|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 03/2024/HS-PT Ngày 05/01/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hữu.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Dũ;
Bà Tôn Thị Thanh Thúy
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Ngà - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 134/2023/TLPT-HS ngày 06 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo Trương Thành P và Trần Văn L, do có kháng cáo của các bị cáo Trương Thành P và Trần Văn L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
Bị cáo có kháng cáo:
- Trương Thành P; Sinh ngày 25/11/1984; Nơi sinh: Huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp M, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang; Nơi ở hiện nay: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trương Văn T (sống) và bà Đỗ Thị T1 (sống); Vợ: Nguyễn Thị G và có 02 người con sinh năm 2009 và năm 2010; Anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1987; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 06/4/2023 cho đến nay (có mặt).
- Trần Văn L; Sinh ngày 19/9/1989; Nơi sinh: Huyện M, tỉnh Sóc Trăng; Nơi cư trú: Ấp C, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L1 (chết) và bà Nguyễn Thị L2 (sống); Vợ: Ngô Thu N và có 01 người con sinh năm 2015; Anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1985, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/7/2023 cho đến nay (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn L: Ông Nguyễn Khánh T2-Luật sư của Văn phòng luật sư Nguyễn Khánh T2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh S (có mặt)
- Những người tham gia tố tụng khác không liên quan đến kháng cáo Tòa án không triệu tập gồm: Các bị cáo Đỗ Duy Q, Châu Anh K, Quách Minh C; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lý Thị Huyền T3; Người làm chứng bà Lê Thị T4.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào đêm 17/02/2023 đến sáng 18/02/2023 Đỗ Duy Q, Châu Anh K, Trương Thành P và Quách Minh C đến nhà của Trần Văn L tại nhà của Trần Văn L thuộc ấp C, thị trấn C, huyện C tỉnh Sóc Trăng để đánh bạc trái phép dưới hình thức dùng bài tây 52 lá, đánh bài cào ba lá được chia thành 04 tụ (tính luôn người chia bài) được thua bằng tiền, mỗi ván bài đặt số tiền từ 20.000 đồng (hai mươi nghìn đồng) đến 30.000 đồng (ba mươi nghìn đồng) và có thể tố thêm, Trần Văn L là người cung cấp địa điểm, bài tây để cho Q, K, P và C đánh bài, mỗi bộ bài tây L bán là 20.000 đồng và bán nước uống, bài tây được Luôn để sẵn cho Q, K, P và C tự lấy bài thì trả 20.000 đồng vào trong 01 hộp nhựa trả cho L. Vào lúc 08 giờ 35 phút ngày 18 tháng 02 năm 2023, Công an huyện C tiến hành kiểm tra tại nhà của Trần Văn L bắt quả tang Q, K, P và C đang đánh bài, ngoài ra còn có Lý Thị Huyền Trang đang ngồi xem đánh bài. Tại thời điểm bắt quả tang Công an huyện C đã thu giữ số tiền trên chiếu bạc là 5.290.000 đồng, số tiền trên người của Quách Minh C là 2.902.000 đồng, số tiền trên người của Đỗ Duy Q là 1.105.000 đồng; số tiền trên người của Trương Thành P là 2.017.000 đồng, số tiền trên người của Lý Thị Huyền T3 là 3.238.000 đồng, số tiền trong hộp nhựa là 312.000 đồng và các tài liệu, đồ vật khác có liên quan đến quá trình đánh bạc của Q, K, P và C.
Quá trình điều tra Đỗ Duy Q, Châu Anh K, Trương Thành P và Quách Minh C thừa nhận số tiền dùng để đánh bạc là 8.192.000 đồng (gồm tiền trên chiếu bạc là 5.290.000 đồng và tiền trên người của Quách Minh C là 2.902.000 đồng); còn lại số tiền trên người của Đỗ Duy Q là 1.105.000 đồng, số tiền trên người của Trương Thành P là 2.017.000 đồng và số tiền trên người của Lý Thị Huyền T3 là 3.238.000 đồng không dùng để đánh bạc.
Trên cơ sở kết quả điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ thu được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Đỗ Duy Q, Châu Anh K, Trương Thành P, Quách Minh C và Trần Văn L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 17/2023/HS-ST ngày 27/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
- Tuyên bố các bị cáo Đỗ Duy Q, Châu Anh K, Trương Thành P, Quách Minh C, và Trần Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Đỗ Duy Q 09 (chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Châu A Kiệt 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, khoản 3 Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Trương Thành P 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, khoản 3 Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Quách Minh C 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, khoản 3 Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017): xử phạt bị cáo Trần Văn L 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
*Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật.
*Ngày 06/10/2023, các bị cáo Trương Thành P, Trần Văn L kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
- Người bào chữa cho bị cáo L trình bày: Về tội danh tôi đồng tình với bản án sơ thẩm. Về hình phạt cấp sơ thẩm xử bị cáo là nghiêm khắc vì khi bắt quả tang bị cáo không trực tiếp tham gia, do nhận thức của bị cáo không biết cho người khác đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhà bị cáo bán nước giải khác, bán bài tây và bán bia và việc bán nước giải khác, bán bài cho các bị cáo khác tự phục vụ, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ vợ bị cáo đang mau bầu nếu bị cáo chấp hành ngay khi vợ bị cáo sắp sinh là rất khó khăn, việc cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ răn đe bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo L.
- Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng trình bày quan điểm: Kháng cáo của các bị cáo P, L là hợp pháp. Về nội dung kháng cáo của các bị cáo các lý do mà bị cáo đưa ra để xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ, mức hình phạt mà cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo cũng tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo, do đó đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo P, L và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo lập và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào ngày 06/10/2023 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm
[2] Xét về hành vi phạm tội của các bị cáo Trương Thành P và Trần Văn L như sau: Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo P, L đều khai nhận vào đêm 17/02/2023 đến sáng ngày 18/02/2023 Trần Văn L đã có hành vi cung cấp địa điểm là nhà của L, cung cấp bài tây, nước uống cho Đỗ Duy Q, Châu Anh K, Trương Thành P và Quách Minh C đánh bạc trái phép dưới hình thức dùng bài tây 52 lá, đánh bài cào ba lá ăn thua bằng tiền, khi Công an kiểm tra thì phát hiện các bị cáo Q, K, P và C đang đánh bài ăn thua bằng tiền với số tiền dùng để đánh bạc là 8.192.000 đồng. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp lời khai của các bị cáo khác trong vụ án phù hợp với lời khai người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận các bị cáo Trương Thành P, Trần Văn L phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Trương Thành P và Trần Văn L về việc xin giảm án: Xét khi lượng hình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định các bị cáo P, L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là các bị cáo P, L không có tiền án, tiền sự; có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình các bị cáo có công với cách mạng; Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Xét Hội đồng xét xử sơ thẩm xử phạt các bị cáo P, L mức án 03 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của các bị cáo, đặc điểm nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được áp dụng. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo P cung cấp Quyết định xuất ngũ là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng thêm cho bị cáo, tuy nhiên mức hình phạt đối với bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo; Đối với bị cáo L cung cấp hoàn cảnh gia đình khó khăn, vợ bị cáo đang mau thai sắp sinh, con còn nhỏ, bị cáo là lào động chính, đây không phải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định của pháp luật mà được xem xét ở giai đoạn thi hành án. Do đó, kháng cáo của các bị cáo P, L về việc xin giảm nhẹ hình phạt là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Xét kháng cáo của các bị cáo P, L về việc xin được hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền: Xét khi lượng hình các bị cáo bị xử phạt tù không quá 03 năm, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng. Tuy nhiên, tình hình tội phạm về đánh bạc trên địa bàn huyện C diễn ra khá phức tạp, việc không áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo không đủ răn đe sẽ ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, về việc xin hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền
[5] Lời đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên phần quyết định của bản án sơ thẩm là có căn cứ. Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[6] Lời đề nghị của người bào chữa cho bị cáo L là chưa đủ căn cứ, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận.
[7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định: “Trường hợp chỉ bị cáo hoặc người đại diện của bị cáo kháng cáo quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm mà Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm thì người kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm”. Như vậy, bị cáo P, L là người kháng cáo quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm và cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên theo quyết định của bản án sơ thẩm nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm là 200.000 đồng/bị cáo.
[8] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, khoản 3 Điều 54, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Trương Thành P, Trần Văn L.
- Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Về án phí hình sự phúc thẩm:
- Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trương Thành P và Trần Văn L, về việc xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt chính là phạt tiền.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 17/2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Cù Lao Dung, tỉnh Sóc Trăng.
Xử phạt bị cáo Trương Thành P 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Văn L 03 (ba) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Trương Thành P phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Bị cáo Trần Văn L phải chịu là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Hữu |
Bản án số 03/2024/HS-PT ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc
- Số bản án: 03/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trương Thành P và Trần Văn L
