Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH CỬU

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 03/2024/HS-ST

Ngày 09 - 01 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Kim Đính

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Anh, bà Nguyễn Thị Lệ Hằng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Vạn là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tất Bắc là Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 226/2023/TLST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 240/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

1. Chau Khét, sinh năm 1984, tại tỉnh An Giang;

Nơi đăng ký thường trú: ấp A, xã A, huyện T, tỉnh An Giang.

Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kh'mer. Tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa - học vấn: 7/12; con ông Chau K - sinh năm 1962 và bà Nèang Som B - sinh năm 1963; Gia đình có 06 anh em; đã ly hôn vợ là Nèang Q - sinh năm 1991; sống chung như vợ chồng với Neang Chanh N (Nèang Chanh N1) - sinh năm 1987; có 03 con, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ ngày 06/10/2023, tạm giam ngày 11/10/2023.

2. Chau Cóp (Chau K1), sinh năm 1992, tại tỉnh An Giang.

Nơi đăng ký thường trú: ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang.

Nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kh'mer; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa - học vấn: 5/12; con ông Chau Sa R - sinh năm 1962 và bà Nèang N2 - sinh năm 1963; Gia đình có 05 chị em; có vợ là Nèang Chanh Na - sinh năm 1991 và có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2019. Tiền án: Ngày 10/12/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Cửu xử phạt 03 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngày 03/02/2016 được cấp giấy chứng nhận chấp hành xong hình phạt tù; ngày 29/11/2023 nộp án phí hình sự sơ thẩm. Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 22/8/2005, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh An Giang Quyết định đưa vào trường giáo dưỡng thời hạn 24 tháng về hành vi “Cướp giật tài sản”. Ngày 01/6/2007, được cấp giấy chứng nhận đã chấp hành xong Quyết định đưa vào trường G. Bị tạm giữ ngày 06/10/2023, tạm giam ngày 11/10/2023.

3. Chau Ươl, sinh năm 1990, tại tỉnh An Giang.

Nơi đăng ký thường trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kh'mer; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa - học vấn: 9/12; con ông Chau Y - sinh năm 1960 và bà Nèang N3 - sinh năm 1961; Gia đình có 04 anh chị em; có vợ là Nèang T - sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ ngày 06/10/2023, tạm giam ngày 11/10/2023.

4. Chau Sóc K2, sinh năm 1978, tại tỉnh An Giang.

Nơi đăng ký thường trú: ấp Đ, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kh'mer; Tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa - học vấn: 5/12; con ông Chau U - sinh năm 1958 và bà Nèang S - sinh năm 1959; Gia đình có 04 anh em; vợ là Nèang T1 - sinh năm 1982 và có 02 con, lớn sinh năm 1999, nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ ngày 06/10/2023, tạm giam ngày 11/10/2023.

5. Chau Rương, sinh năm 1982, tại tỉnh An Giang.

Nơi đăng ký thường trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kh'mer; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa - học vấn: Không đi học; con ông Chau V - sinh năm 1965 và bà Nèang Sa V1 - sinh năm 1965; Gia đình có 04 anh em; vợ là Nèang Chanh Đ – sinh năm 1978 và 01 con sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ ngày 06/10/2023, tạm giam ngày 11/10/2023.

6. Chau Tum, sinh năm 2002, tại tỉnh An Giang.

Nơi đăng ký thường trú: ấp P, xã Ô, huyện T, tỉnh An Giang. Nơi cư trú: ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai.

Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kh'mer; Tôn giáo: Phật. Nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa - học vấn: 8/12; con ông Chau K3 - sinh năm 1972 và bà Nèang Sóc P - sinh năm 1973; Gia đình có 04 chị em; vợ, con, tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ ngày 06/10/2023, tạm giam ngày 11/10/2023.

* Người bào chữa của các bị cáo (06 bị cáo):

Ông Vũ Văn T2, sinh năm 1962; là Luật sư – văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ.

Địa chỉ cư trú: 6F, tổ C, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Ông Châu Đ1, sinh năm 1995;

Nơi cư trú: ấp E, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai

* Người làm chứng: Trịnh Minh N4, sinh năm 1994;

Nơi cư trú: ấp A, xã T, huyện V, tỉnh Đồng Nai

(Các bị cáo, đương sự, người bào chữa có mặt tại phiên tòa; người làm chứng vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 06/10/2023 Chau C, Chau Ư, Chau Sóc K4, Chau R1, Chau T3 cùng ăn uống (ngày Tết người dân tộc Kh’mer) tại nhà chòi trước dãy nhà trọ thuộc ấp E, xã T, huyện V. Sau đó đến phòng trọ của Chau K5 tại ấp E, xã T. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, C, Ư, K4, R1, T3 đến phòng trọ của K5 đánh bông vụ. Khét lấy 01 nắp nhựa, 01 đĩa sứ, 01 hạt bông vụ, 01 tấm bạt làm cái đánh bạc với C, Ư, K4, R1, T3. Cả nhóm thống nhất bông vụ và tỷ lệ thắng thua bạc như sau: Người làm cái sử dụng 01 hạt bông vụ có 06 mặt, được đánh số thứ tự bằng các dấu chấm màu trắng hoặc đỏ theo thứ tự từ 01 đến 06 và lắc cây bông vụ trên đĩa sứ rồi dùng nắp nhựa đậy lại. Sau đó, các con bạc đặt tiền vào các ô số từ 01 đến 06 được vẽ trên 01 tấm bạt tương ứng với mặt số của bông vụ. Nếu con bạc đặt tiền vào ô số mà khi mở bông vụ trùng vào ô số đã đặt thì được ăn gấp 04 lần, ngược lại không trùng vào bông vụ thì mất số tiền đặt cược. Mức đặt cược mỗi lần lắc bông vụ từ 10.000 đồng đến 500.000 đồng. Các bị cáo đánh bạc đến 21 giờ 40 phút cùng ngày thì bị Công an huyện V phối hợp Công an xã T phát hiện lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ: 01 nắp nhựa, 01 đĩa sứ, 01 hạt bông vụ, 01 tấm bạt; bị cáo: Cóp 6.200.000 đồng, K4 1.300.000 đồng, R1 1.500.000 đồng. Tạm giữ 04 xe mô tô biển số: 67N1-635.19; 67F1-280.97; 52L5-8957 và 67F1-488.56.

Kết quả điều tra xác định số tiền đánh bạc như sau: Chau Khét sử dụng 270.000 đồng, làm cái đánh bạc, thua 270.000 đồng; Chau C sử dụng 6.000.000 đồng đánh bạc, thắng 200.000 đồng; Chau Ư sử dụng 40.000 đồng đánh bạc; Chau Sóc K4 mang theo 1.340.000 đồng đánh bạc, cho Chau T3 40.000 đồng đánh bạc còn 1.300.000 đồng sử dụng đánh bạc không thắng, không thua; Chau R1 mang theo 1.350.000 đồng, cho Chau T3 100.000 đồng đánh bạc, còn 1.250.000 đồng sử dụng đánh bạc, thắng 250.000 đồng; Chau Tum sử dụng 140.000 đồng đánh bạc.

Tổng số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 9.000.000 đồng - (Bút lục số: 70-78, 83-93, 107-116, 121-130, 135-139, 150-153).

- Về nguồn gốc các xe mô tô:

Xe mô tô Satria biển số 67N1-635.19 do Chau T3 đứng tên Chứng nhận đăng ký xe. Ngày 06/10/2023, T3 điều khiển xe mô tô đến phòng trọ của K5 nhưng không sử dụng vào mục đích đánh bạc;

Xe mô tô biển số 67F1-280.97 do Chau Ư đứng tên Chứng nhận đăng ký xe. Ngày 06/10/2023, Ư điều khiển xe mô tô đến phòng trọ của K5 nhưng không sử dụng vào mục đích đánh bạc.

Xe mô tô biển số 67F1-488.56 do Chau K5 đứng tên Chứng nhận đăng ký xe. Ngày 06/10/2023, K5 không sử dụng xe mô tô vào mục đích đánh bạc.

Xe mô tô biển số 52L5-8957 do Đỗ Thị Xuân K6 - sinh năm 1962, thường trú tại 5 H, phường I, quận H, thành phố Hồ Chí Minh đứng tên (chưa làm việc được với bà K6). Năm 2020, Chau Đ2 mua lại xe mô tô của một người không rõ họ tên, địa chỉ và không sang tên. Ngày 06/10/2023, Chau Sóc K4 mượn xe mô tô của Đ2 đến phòng trọ của K5.

Xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện đã trả lại xe mô tô biển số 52L5-8957 của Chau Đôn quản lý.

* Cáo trạng số 05/CT-VKSVC ngày 20/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai quyết định truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên luận tội như sau:

Lời khai của các bị cáo phù hợp tài liệu, chứng cứ vụ án, các bị cáo phạm tội đánh bạc nguy hiểm trong xã hội, đồng phạm giản đơn. Bị cáo C tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác, hình phạt đối với các bị cáo còn lại ngang nhau.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo K5, K4, R1, T3, Ư; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo C; các bị cáo có sự hiểu biết pháp luật hạn chế nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo C; áp dụng khoản 1 Điều 321, Điều 17, Điều 38, Điều 58, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với các bị cáo K5, K4, R1, T3, U;

Tuyên bố các bị cáo phạm tội “Đánh bạc”; xử phạt: Bị cáo C 08 đến 10 tháng tù; các bị cáo K5, K4, R1, T3, U mỗi bị cáo từ 04 đến 06 tháng tù.

Đối với Nguyễn Văn N5 là chủ nhà trọ không biết các bị cáo đánh bạc tại phòng nhà trọ nên không có vi phạm pháp luật.

Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ đánh bạc (gồm 01 nắp nhựa, 01 đĩa sứ, 01 hạt bông vụ, 01 tấm bạt).

Giao trả: xe mô tô biển số 67N1-635.19 cho Chau T3; xe mô tô biển số 67F1-280.97 cho Chau Ư; xe mô tô biển số 67F1-488.56 cho Chau K5.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 9.000.000 đồng.

* Bị cáo K5 trình bày ý kiến: Ngày 06/10/2023 là ngày Tết của người dân tộc KhơMe (Kh'mer), các bị cáo có cùng ăn uống, đánh bông vụ trong ngày Tết. Nội dung bản Cáo trạng đúng sự thật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

* Bị cáo C trình bày ý kiến: Bị cáo đồng ý nội dung Cáo trạng, không có ý kiến tranh luận tại phiên tòa, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

* Bị cáo K4 trình bày ý kiến: Bị cáo đồng ý nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

* Bị cáo R1 trình bày ý kiến: Bị cáo đồng ý nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

* Bị cáo Ư trình bày ý kiến: Bị cáo đồng ý nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

* Bị cáo T3 trình bày ý kiến: Đồng ý nội dung Cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

* Đương sự Đ2 trình bày ý kiến: Không có ý kiến, yêu cầu.

* Người bào chữa trình bày ý kiến:

Đồng ý nội dung Cáo trạng, các bị cáo là người dân tộc Kh'me, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, là lao động chính, tham gia đánh bạc với số tiền không lớn trong ngày Tết của người dân tộc Kh'me, phạm tội ít nghiêm trọng, ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hoạt động tiến hành tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện V, tỉnh Đồng Nai và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Đến nay, người tham gia tố tụng trong vụ án không có khiếu nại. Hoạt động tiến hành tố tụng của Công an huyện V và Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Cửu phù hợp pháp luật.

Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án vì người này vắng mặt không có ảnh hưởng đến hoạt động xét xử. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vụ án vắng mặt người làm chứng là phù hợp Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

Tại phiên tòa các bị cáo trình bày ý kiến về hành vi đánh bạc theo nội dung Cáo trạng là đúng sự thật, không có ý kiến tranh luận. Ý kiến trình bày của các bị cáo thống nhất với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp vật chứng, tài liệu khác của vụ án. Các chứng cứ này chứng minh các bị cáo phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng quy định của pháp luật.

* Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Hành vi của các bị cáo nguy hiểm trong xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng của nhà nước, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương nên áp dụng hình phạt tù tương xứng đối với hành vi phạm tội để giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

Trong vụ án này, các bị cáo tham gia thực hiện tội phạm không có tính tổ chức, đều là người đồng phạm thực hành đánh bạc. Bị cáo C dùng tiền đánh bạc nhiều hơn các bị cáo khác, phạm tội lần này là tái phạm nên phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo khác. Xét bị cáo thành khẩn khai báo, hiểu biết pháp luật hạn chế nên được áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ hình phạt.

Đối với bị cáo K5 làm cái để đánh bạc nên phải chịu hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại, hành vi tham gia đánh bạc của các bị cáo K4, R1, T3, Ư là ngang nhau phải chịu hình phạt ngang nhau.

Tại phiên tòa các bị cáo K5, K4, R1, T3, Ư thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; không có tiền án tiền sự, có sự hiểu biết pháp luật hạn chế, có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, số tiền đánh bạc không lớn, là người lao động chính nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên được áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ mức hình phạt đối với các bị cáo.

Đối với Nguyễn Văn N5 là chủ nhà trọ không biết các bị cáo đánh bạc nên không có vi phạm pháp luật.

[3] Về vật chứng:

Trả lại: Chau Tum: Xe mô tô biển số 67N1-635.19; Chau Ươl: xe mô tô biển số 67F1-280.97; Chau Khét: xe mô tô biển số 67F1-488.56.

9.000.000 đồng dùng đánh bạc thì tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước.

01 bộ dụng cụ (gồm 01 nắp nhựa, 01 đĩa sứ, 01 hạt bông vụ, 01 tấm bạt) là phương tiện phạm tội phải tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[4] Về chi phí tố tụng:

Các bị cáo là người bị kết án, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

[5] Luận tội của Kiểm sát viên phù hợp chứng cứ vụ án, quy định pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên.

[6] Ý kiến của người bào chữa phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo C;

Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 58, Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo K5, K4, R1, T3, Ư;

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí Tòa án.

Tuyên bố: Các bị cáo Chau K5, Chau C, Chau Sóc K4, Chau R1, Chau T3, Chau U phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt:

Chau Cóp 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.

Chau Khét 04 (bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.

C1 (ba) tháng 03 (ba) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.

Chau Rương 03 (ba) tháng 03 (ba) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.

Chau Tum 03 (ba) tháng 03 (ba) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.

Chau Ươl 03 (ba) tháng 03 (ba) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.

(Căn cứ Điều 328 của Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do ngay tại phiên tòa đối với các bị cáo K4, R1, T, U).

- Về vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ đánh bạc (gồm 01 nắp nhựa, 01 đĩa sứ, 01 hạt bông vụ, 01 tấm bạt).

Trả lại: Chau Tum: Xe mô tô biển số 67N1-635.19; Chau Ươl: xe mô tô biển số 67F1-280.97; Chau Khét: xe mô tô biển số 67F1-488.56.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 9.000.000đ (chín triệu đồng)

(theo biên lai thu tiền số 0004301, biên bản giao nhận vật chứng cùng ngày 26/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai).

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về trách nhiệm thi hành án dân sự: Bản án được thi hành theo quy định tại các Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Các bị cáo, đương sự có quyền kháng cáo Bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an huyện Vĩnh Cửu (2);
  • - VKSND huyện Vĩnh Cửu;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đồng Nai;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo
  • {để thay thông báo kết quả xét xử};
  • - Chicục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Cửu;
  • - Lưu: Vụ án, lưu trữ cơ quan, THAHS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Kim Đính

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI về đánh bạc

  • Số bản án: 03/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH CỬU, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chau Cop-đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger