|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2024/HSST Ngày 05-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Khang
Bà Phạm Thị Bấm
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hạnh- Thẩm tra viên Toà án nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Hoài Thu- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận Ngô Quyền, Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 196/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 739/2023/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 787/2023/HSST- QĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 783/TB- TA ngày 28 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Phạm Văn B (tên gọi khác: Phạm Văn L), sinh ngày 14 tháng 11 năm 2001 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ A H, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn A và bà Nguyễn Thị N; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/7/2023; có mặt.
- Đỗ Văn R, sinh ngày 07 tháng 10 năm 2004 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Thôn K, xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn C và bà Lê Thị G; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/7/2023; có mặt.
- Nguyễn Chí Đ, sinh ngày 12 tháng 02 năm 2003 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ A H, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí D và bà Đỗ Thị H; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/7/2023; có mặt.
- Bị hại: Anh Phạm Hoàng A1, sinh năm 2002; trú tại: Khu E thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
- Người làm chứng: Anh Hà Thế M; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 12/5/2023, Phạm Văn B, Đỗ Văn R đang làm công việc dọn dẹp tại cung R1 nhà hàng H1 tại số A T, M, Ngô Q, Hải Phòng, thì B có xảy ra xích mích về công việc chung với Phạm Hoàng A1. Sau đó hai bên xảy ra cãi vã. Biển và Hoàng A1 đã hẹn nhau ra cổng sau của nhà hàng để giải quyết mâu thuẫn. Biển gọi điện thoại cho Đỗ Thành C1 là bạn của B và Phạm Văn S là em trai ruột của B, và bảo “Tí lên cổng công ty đón tao về, trên đây có thằng đòi đánh tao”. C1 gọi điện cho Nguyễn Chí Đ và Hà Thế M, bảo đến khu vực cổng phụ Nhà hàng H1 để cùng đón B. Khoảng 30 phút sau, B đi sang khu vực để dụng cụ phục vụ ở trong Cung Saphire Nhà hàng H1, lấy 01 dao bằng kim loại, cán gỗ, dài khoảng 25 cm, bản rộng khoảng 07 cm, cho vào 01 túi nilon màu trắng và xách đi ra khu vực cổng phụ Nhà hàng H1, cùng với R.
Đến khoảng 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi B, R đi bộ từ cổng chính ra phía cổng phụ nhà hàng H1, đến khu vực trước cửa số nhà C T thì gặp C1, Đ và M. Cả nhóm của B đi ra chỗ Hoàng A1 đang đứng đợi ở đây. Khi thấy Hoàng A1, B có nói: "Mày hẹn tao ra đây làm gì, làm sao". Hoàng A1 nói: "Tao hẹn mày ra đây đánh nhau chứ làm gì, làm sao, làm sao". Biển liền dùng tay phải đấm vào mặt Hoàng A1 một cái. Hoàng A1 định đánh lại, thì B rút 01 con dao từ trong túi nilon trắng đang cầm ra và chém về phía Hoàng A1. Hoàng A1 bỏ chạy vào vỉa hè sát cửa nhà số C T thì bị ngã. Biển đuổi đến nơi, vung dao chém từ trên xuống dưới, hướng về phía người Hoàng A1. Hoàng A1 giơ tay lên đỡ thì trúng vào mu bàn tay phải của Hoàng A1. Biển tiếp tục chém một nhát nữa trúng vào vành tai phải của Hoàng A1. Hoàng A1 đứng dậy bỏ chạy về phía C1, Đ, R, M đang đứng gần đó, thì C1, Đ mỗi người dùng tay đấm hai nhát vào đầu Hoàng A1. R dùng chân đạp một nhát, dùng tay đấm hai nhát vào người Hoàng A1. M lao vào để can ngăn, Hoàng A1 bỏ chạy và được bạn đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện H2.
Lúc này, S gọi điện cho B hỏi đang ở đâu thì B bảo ra ngã 6 Cát Bi P uống nước. Tại đây, cả nhóm B, R, Đ, M, C1, S ngồi uống nước, nói chuyện, sau đó cả nhóm ra về. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Phạm Hoàng T là chị của Hoàng A1 đến cơ quan công an trình báo.
Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng đã qua sử dụng của Biển; 01 dao bằng kim loại, cán gỗ, dài khoảng 25 cm, bản rộng khoảng 07 cm (B đã vất xuống sông C nên không thu giữ được).
Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 314/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 24/5/2023 của Trung tâm P kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Hoàng A1 tại thời điểm giảm định là: 09%. Trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương rách da đoạn má phải gây nên là 03%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương đoạn vành tai phải gây nên là 02%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương rách da mu bàn tay phải gây nên là 02%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương rách da đốt 3 ngón III bàn tay phải gây nên là 01%; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương rách da nông mặt sau cổ tay trái gây nên là 01%. Riêng tổn thương đứt gân duỗi ngón 3,4,5 bàn tay phải và các tổn thương khác được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án sẽ được giám định bổ sung, sau khi vết thương tạm ổn định. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc hoặc tương đối sắc tác động trực tiếp gây nên".
Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 461/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 12/7/2023 của Trung tâm P kết luận: "Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Hoàng A1 tại thời điểm giảm định là: 19%. Trong đó: Vết thương má- vành tai phải, vết thương da mu bàn tay phải, ngón III tay phải và vết thương nông mặt sau cổ tay trái đã được giám định đánh giá có tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 09% tại Kết luận giám định số 314/2023/KLTTCT-TTPYHP ngày 24/5/2023 của Trung tâm P; tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương nhánh thần kinh quay tại đoạn dưới vết thương mu tai phải gây nên là 11%”.
Tại Cáo trạng số 202/CT- VKS ngày 28 tháng 11 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền truy tố các bị cáo Phạm Văn B, Đỗ Văn R và Nguyễn Chí Đ về tội Cố ý gây thương tích, quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn B từ
30- 36 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt:
+ Bị cáo Đỗ Văn R từ 27- 30 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54- 60 tháng.
+ Bị cáo Nguyễn Chí Đ từ 24- 27 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48- 54 tháng.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo B đã bồi thường cho bị hại, bị hại không yêu cầu bồi thường thêm khoản gì khác, nên không xem xét giải quyết.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự, tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone XS max thu giữ của bị cáo B.
- Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi như nội dung nêu trên và khai: Sau khi sự việc xảy ra, các bị cáo đã nhiều lần đến gặp và xin lỗi bị hại. Bị hại đồng ý hòa giải và tha thứ cho các bị cáo. Ngoài ra bị cáo B khai: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Chiếc điện thoại Iphone XS bị thu giữ là của bị cáo B, bị cáo có sử dụng điện thoại này vào việc liên lạc với C1 để giúp B đánh bị hại. Các bị cáo ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét có đủ cơ sở kết luận: Do có mâu thuẫn từ trước, nên khoảng 20 giờ 45 phút ngày 12/5/2023, tại vỉa hè sát cửa nhà số C T, phường M, Quận N, Hải Phòng, Phạm Văn B đã có hành vi dùng 01 dao bằng kim loại, cán gỗ, dài khoảng 25 cm, bản rộng khoảng 07 cm chém vào mu bàn tay phải, vành tai phải của anh Phạm Hoàng A1. Đỗ Văn R dùng chân đạp một nhát, dùng tay đấm hai nhát vào người anh Hoàng A1. Nguyễn Chí Đ dùng tay đấm hai nhát vào đầu anh Hoàng A1. Hậu quả anh Hoàng A1 bị tổn thương cơ thể 19%. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền bất khả xâm phạm về sức khỏe của người khác, gây mất trật tự, trị an ở địa phương. Các bị cáo đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, có đủ căn cứ xác định các bị cáo đồng phạm tội Cố ý gây thương tích quy định tại Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
[3] Bị cáo B dùng 01 dao bằng kim loại, cán gỗ, dài khoảng 25 cm, bản rộng khoảng 07 cm để gây thương tích cho bị hại, được coi là “dùng hung khí nguy hiểm”. Vì vậy, các bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự).
- Về hình phạt:
[4] Xét về nhân thân: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt.
[5] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị hại có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo B tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại; bị cáo có thời gian tham gia quân đội từ tháng 3/2021 đến tháng 01/2023; ông nội của bị cáo được tặng Huân chương chiến công giải phóng hạng Nhì. Nên bị cáo B được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đ có thời gian tham gia quân đội từ tháng 3/2021 đến tháng 01/2023, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Xét vai trò thực hiện tội phạm của từng bị cáo: Các bị cáo không có sự bàn bạc, phân công, thống nhất thực hiện tội phạm từ trước, không có sự câu kết chặt chẽ, đồng phạm mang tính giản đơn. Bị cáo B là người dùng dao gây thương tích cho bị hại, thực hành tội phạm tích cực nhất. Các bị cáo R, Đ dùng tay, chân, đánh bị hại giữ vai trò thực hành thứ yếu. Trong đó bị cáo R giữ vai trò tích cực hơn bị cáo Đ.
[7] Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi, xét tội phạm mà các bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, cần xử lý nghiêm và áp dụng đối với các bị cáo một hình phạt thỏa đáng mới có tác dụng giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Theo khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự các bị cáo đều phải chịu hình phạt tù với mức từ 02 năm đến 06 năm. Từ nhận định [4], [5], [6], mặc dù bị cáo B có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hơn các bị cáo khác nhưng có vai trò chính trong vụ án nên cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo B cao nhất. Bị cáo R vai trò cao hơn bị cáo Đ, có ít tình tiết giảm nhẹ hơn bị cáo Đ nên hình phạt áp dụng đối với bị cáo R cao hơn bị cáo Đ.
[8] Xét các bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nơi cư trú rõ ràng. Các bị cáo và bị hại đã tự hòa giải được với nhau, bị hại đề nghị miễn trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Vì vậy, không cần bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho các bị cáo hưởng án treo và giao các bị cáo về cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục theo Điều 65 của Bộ luật Hình sự, cũng đảm bảo răn đe, cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo, không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
- Về trách nhiệm dân sự:
[9] Bị cáo B đã bồi thường cho bị hại số tiền 100.000.000 đồng. Bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản gì khác, nên Hội đồng xét xử không xét.
- Về xử lý vật chứng:
[10] Đối với điện thoại Iphone XS max thu giữ của bị cáo B: Theo biên bản kiểm tra điện thoại và lời khai của bị cáo B thì bị cáo có sử dụng điện thoại liên lạc với C1 để giúp Biển đánh bị hại, sử dụng vào việc phạm tội. Vì vậy, cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước chiếc điện thoại này, theo điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Về án phí:
[11] Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Những vấn đề khác:
[12] Đối với Đỗ Thành C1, xác định đã chết vào lúc 7 giờ 30 phút ngày 29/3/2023 tại Sông L, (tổ B, phường H, quận D, Hải Phòng) theo Trích lục khai tử số 41/TLKT-BS nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Phạm Văn B 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Văn B cho Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt các bị cáo:
+ Bị cáo Đỗ Văn R 27 (hai mươi bảy) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 54 (năm mươi tư) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Đỗ Văn R cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
+ Bị cáo Nguyễn Chí Đ 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 48 (bốn mươi tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Chí Đ cho Ủy ban nhân dân phường H, quận D, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc chấp hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Phạm Văn B, Đỗ Văn R và Nguyễn Chí Đ, kể từ ngày tuyên án (ngày 05/01/2024).
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone XS max màu vàng, bị vỡ ốp lưng phía sau, đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Mỗi bị cáo Phạm Văn B, Đỗ Văn R và Nguyễn Chí Đ đều phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Thủy |
Bản án số 03/2024/HSST ngày 05/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 03/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Biển cùng đồng bọn phạm tội Cố ý gây thương tích
