TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 03/2024/DS-PT Ngày: 09/01/2024 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Yên.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Thành Dương.
Ông Nguyễn Đình Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Ánh Nhi – Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Bà Nguyễn Hoàng Thế Anh – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 301/2023/TLPT-DS ngày 01 tháng 12 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do bản án dân sự sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 293/2023/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 633/2023/QĐ-PT ngày 22 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh D, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Số A, tổ A, ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Ngô Tùng T, sinh năm 1947.
Bà Phạm Thị D1, sinh năm 1951.
Địa chỉ: Số A, quốc lộ E, tổ A, ấp X - Bà K, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Đoàn Thị V, sinh năm 1966.
- Ông Trần Văn N, sinh năm 1963.
Cùng địa chỉ: ấp Đ, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện theo ủy quyền của bà V (Theo giấy ủy quyền ngày 22/4/2019): Ông Trần Văn N, sinh năm 1963
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông N: Luật sư Nguyễn Ngọc H – Luật sư Công ty L thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ
- Ông Hoàng Đức Q, sinh năm 1980.
- Bà Thòng Cóng D2, sinh năm 1980.
Địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
- Ông Nguyễn H1, sinh năm 1974.
Địa chỉ: Thôn X, xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi.
- Ông Nguyễn Bá S, sinh năm 1972. (chồng bà D)
Người đại diện theo ủy quyền của ông S (Theo hợp đồng ủy quyền ngày 14/02/2023): Bà Phạm Thị Thanh D, sinh năm 1974.
Cùng địa chỉ: Số A, tổ A, ấp P, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.
(Bà D, ông T, bà D1 và Luật sư H có mặt; ông N, ông Q, bà D2 đề nghị xét xử vắng mặt; ông H1 vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh D trình bày:
Năm 2015, qua sự giới thiệu của ông Ngô Tùng T, bà mua của ông Hoàng Đức Q diện tích đất 81m² thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L, khi mua hai bên có lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, có công chứng và bà đã được Sở Tài nguyên môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CD 279518 ngày 26/02/2016. Sau khi mua, bà tiến hành quản lý, sử dụng thì ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1 ngăn cản, không cho bà quản lý, sử dụng vì cho rằng thửa số 24 này là của ông Nguyễn H1, còn diện tích đất bà mua của ông Q ở kế bên thửa 24 là thuộc một phần của thửa 87 cũ của bà Đoàn Thị V (hiện nay là thửa 95 tờ bản đồ số 25).
Trên thực tế, thửa số 24 trước đây là của ông T, ông T bán lại cho ông Q và ông Q bán lại cho bà đúng theo quy định của pháp luật.
Việc ông T và bà D1 chiếm giữ diện tích đất thuộc thửa số 24 gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà. Do đó, tại đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung bà đề nghị Tòa án nhân dân huyện Long Thành buộc ông T, bà D1 phải trả lại diện tích đất 81,7m² thuộc thửa số 24 cho bà để bà quản lý và sử dụng.
Ngoài ra, bà có chuyển nhượng của bà V, ông N thửa đất số 95 tờ bản đồ số 25 xã L và bà đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn thửa số 24 là bà mua của ông Q và thửa này là hai thửa đất khác nhau.
Còn thửa đất số 23 tờ bản đồ số 25 xã L là của ông H1 thì ông H1 không tranh chấp gì với bà.
- Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Ngô Tùng T, bà Phạm Thị D1 trình bày:
Năm 1993, ông bà nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn N1 diện tích 2.096m² tại ấp X, xã L, huyện L. Sau đó, ông bà chuyển nhượng cho cho vợ chồng
ông Trần Văn N, bà Đoàn Thị V thửa 25 diện tích 696m² nhưng trong sổ đỏ lại nhiều hơn là 863m². Sau đó, bà V tách thành thửa 87, 88, 89 tờ bản đồ 25 và chuyển nhượng cho bà D thửa 87 diện tích 83,7m² nay là thửa 95. Còn lại 958m² ông bà được cấp sổ là thửa 16. Sau đó, tách thành thửa 23 chuyển nhượng cho ông H1, thửa 24 chuyển nhượng cho ông Q, thửa 66 chuyển nhượng cho cô D3 và ông V1, thửa 67 chuyển nhượng cho bà T1, thửa 16A gia đình sử dụng.
Ông bà xác định thửa đất 95 của bà D mua của bà V với thửa đất 24 của ông bà là khác nhau.
Năm 2010, ông bà bán cho ông Q diện tích đất 81m² thuộc thửa số 24, tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L, khi lập hợp đồng chuyển nhượng đúng diện tích, số tờ, số thửa như trên. Khi ông T giao đất ngoài thực địa cho ông Q thì có sự chứng kiến của ông N, ông N tự lấy sơn vẽ vạch xác định ranh mốc của thửa đất trên vỉa hè đường vào trường tiểu học L1. Vì vợ chồng ông N được cấp sổ nhiều hơn diện tích mua của ông bà nên khi đó, giữa ông T và ông N, ông Q có thỏa thuận dịch chuyển hiện trạng thửa đất số 24 sang một phần thửa 87 (cũ) nay là thửa 95 mới để bà V trả lại diện tích thừa cho ông T và ông N đồng ý nên ông Q mới tiến hành đổ đất đá và xây bức tường đá trên ranh giới của thửa đất. Sau đó, ông T giới thiệu bà D cho ông Q bán lại diện tích đất 81m² thuộc thửa số 24 cho bà D. Khi các bên mua bán ông không trực tiếp tham gia cũng không biết, sau đó bà D tiến hành quản lý, sử dụng thửa số 24 thì ông bà không đồng ý vì trước đây giữa ông T, ông N, ông Q đã thỏa thuận thửa 24 dịch chuyển sang một phần thửa 87, còn hiện trạng của thửa số 24 là phần đất của ông Nguyễn Hiệp.
Nay bà D khởi kiện buộc ông bà phải trả lại thửa đất số 24 nói trên, ông bà không đồng ý vì đây là đất của ông H1, trước đây ông bà đã bán cho ông H1, không phải phần đất mà bà D mua của ông Q.
Ông bà chỉ đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà D khi bà V trả lại diện tích được cấp giấy dư so với diện tích mà bà V mua của ông bà là 167m². Sau đó, ông bà có đất trả lại cho ông Q và ông Q trả cho bà D.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn N trình bày:
Ông và bà Đoàn Thị V là hai vợ chồng, trước đây bà V mua của ông T thửa đất diện tích 696m² và sử dụng ổn định, không có tranh chấp và đã được cấp sổ đỏ thửa 25 diện tích 863m². Diện tích tăng thêm là do vợ chồng ông kê khai cả đường xe bò không ai sử dụng, không lấn đất của ai. Sau đó vợ chồng ông tách thành nhiều thửa nhưng không nhớ rõ, trong đó có thửa 87, vào khoảng năm 2016 chuyển nhượng cho bà D một thửa nay là thửa 95. Diện tích 467,3m² thuộc thửa số 87 (cũ) tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L sát ranh với thửa số 24 tờ bản đồ số 25 hiện nay đang tranh chấp giữa bà D với ông T. Nguồn gốc diện tích đất 81m² thuộc thửa số 24 hiện nay đang tranh chấp giữa bà D với ông T trước đây là của ông T, ông T chuyển nhượng lại cho ông Hoàng Đức Q, sau đó ông Q chuyển
nhượng lại cho bà D. Khi ông Q nhận bàn giao đất thì ông T chỉ sang diện tích đất của bà V thuộc một phần thửa 87 cũ nay là thửa 95 mới tờ bản đồ số 25, ông Q có mời ông đến chứng kiến cho cán bộ địa chính đo đạc để xác định ranh mốc thửa đất, diện tích đất chuyển nhượng giữa các bên đúng với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông T, bà D1 không đồng ý mà yêu cầu lấy vào diện tích đất thuộc thửa 87 cũ của bà V 5m chiều ngang, ông không đồng ý nên lấy vạch sơn đỏ vạch lên vỉa hè của con đường vào trường tiểu học L1 và bỏ về, ông vẽ sơn là không phải để đồng ý ông T lấy đất của ông. Trên thực tế giữa ông và ông T, ông Q không có bất kỳ sự thỏa thuận dịch chuyển hiện trạng thửa đất số 24 sang một phần của thửa 87 cũ để trả lại đất cho ông T như lời trình bày của ông Trị v diện tích đất thuộc thửa số 87 là của bà V. Mấy ngày sau, ông Q tiến hành đổ đất đá, xây dựng tường rào trên phần đất thuộc thửa số 87 của bà V nên bà V mời đoàn đo đạc của huyện xuống đo đạc lại và xác định ranh mốc thực tế giữa các bên đúng như trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà V và ông T đã được cấp. Khi biết ông Q đổ đất đá trên thửa 95 thì ông có gọi báo ông Q. Sau khi ông Q biết diện tích đất ông T bàn giao là của bà V nên đồng ý trả lại cho bà V và để vợ chồng ông thanh toán lại tiền chi phí đổ đất đá và xây tường rào trên diện tích đất cho ông Q.
Diện tích đất ông T, bà D1 chuyển nhượng cho ông Q, sau đó ông Q chuyển nhượng lại cho bà D đúng như trên thực tế và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bản đồ địa chính. Do đó, việc ông T cho rằng ông thỏa thuận dịch chuyển diện tích đất thuộc thửa số 24 sang một phần thửa 87 (cũ) là không đúng và bà V cũng không đồng ý, do phần đất đó là của bà V. Còn việc tranh chấp giữa bà D với ông T, bà D1 thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật do ông không có liên quan gì đến diện tích đất này. Ông đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt cho đến khi kết thúc vụ án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đoàn Thị V trình bày:
Bà là vợ của ông Trần Văn N, trước đây bà có diện tích đất 467.3m² thuộc thửa 87 cũ tờ bản đồ số 25 sát ranh với diện tích đất 81.7m² thuộc thửa số 24 mà bà D đang tranh chấp với ông T và bà D1. Diện tích đất của bà đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp và sử dụng ổn định, không có tranh chấp. Năm 2010, ông T, bà D1 chuyển nhượng cho ông Q thửa số 24, tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L. Khi tiến hành bàn giao đất thì ông T, bà D1 lại chỉ sang một phần diện tích đất thuộc thửa 87 cũ của bà nhưng không hỏi ý kiến bà, mà lại cho rằng giữa ông N, ông T và ông Q đã thỏa thuận như thế, thực tế giữa các bên không có thỏa thuận gì vì diện tích đất thuộc thửa số 87 cũ đứng tên của bà chứ không phải của ông N. Sau đó, ông Q lại chuyển nhượng thửa số 24 cho bà D nhưng ông T và bà D1 lại không cho bà D quản lý, sử dụng. Việc ông T, bà D1 chuyển nhượng diện tích đất thuộc thửa 24 cho ông Q và ông Q chuyển
nhượng lại cho bà D không liên quan gì đến diện tích đất thuộc thửa số 87 cũ trước đây của bà. Việc ông T, bà D1 cho rằng giữa các bên đã thỏa thuận dịch chuyển hiện trạng quyền sử dụng đất thửa 24 sang một phần thửa 87 cũ trước đây của bà là không đúng vì bà chưa bao giờ thỏa thuận gì với ông T, bà D1 và ông N chồng bà cũng không có thỏa thuận gì. Nay bà D tranh chấp với ông T, bà D1 phần đất thuộc thửa số 24 tờ bản đồ số 25 bà không có ý kiến gì vì không liên quan đến bà, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Do bận công việc nên bà đề nghị Tòa án cho bà vắng mặt tại các buổi làm việc, phiên hòa giải, công khai chứng cứ cũng như xét xử của Tòa án.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Đức Q trình bày:
Năm 2010, ông có nhận chuyển nhượng từ6 ông T, bà D1 thửa đất số 24 tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L diện tích 81m². Khi ông T, bà D1 giao đất cho ông có cán bộ địa chính xã xuống đo đạc và cắm mốc nhưng ông T và bà D1 không đồng ý mà chỉ lùi xuống 5m ngang sang phần đất của bà V. Khi đó có ông N là chồng bà V chứng kiến nhưng ông N không đồng ý mà dùng vạch sơn đánh dấu trên vỉa hè đường vào trường tiểu học L1, sau đó ông N về, còn ông cho đổ đất đá san lấp mặt bằng và xây tường rào trên phần đất ông T chỉ ranh (tức là một phần thửa 87 cũ nay là thửa 95 mới), khoảng 05 ngày sau ông N báo cho ông biết là địa chính xuống đo đạc lại vị trí ông xây móng nằm trên phần đất của bà V nên ông N, bà V đã thanh toán lại cho ông số tiền đổ đất đá, xây bức tường. Ông T cho rằng giữa ông T, ông N và ông có thỏa thuận dịch chuyển hiện trạng thửa 24 sang thửa 95 (là một phần thửa 87 cũ) là không đúng, giữa ông N, ông T thỏa thuận như thế nào ông không biết và ông cũng không tham gia vào việc thỏa thuận này. Sau khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông chuyển nhượng lại diện tích đất thuộc thửa 24 tờ bản đồ số 25 cho bà D, khi bà D tiến hành quản lý, sử dụng thì vợ chồng ông T ngăn cản và chiếm dụng không cho bà D sử dụng. Nay ông xác định, diện tích đất ông T, bà D1 chuyển nhượng cho ông chính xác là thửa số 24 tờ bản đồ số 25 xã L đúng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bản đồ địa chính và phù hợp với hiện trạng đất ngoài thực địa, ông T chỉ sang phần đất trước đây của bà V là không có cơ sở. Do bận công việc không có thời gian tham gia tố tụng tại Tòa án, ông đề nghị Tòa án cho ông vắng mặt tại các buổi làm việc, hòa giải cũng như xét xử và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn H1 trình bày:
Ông là bà con xa phía bên vợ với ông T và bà D1. Trước đây, ông T và bà D1 có chuyển nhượng cho ông diện tích đất 78m² thuộc thửa số 23 tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L. Khi chuyển nhượng có lập hợp đồng và ông đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BD489911 ngày 19/8/2011. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông T, bà D1 trực tiếp chỉ diện tích đất cho ông trên thực địa sát với thửa số 24. Việc ông T,
ông N, ông Q thỏa thuận với nhau dịch chuyển hiện trạng thửa 23 sang thửa 24 như thế nào ông không biết và cũng không được thông báo. Ông xác định ông T, bà D1 chuyển nhượng cho ông thửa số 23 tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L đúng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và theo bản đồ hiện trạng thửa đất. Giữa bà D, ông T tranh chấp nhau thửa 24 tờ bản đồ số 25 ông không có ý kiến gì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Tại bản án sơ thẩm số: 27/2023/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh D đối với ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Buộc ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1 trả lại cho bà Phạm Thị Thanh D diện tích đất 81,7m² thuộc thửa số 24 tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 1) theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 5284/2019 ngày 25/6/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2. Đất có tứ cận: Phía Đông giáp đường nhựa (đường nội bộ thuộc thửa đất 26); phía Tây giáp thửa 22; phía Nam giáp thửa 95; phía Bắc giáp thửa 23.
Ngoài ra còn tuyên về phần án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
* Ngày 06/7/2023 bị đơn ông T, bà D1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai và đề nghị hủy bản án sơ thẩm và buộc ông Trần Văn N và bà Đoàn Thị V phải trả cho vợ chồng ông, bà 177,5 m² hoặc trả giá trị bằng tiền.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự: Thẩm phán và Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
Các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Đối với bị đơn ông T, bà D1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai và đề nghị hủy bản án sơ thẩm và buộc ông Trần văn N2 và bà Đoàn Thị V phải trả cho vợ chồng ông, bà 177,5 m² hoặc trả giá trị bằng tiền là không có cơ sở chấp nhận, cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS không chấp nhận đơn kháng cáo của bị đơn ông T, bà D1, xử y án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1 làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về kháng cáo của bị đơn ông T, bà D1: Cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập làm rõ những chứng cứ và chưa xem xét đánh giá chứng cứ khách quan theo đúng quy định của pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn. Do đó, đề nghị hủy bản án sơ thẩm bản án sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai và buộc ông Trần văn N2 và bà Đoàn Thị V phải trả cho vợ chồng ông, bà 177,5 m² đất hoặc trả giá trị bằng tiền. Tại cấp phúc thẩm bị đơn kháng cáo nhưng không có cung cấp được cho tòa án chứng cứ nào mới, ông T cho rằng ông đang khởi kiện ông N2 để đòi lại phần đất ông năm lấn chiếm của ông và ông đề nghị hủy án sơ thẩm chờ kết quả giải quyết vụ án giữa ông với ông N2.
[3] Xét về kháng cáo của bị đơn nhận thấy về nguồn gốc phần đất tranh chấp được Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh Đ xác định xác định tại Văn bản số 9552/STNMT-VPĐK ngày 02/12/2020 như sau: “Bà D được cấp giấy chứng nhận đối với 02 thửa số: 24, 95 tờ bản đồ 25 xã L, huyện L là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Thửa số 95 do bà V tách ra từ thửa 87 tờ bản đồ số 25 và chuyển nhượng cho bà D vào năm 2016. Còn thửa số 24 đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận số BB314115 ngày 29/7/2010 cho ông T và bà D1. Đến năm 2010, ông T, bà D1 chuyển nhượng thửa số 24 này cho ông Hoàng Đức Q. Đến năm 2015, ông Q chuyển nhượng lại cho bà D và bà D được cấp giấy chứng nhận số CD 279518 ngày 26/02/2016”.
- Như vậy, xét về nguồn gốc đất, quá trình tách thửa cho đến việc chuyển nhượng đất của vợ chồng ông T và bà D1, bà V cho thấy vị trí đất của ông T, bà D1, bà V, bà D là đã rõ ràng từng thửa đất riêng biệt, không có việc chồng lấn vị trí giữa các thửa đất.
- Đối với ông T cho rằng thửa đất số 24 của bà D theo giấy chứng nhận là đúng nhưng trên hiện trạng là thửa số 23 của ông Nguyễn H1, còn hiện trạng thửa số 24 nằm trong phần đất thuộc thửa số 95 mới (là một phần thửa 87 cũ) của bà V do giữa ông T, ông N2 và ông Q đã thỏa thuận dịch chuyển hiện trạng thửa đất số 24 sang 5m chiều ngang thuộc một phần của thửa 87 cũ nay là thửa 95 của bà V khi ông T chuyển nhượng cho ông Q vào năm 2010 nhưng lời trình bày này của ông T không được ông N2, bà V, ông Q thừa nhận, những người này xác nhận trên thực tế không có bất kỳ sự thỏa thuận nào như lời trình bày của ông Trị v diện tích đất thuộc thửa số 87 là của bà V. Ông N2 xác định khi ông T giao đất cho ông Q thì ông T chỉ sang 5m chiều ngang thuộc thửa 87 cũ của bà V, ông không đồng ý nên lấy sơn đỏ vạch lên vỉa hè của con đường vào trường tiểu học L1 và bỏ về. Ông Q xác định trước khi ký hợp đồng chuyển nhượng giữa ông và bà D thì ông
đã yêu cầu đo đạc lại, xác định ranh mốc rõ ràng của thửa số 24 và chuyển nhượng cho bà D đúng vị trí. Còn ông H1 thì xác định ông T, bà D1 chuyển nhượng cho ông thửa số 23 tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L đúng theo giấy chứng nhận và theo bản đồ hiện trạng thửa đất. Ông H1 không có tranh chấp gì với bà D. Theo kết quả đo vẽ tại Bản đồ hiện trạng thửa đất số 5284/2019 ngày 25/6/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – chi nhánh L2 chứng tỏ hiện trạng sử dụng đất của thửa đất số 24 là trùng khớp với số thửa trên bản đồ địa chính và trùng với thửa đất trong giấy chứng nhận đã được cấp cho bà D. Như vậy, ông T không có chứng cứ gì chứng minh cho lời trình bày của ông, không có bất cứ thỏa thuận nào về việc dịch chuyển hiện trạng thửa đất số 24 sang thửa 95 mới (là một phần thửa 87 cũ) như ông T trình bày, cũng không có tài liệu, chứng cứ nào của cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh về hiện trạng của thửa đất số 24. Mặt khác, trước đây ông T là chủ sử dụng của thửa đất số 24, chính là người giới thiệu bà D nhận chuyển nhượng thửa đất số 24 của ông Q nhưng nay lại cho rằng hiện trạng thửa số 24 là thửa số 23, còn hiện trạng thửa 24 nằm trong thửa 95 của bà V là không có cơ sở.
- Về lời trình bày của ông T, bà D1 cho rằng ông bà chỉ đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà D khi bà V trả lại diện tích được cấp giấy dư so với diện tích mà bà V mua của ông bà là 167m². Sau đó, ông bà mới có đất trả cho ông Q và ông Q trả cho bà D. Xét thấy, vợ chồng ông T cũng thừa nhận là ông bà chuyển nhượng thửa đất số 25 cho bà V, sau đó bà V tách thành nhiều thửa và chuyển nhượng cho bà D một thửa và cũng thừa nhận là thửa đất mà bà V chuyển nhượng cho bà D so với thửa đất mà vợ chồng ông chuyển nhượng cho ông Q là khác nhau. Do đó, việc bà V, ông N2 có lấn đất của vợ chồng ông T hay không thì sẽ được giải quyết bằng vụ án khác, như đã phân tích ở trên là không có căn cứ khẳng định có việc thỏa thuận chuyển dịch vị trí thửa 24 sang thửa đất của bà V nên tranh chấp giữa vợ chồng ông T với vợ chồng bà V, ông N2 không liên quan đến thửa đất số 24 mà bà D tranh chấp trong vụ án này. Bởi vì bà D là người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngay tình, đúng quy định của pháp luật, đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; nếu có giải quyết tranh chấp giữa vợ chồng ông T với vợ chồng bà V, ông N2 thì cũng giải quyết bồi thường giá trị đất bằng tiền không liên quan đến phần đất cấp cho bà D. Do đó, việc yêu cầu của ông T đề nghị chờ kết quả giải quyết vụ án của giữa vợ chồng ông T với vợ chồng bà V, ông N2 là không có cơ sở chấp nhận.
- Từ những nhận định trên, nhận thấy khi bà D nhận chuyển nhượng diện tích đất tại thửa số 24 tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L từ ông Q là ngay tình, hợp pháp và bà D đã được nhà nước công nhận quyền sử dụng đất nên ông T và bà D1 ngăn cản, lấn chiếm không cho bà D quản lý, sử dụng thửa đất số 24 này là trái pháp luật. Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà D là có căn cứ chấp nhận, buộc ông T
và bà D1 phải trả lại diện tích đất 81.7m² thuộc thửa số 24 tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cho bà D là đúng quy định của pháp luật.
Do đó kháng cáo của ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1 không được chấp nhận; giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 27/2023/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn thuộc trường hợp được miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 157, 158, 266, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 115, 158, 160, 189, 192, 221, 223 của Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 17, Điều 166, 203 Luật đất đai năm 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh D đối với ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất".
Buộc ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1 trả lại cho bà Phạm Thị Thanh D diện tích đất 81,7m² thuộc thửa số 24 tờ bản đồ số 25 xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai được giới hạn bởi các mốc (1, 2, 3, 4, 1) theo bản đồ hiện trạng thửa đất số 5284/2019 ngày 25/6/2019 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ – Chi nhánh L2. Đất có tứ cận: Phía Đông giáp đường nhựa (đường nội bộ thuộc thửa đất 26); phía Tây giáp thửa 22; phía Nam giáp thửa 95; phía Bắc giáp thửa 23.
Về án phí: Bà Phạm Thị Thanh D không phải chịu, trả lại cho bà D số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 500.000 đồng theo biên lai thu số 006354 ngày 10/5/2017 và 300.000 đồng theo biên lai thu số 005269 ngày 15/7/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành. Ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1 được miễn án phí.
Về chi phí tố tụng: Ông T và bà D1 phải chịu 9.268.000 đồng (chín triệu hai trăm sáu mươi tám ngàn đồng). Bà D đã nộp tạm ứng nên ông T và bà D1 có trách nhiệm thanh toán lại cho bà D số tiền này.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Vĩnh Yên |
Bản án số 03/2024/DS-PT ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 03/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án sơ thẩm tuyên Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thanh D đối với ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1 về việc "Tranh chấp quyền sử dụng đất". Buộc ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1 trả lại cho bà Phạm Thị Thanh D diện tích đất 81,7m2 thuộc thửa số 24 tờ bản đồ số 25 xã L, huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai Tại phiên tòa phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo của ông Ngô Tùng T và bà Phạm Thị D1, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 27/2023/DS-ST ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai.
