất là 224,8m² (Là suất thừa kế của anh Nguyễn Văn S) trị giá 183.660.000đ (Một trăm tám mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó có 50 m² đất ởvà 174,8 m² đất vườn, tại thửa đất số 27-1, tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Anh S nhất trí nhập suất thừa kế của anh vào khối tài sản chung của anh và chị T1).

- Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất 224,8 m² (Là suất thừa kế của chị Nguyễn Thị Thanh X) trị giá 183.660.000đ (Một trăm tám mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó có 50 m² đất ở và 174,8 m² đất vườn, tại thửa đất số 27-2, tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Như vây:

- Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 được quyền sử dụng toàn bộ diện tích 1.348,9 m², tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36,địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ, trong đó diện tích đất ở300 m²vàdiện tích đất vườn 1.048,9 m², theo chỉ giới trên bản vẽ lập ngày 29/9/2023 của Văn phòng Đ và phát triển quỹ đất huyện H, tỉnh Phú Thọ, được ký hiệu: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 1.

- Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 được quyền sở hữu toàn bộ các tài sản trên thửa đất số 27tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ, gồm các tài sản sau: 01 ngôi nhà xây cấp 4, khu nhà tắm, vệ sinh, chuồng lợn xây, 01 bếp đun củi, 49,3m² sân sau nhà chính mái lợp tôn, 78m²sân trước nhà lát gạch men, 91,83m tường rào xây, 9,5m tường rào nan bê tông và toàn bộ cây cối lâm lộc trên đất.

- Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 có trách nhiệm thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thanh X số tiền 280.000.000₫ (Hai trăm tám mươi triệu đồng).

Chị Nguyễn Thị Thanh X được nhận số tiền 280.000.000₫ (Hai trăm tám mươi triệu đồng) do anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị Thu thanh t1.

- Chị Nguyễn Thị Thanh X không phải thanh toán cho anh Nguyễn Văn S và chị Trần Thị T1 số tiền 5.082.000đ (Năm triệu không trăm tám mươi hai nghìn đồng).

-Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 không phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị T, do bà T tặng cho anh S, chị T1 quyền sử dụng diện tích 674,4m² đất(Là tài sản của bà T) và 224,8 m² (Là suất thừa kế của bà T).

[4] Về án phí: Anh S chị X trình bày xin chịu theo quy định của Pháp luật, bà T đề nghị xin được miễn tiền án phí.

[5] Về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn kháng cáo của bà T, anh S và sửa bản án sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 04/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa theo sự thỏa thuận cả các đương sự như đã nêu trên là có căn cứ được chấp nhận;

[6] Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy tại phiên tòa phúc thẩm do các đương sự tự nguyện thỏa thuận giải quyết vụ án, sự thỏa thuận đó không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần sửa bản án sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 04/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự;

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên anh S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm; Bà T là người cao tuổi có đề nghị xin miễn án phíđược Hội đồng xét xử chấp nhận. Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định lại nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm, các đương sự phải chịu án phí dân sự theo quy định của Pháp luật.

[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điều 300, khoản 2 Điều 308Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 5 Điều 29; điểm đ khoản 1 điều 12Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Căn cứđiều 609, điều 610, điều 611, điều612, điều 613, điều614, điều649, điều 650, điều 651, điều660 và điều357 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ điều 166.167 Luật đất đai.

Xử: Chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị T.

Sửa bản án sơ thẩm số 05/2023/DS-ST ngày 04/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự:

1. Thỏa thuận về di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn L để lại nằm trong khối tài sản chung với bà Nguyễn Thị T:

- Tài sản của bà Nguyễn Thị T trong khối tài sản chung với ông Nguyễn Văn L: Diện tích đất là 674,4m², trị giá = 550.980.000đ, trong đó có 150 m² đất ở và 524,4m2 đất vườn, tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

- Di sản thừa kế của ông Nguyễn Văn L để lại: Diện tích đất là 674,4 m², trị giá 550.980.000đ, trong đó có 150 m² đất ở và 524,4 m² đất vườn, tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

2. Thỏa thuận phân chia di sản và thanh toán:

-Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất 674,4m², (Là tài sản của bà Nguyễn Thị T), trị giá 550.980.000đ, trong đó có 150 m² đất ở và 524,4m2 đất vườn, tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Do bà T tặng cho anh S và chị T1, anh S chị Thu nhận tài sản).

-Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất 224,8 m² (Là suất thừa kế của bà Nguyễn Thị T) trị giá 183.660.000đ (Một trăm tám mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó có 50 m² đất ởvà 174,8 m² đất vườn, tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Do bà T tặng cho anh S và chị T1, anh S chị Thu nhận tài sản).

- Anh Nguyễn Văn S1 quyền sử dụngtoàn diện tích đất là 224,8m² (Là suất thừa kế của anh Nguyễn Văn S) trị giá 183.660.000đ (Một trăm tám mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó có 50 m² đất ởvà 174,8 m² đất vườn, tại thửa đất số 27-1, tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ (Anh S nhất trí nhập suất thừa kế của anh vào khối tài sản chung của anh và chị T1).

- Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất 224,8 m² (Là suất thừa kế của chị Nguyễn Thị Thanh X) trị giá 183.660.000đ (Một trăm tám mươi ba triệu sáu trăm sáu mươi nghìn đồng), trong đó có 50 m² đất ở và 174,8 m² đất vườn, tại thửa đất số 27-2, tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ.

Như vậy:

* Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 được quyền sử dụng toàn bộ diện tích 1.348,9 m², tại thửa đất số 27, tờ bản đồ số 36,địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ, trong đó diện tích đất ở300 m²vàdiện tích đất vườn 1.048,9 m², theo chỉ giới trên bản vẽ lập ngày 29/9/2023 của Văn phòng Đ và phát triển quỹ đất huyện H, tỉnh Phú Thọ, được ký hiệu: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16, 1 (Có sơ đồ kèm theo bản án).

*Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 được quyền sở hữu toàn bộ các tài sản trên thửa đất số 27tờ bản đồ số 36, địa chỉ thửa đất khu 2 xã G, huyện H, tỉnh Phú Thọ, gồm các tài sản sau: 01 ngôi nhà xây cấp 4, khu nhà tắm, vệ sinh, chuồng lợn xây, 01 bếp đun củi, 49,3m² sân sau nhà chính mái lợp tôn, 78m²sân trước nhà lát gạch men, 91,83m tường rào xây, 9,5m tường rào nan bê tông và toàn bộ cây cối lâm lộc trên đất.

*Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 có trách nhiệm thanh toán cho chị Nguyễn Thị Thanh X số tiền 280.000.000đ (Hai trăm tám mươi triệu đồng).

* Chị Nguyễn Thị Thanh X được nhận số tiền 280.000.000₫ (Hai trăm tám mươi triệu đồng) do anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị Thu thanh t1.

*Chị Nguyễn Thị Thanh X không phải thanh toán cho anh Nguyễn Văn S và chị Trần Thị T1 số tiền 5.082.000đ (Năm triệu không trăm tám mươi hai nghìn đồng).

*Anh Nguyễn Văn S, chị Trần Thị T1 không phải thanh toán cho bà Nguyễn Thị T, do bà T tặng cho anh S, chị T1 quyền sử dụng diện tích 674,4m² đất(Là tài sản của bà T) và 224,8 m² (Là suất thừa kế của bà T).

3. Về án phí dân sự:

- Anh Nguyễn Văn S phải chịu: 9.183.000₫ (Chín triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng) tiền án phí tương ứng với giá trị tài sản mà anh S được hưởng và 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự phúc thẩm; Tổng số tiền án phí anh S phải chịu là 9.483.000đ, được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) dự phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí phúc thẩm số 0002804 ngày 16 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ; Anh S còn phải nộp số tiền9.183.000đ (Chín triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng).

- Chị X phải chịu: 9.183.000đ (Chín triệu một trăm tám mươi ba nghìn đồng). Xác nhận chị X đã nộp tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hạ Hòa theo biên lai thu tiền số AA/2020/0005341 ngày 19/6/2023, chị X còn phải nộp số tiền án phí là 8.883.000đ ( Tám triệu tám trăm tám mươi ba nghìn đồng ).

- Miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự phúc thẩm cho bà Nguyễn Thị T.

- Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong; lãi xuất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không vượt quá mức lãi suất được quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự; Nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại khoản 2 điều 468 Bộ luật Dân sự.

Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án Dân sự.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND huyện Hạ Hòa;
  • - Chi cục THADS huyện Hạ Hòa;
  • - TAND huyện Hạ Hòa;
  • - Lưu hồ sơ vụ án (02 bản)
  • - Lưu văn phòng.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Xuân Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/DS-PT ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp chia di sản thừa kế

  • Số bản án: 03/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp về thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger