Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỸ ĐỨC – TP. HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS-ST

Ngày: 05-01-2024

V/v: Tranh chấp tiền phường họ.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

THÀNH PHẦN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ GỒM CÓ:

  • Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Hường.
  • Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Tiến Bộ,
  • ông Phan Mạnh Tưởng.
  • Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Duy Quang – Thẩm tra viên.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Quang Hòa – Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 57/2023/TLST-DS ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc Tranh chấp tiền phường họ, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2023/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số: 147/2023/QĐST-DS ngày 30 tháng 11 năm 2023, Thông báo về việc hoãn phiên tòa số 57/2023/TB-ĐSST ngày 14/12/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 157/2023/QĐST-DS ngày 22/12/2023, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: bà Phạm Thị T, sinh năm 1970.
  • Nơi cư trú: xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
  • Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là: bà Trương Thị N, sinh năm 1979. Địa chỉ: thôn G, xã P, huyện P, thành phố Hà Nội
  • Bị đơn:
  • + bà Phạm Thị T1, sinh năm 1974.
  • + ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1970.
  • + chị Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1995.
  • + chị Nguyễn Thị Mai L1, sinh năm 1997.
  • Đều cư trú: xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội.
  • Đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị T1 là ông Nguyễn Quốc T3, sinh năm 1968. Địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
  • Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị T1:

1

+ Ông Hoàng Thanh S – Luật sư – Văn phòng luật sư Hoàng Thanh S và cộng sự.

Địa chỉ: số F, ngách G C, quận B, thành phố Hà Nội.

Tại phiên tòa nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có mặt; các bị đơn, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bà Phạm Thị T1 vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, các lời khai tại Tòa án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Phạm Thị T trình bày:

Bà và bà Phạm Thị T1 có thoả thuận chơi phường họ với nhau, ngày 05/9/2017 bà có chơi với bà T1 01 dây phường. Tuy là chơi phường nhưng không có biên bản họp phường họ, bà không biết và không có danh sách thành viên chơi phường, không có thời gian mở bát họ, không có thỏa thuận ràng buộc giữa chủ phường và bà. Khi chơi phường thì bà T1 là người đứng cái chịu trách nhiệm thu và ký giao nhận tiền vào sổ của bà. Do không được họp, biểu quyết về cách thức chơi phường nên bà T1 thông báo cho bà mức thu và mức được hưởng phường. Về thời điểm đóng tiền phường, thời điểm lấy tiền phường và thoả thuận cắt lãi giữa bà và bà T1 được thoả thuận miệng, không có văn bản giấy tờ gì. Thực tế bà đã đóng được 7 tháng (đóng hết đến ngày 05/3/2018 âm lịch). Từ sau ngày 05/3/2018 bà không đóng tiền phường nữa vì bà T1 tuyên bố vỡ họ. Việc đóng tiền dây phường bà chơi với bà T1 cụ thể như sau:

  • - Ngày 5/9/2017 bà đóng 20 triệu đồng, chị T2 nhận.
  • - Ngày 5/10/2017 bà đóng 20 triệu đồng, ông L nhận.
  • - Ngày 05/11/2017 bà đóng 20 triệu đồng, bà T1 nhận..
  • - Ngày 05/12/2017 bà đóng 20 triệu đồng, chị T2 nhận.
  • - Ngày 05/01/2018 bà đóng 20 triệu đồng, bà T1 nhận.
  • - Ngày 05 2/2018 bà đóng 20 triệu đồng, bà T1 nhận.
  • - Ngày 05/3/2018 bà đóng 20 triệu đồng, bà T1 nhận.

Tổng số tiền bà đã đóng cho gia đình bà Tâm L2 là 140 triệu đồng. Những lần đóng tiền thì bà đến đóng trực tiếp tại nhà bà T1, trường hợp bà T1 không có nhà bà nộp tiền phường cho ông L2 – chồng bà T1 và chị T2 là con gái bà T1. Ông L2, bà T1, chị T2 đều ký nhận vào sổ của bà. Việc đóng tiền phường đều do một mình bà đi đóng trực tiếp không gửi qua ai. Lúc giao, nhận tiền chỉ có bà và bà T1 hoặc ông L2, chị T2 nếu nhận tiền của bà, không có ai chứng kiến.

Ngoài 01 dây phường trên bà không còn chơi với nhà T1 Lăng dây phường nào khác. Không cho gia đình nhà Tâm L2 vay nợ khoản vay nào. Số

2

tiền 140 triệu đồng bà đóng phường cho nhà T1, L2, T2 là tiền cá nhân của bà, không liên quan đến bất kỳ ai trong gia đình. Bà đề nghị Toà án không triệu tập chồng, các con của bà đến Toà án làm việc với bất kỳ tư cách nào. Quan điểm của bà yêu cầu gia đình nhà bà Tâm L2 phải trả đủ cho bà số tiền phường gốc 140.000.000 đồng, đối với tiền lãi suất của số tiền phường đã đóng bà không yêu cầu.

Đối với yêu cầu về việc đưa những người cùng tham gia chơi họ (bà T1 cho rằng họ cùng tham gia chơi với bà) với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và buộc những người này có trách nhiệm trả tiền chơi phường của bà, bà không đồng ý vì bà không biết những người này, bà chỉ biết chơi phường họ với bà T1, bà T1 là chủ phường và bà nộp tiền trực tiếp cho bà T1, ông L2 và chị T2. Bà không đồng ý với yêu cầu của bà T1 về việc chuyển giao thực hiện nghĩa vụ giữa bà T1 sang những người này theo ý kiến của bà T1.

Bà đề nghị Toà án cho bà rút yêu cầu khởi kiện với chị Nguyễn Thị Mai L1 do chị L1 không liên quan, không nhận tiền của bà.

Đại diện theo uỷ quyền của bà T trình bày: nhất trí với toàn bộ lời trình bày của nguyên đơn và đề nghị Toà án căn cứ lời khai trên giải quyết theo quy định của pháp luật.

Lời trình bày tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn là bà Phạm Thị T1 trình bày:

Bà Phạm Thị T1 xác nhận có việc chơi 01 dây phường họ với bà T, tổng số tiền phường bà T1 đã nhận của bà T là 140.000.000đ. Tuy nhiên số tiền bà đã nhận của bà T thì bà T1 đã thanh toán cho những người cùng chơi đến lượt lấy. Những người cùng chơi dây phường đã lấy nhưng không tiếp tục đóng cho bà nên bà không có tiền để trả cho bà T. Bà đề nghị Tòa án triệu tập những người cùng chơi dây phường với bà T tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan để họ phải có trách nhiệm nghĩa vụ đóng tiền phường họ cho bà T1 để bà T1 mới có trách nhiệm trả tiền cho bà T. Bà Tâm giao n cho Tòa án 01 Đơn yêu cầu đề ngày 19/10/2023 về việc triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia vụ án.

Tòa án đã tiến hành báo gọi theo Danh sách thành viên dây phường họ liên quan đến bà Phạm Thị T do bà T1 cung cấp cho Tòa án và tiến hành xác minh tại UBND xã H.

Tại Biên bản xác minh đề ngày 13/11/2023 UBND xã H cho biết: Sau khi nhận được Giấy báo của TAND huyện Mỹ Đức, UBND xã đã giao toàn bộ giấy báo cho các ông Trưởng thôn. Các Giấy báo có đầy đủ họ tên, tuổi, địa chỉ đều đã được Trưởng thôn giao lại trực tiếp theo như trong Giấy báo của Toà án. Tuy nhiên có một số giấy báo không rõ thông tin tên, tuổi, địa chỉ nên trưởng thôn không thể giao được vì không có ai nhận, cũng không biết ai để giao Giấy báo

3

đó. Ngoài ra thì có một số giấy báo có quen biết thân thích với Trưởng thôn nên mặc dù không rõ cụ thể tên tuổi địa chỉ của họ nhưng đã tống đạt trực tiếp theo yêu cầu của Tòa án.

Tại Biên bản lấy lời khai đề ngày 24/10/2023 bà Nguyễn Thị H trình bày: bà có chơi phường họ do bà Phạm Thị T1 là chủ phường, bà đã đóng tiền phường họ đầy đủ và đã được lấy tiền phường họ của bà T1. Bà không biết những người cùng chơi là ai, chỉ biết đóng tiền và nhận tiền trực tiếp từ bà T1, không được tham gia họp thoả thuận phường họ. Nay bà T1 đề nghị Toà án đưa bà vào tham gia tố tụng và yêu cầu bà phải có nghĩa vụ đối với những người cùng chơi. Quan điểm của bà là không chấp nhận yêu cầu của bà T1 vì giữa bà bà T1 không còn liên quan gì đến nhau nên bà đề nghị Toà án không triệu tập bà đến Toà án với bất kỳ tư cách nào.

Tại Biên bản lấy đề ngày 24/10/2023 (BL 167) bà Đỗ Thị T4 trình bày: bà có chơi phường họ với bà T1, bà không biết những người chơi cùng là ai, chỉ biết đóng và nhận tiền trực tiếp từ bà T1, không được tham gia họp thỏa thuận phường họ, lệ chơi do bà T1 đặt ra, đóng tiền trực tiếp cho bà T1. Bà chơi 01 công phường với bà T1, tổng số tiền bà đã đóng cho bà T1 là 67 triệu đồng, bà chưa được lấy tiền phường do bà T1 tuyên bố vỡ nợ. Nay bà T1 đề nghị Tòa án đưa bà vào tham gia tố tụng và yêu cầu bà phải có nghĩa vụ đối với những người cùng chơi. Quan điểm của bà là không chấp nhận yêu cầu của bà T1 vì bản thân bà T1 đang là người có nghĩa vụ thanh toán tiền phường họ cho bà nhưng không thực hiện. Bản thân bà cũng không biết những người cùng chơi phường nên bà không có nghĩa vụ với những người này. Đối với số tiền bà đã đóng tiền phường họ cho bà T1 thì bà sẽ khởi kiện yêu cầu bà T1 trả cho bà trong vụ án khác nên bà đề nghị Tòa án không triệu tập bà đến Tòa án làm việc với bất kỳ tư cách nào.

Tại Biên bản lấy đề ngày 24/10/2023 (BL 166) bà Hồ Thị T5 trình bày: bà có chơi phường họ với bà T1, bà không biết những người chơi cùng là ai, chỉ biết đóng và nhận tiền trực tiếp từ bà T1, không được tham gia họp thỏa thuận phường họ, lệ chơi do bà T1 đặt ra, đóng tiền trực tiếp cho bà T1. Bà chơi khoảng 4 đến 5 công phường với bà T1 là chủ phường. Về lệ chơi phường do bà T1 đặt ra, những lần đóng tiền thì đóng trực tiếp cho bà T1 (nếu bà T1 không có nhà thì bà đóng cho con gái bà T1 là chị L1, chị T2 hoặc chồng là ông L2) đều ký nhận vào sổ của bà. Sau đó bà T1 tuyên bố vỡ nợ nên không có khả năng thanh toán cho bà. Bà T1 có ký giấy chốt nợ tiền phường họ với bà là còn nợ lại bà 228 triệu đồng. Nay bà T1 đề nghị Tòa án đưa bà vào tham gia tố tụng và yêu cầu bà phải có nghĩa vụ đối với những người cùng chơi. Quan điểm của bà là không chấp nhận yêu cầu của bà T1 vì bản thân bà T1 đang là người có nghĩa vụ thanh toán tiền phường họ cho bà nhưng không thực hiện. Bản thân bà cũng không biết những người cùng chơi phường nên bà không có nghĩa vụ với những người này. Đối với số tiền bà đã đóng tiền phường họ cho bà T1 thì bà sẽ khởi

4

kiện yêu cầu bà T1 trả cho bà trong vụ án khác nên bà đề nghị Tòa án không triệu tập bà đến Tòa án làm việc với bất kỳ tư cách nào.

Ngày 20/7/2023 Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức có Công văn số 168/2023/CV-TA gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M về việc đề nghị cung cấp hồ sơ tài liệu.

Quá trình giải quyết vụ án Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M đã cung cấp các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình giải quyết đơn thư liên quan đến Đơn tố cáo của các công dân tại xã H đối với gia đình bà Phạm Thị T1.

Tại Kết luận giám định số 3520/KLGĐ-PC09-DD ngày 07/6/2019 của Phòng K - Công an thành phố H có nội dung:

....Là chữ do người có mẫu chữ viết đứng tên Phạm Thị T1 trên các mẫu so sánh (ký hiệu M1, M2) viết ra.

...là chữ do người có mẫu chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Thanh T2 trên các mẫu so sánh (ký hiệu M3, M4) viết ra).

... Không có đủ cơ sở kết luận 2 người có mẫu chữ viết đứng tên Nguyễn Thị Mai L1, Nguyễn Văn L trên các mẫu so sánh (ký hiệu từ M5 đến M7) có viết ra phần chữ viết trên các mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A68) hay không.

Tòa án đã kiên trì hòa giải nhưng không có kết quả do tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ông Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị Thanh T2 và chị Nguyễn Thị Mai L1 đều vắng mặt. Bà Phạm Thị T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình, không đồng ý với quan điểm của bị đơn đưa ra. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của mình. Các bị đơn, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn vắng mặt, không có ý kiến, quan điểm.

Ý kiến, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức về việc giải quyết vụ án:

Quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục pháp luật tố tụng dân sự; nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật có liên quan trong việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn mặc dù được Tòa án nhiều lần giao các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ nhưng đều vắng mặt, không đến làm việc, nên đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Căn cứ các điều 288, 357, 468 của Bộ luật dân sự năm 2015đề nghị Hội đồng xét xử, buộc bị đơn phải thanh toán tiền phường họ.

5

- Xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T. Buộc bà Phạm Thị T1, ông Nguyễn Văn L, chị Nguyễn Thị Thanh T2 phải thanh toán tiền phường họ cho bà T số tiền là 140.000.000đ. Chấp nhận rút một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi đối với số tiền phường đã đóng cho bị đơn.

- Chấp nhận yêu cầu của bà T về việc rút yêu cầu đối với chị Nguyễn Thị Mai L1.

- Về án phí: Bà T1, ông L, chị T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án dân sự Tranh chấp tiền phường họ. Bị đơn bà Phạm Thị T1, ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Thanh T2 đều đăng ký nhân khẩu thường trú và cư trú tại xóm A, thôn Đ, xã H, huyện M, thành phố Hà Nội. Căn cứ khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Mỹ Đức.

Tại phiên tòa, Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng cho bị đơn nhưng bà T1, ông L, chị T2, người đại diện theo ủy quyền và người bảo vệ quyền lợi ích đều vắng mặt đến lần thứ 2, không có lý do. Ngày 26/12/2023 Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức nhận được Đơn đề nghị hoãn phiên toà của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn với lý do: vụ án phát sinh thêm nhiều tình tiết, chứng cứ và lời khai mới của các đương sự, người có quyền lợi liên quan tham gia dây phường họ mà Tòa án thu thập, luật sư chưa kịp sao chụp những chứng cứ, tài liệu để nghiên cứu và định hướng bào chữa. Đối với yêu cầu này Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 03/10/2023 bà Phạm Thị T1 có Đơn yêu cầu sao chụp hồ sơ vụ án, ngay sau đó Toà án đã cho bà T1, ông S sao chụp toàn bộ hồ sơ vụ án. Từ thời điểm đó đến ngày mở phiên toà đã hơn 03 tháng, kể từ ngày sao chụp, thời gian đó rất dài đủ để bị đơn, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho bị đơn thực hiện việc nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị luận cứ bảo vệ. Mặt khác, phiên tòa hôm nay được mở lại sau 04 lần hoãn phiên tòa trước đó, để đảm bảo quyền, nghĩa vụ cho các đương sự trong vụ án theo quy định. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn, người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn là đúng quy định của pháp luật. Không có căn cứ chấp nhận đề nghị luật sư về việc hoãn phiên toà để có thời gian nghiên cứu hồ sơ.

Về nội dung:

6

[1] Về giao dịch phường họ được xác lập giữa bà Phạm Thị T và bà Phạm Thị T1: Theo quy định tại Điều 471 Bộ luật dân sự thì họ, hụi, biêu, phường là hình thức giao dịch về tài sản. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà T, bà T1 đều xác nhận có việc bà T chơi 01 dây phường với chủ cái là bà T1, nguyên đơn xuất trình các tài liệu gốc đã được trưng cầu giám định, có đủ căn cứ xác định 01 dây phường bà T chơi với bà T1 đều được xác lập vào ngày 05/9/2017 âm lịch, với mức đóng họ là 20.000.000đ/tháng và 10.000.000đ/tháng. Việc bà T, bà T1 xác lập, thực hiện giao dịch này trên cơ sở tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị T đối với bà Phạm Thị T1 về việc buộc bà T1, ông L và chị T2 phải trả cho bà số tiền phường gốc đã nộp là 140.000.000đ. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Phạm Thị T trình bày khi tham gia chơi phường với bà T1 thì chỉ giao dịch với bà T1; Chị T2 và ông L chỉ thu hộ tiền phường khi bà T1 không có nhà. Sau khi nhận tiền phường, chủ phường là bà T1 tuyên bố vỡ nợ, không thực hiện việc chi trả cho thành viên chơi phường. Nay nguyên đơn yêu cầu bà T1, ông L và chị T2 phải có nghĩa vụ liên đới trả cho bà số tiền phường đã đóng. Hội đồng xét xử thấy: để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện của mình nguyên đơn xuất trình tài liệu gốc là sổ ghi chép thể hiện từng lần đóng tiền, số tiền đã nộp của 01 dây phường nói trên cho gia đình bà T1 với số tiền đã đóng là 140.000.000đ. Các tài liệu này đã được trưng cầu giám định, tại Kết luận giám định số 3520/KLGĐ-PC09-DD ngày 07/6/2019 của Phòng K - Công an thành phố H đã xác định đúng chữ viết, chữ ký của người nhận tiền là bà T1 và chị T2 tương ứng trong từng lần nhận tiền của 01 dây phường nói trên. Đối với phần tiền ông L nhận ngày 5/10/2017 với số tiền 20triệu đồng. Quá trình giải quyết vụ án ông L không có ý kiến, quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Kết quả trưng cầu giám định kết luận do tài liệu mẫu so sánh không đủ để kết luận chữ ký, chữ viết của ông L. Xét thấy, việc gia đình bà T1 mở phường họ được diễn ra công khai, rộng rãi từ năm 2017 – 2018, việc bà T1 tổ chức các dây phường họ có lãi, có thu lời nhuận để phục vụ nhu cầu đời sống kinh tế. Ông L, chị T2 mặc dù không tham gia với tư cách là chủ phường nhưng biết rõ và có tham gia nhận tiền họ của những người chơi, Toà án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M, tại Biên bản ghi lời khai của ông Nguyễn Văn L đề ngày 03/01/2019; 31/12/2018; Bản tường trình đề ngày 31/12/2018 lời khai của ông L, chị T2 tại Cơ quan điều tra và tài liệu gốc là G nhận tiền. Hội đồng xét xử nhận thấy: tại sổ ghi chép thì thứ tự các lần ông L nhận tiền đều được ghi chép theo trình tự thời gian, việc ghi chép không có dấu hiệu tẩy, xóa, ghi chèn nên có đủ căn cứ xác định người nhận tiền tên L trong Giấy nhận tiền là ông Nguyễn Văn L. Cần buộc bà T1, ông L và chị T2 phải có

7

trách nhiệm liên đới đối với nghĩa vụ trả số tiền phường họ là 140.000.000đ cho bà T.

Theo qui định tại khoản 3, 4 Điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ qui định về họ, hụi, biêu, phường thì chủ họ có nghĩa vụ: giao các phần họ cho thành viên lĩnh họ tại mỗi kỳ mở họ và nộp thay phần họ của thành viên nếu đến kỳ mở họ mà có thành viên không góp phần họ, trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, bị đơn đều xác nhận không có thỏa thuận khác giữa chủ họ và các thành viên trong dây họ trong việc các thành viên này không thực hiện nghĩa vụ nộp tiền họ cho chủ họ nên bà T1 phải có trách nhiệm trả tiền phường họ cho các thành viên đến kỳ bốc họ. Xét 01 dây phường họ được xác lập ngày 05/9/2017 âm lịch bà T đã đóng và chưa đến kỳ lấy họ theo thỏa thuận nhưng do bà T1 là chủ phường bị vỡ nợ nên bà T không tiếp tục nộp tiền phường. Bà T1 là chủ họ không có quan điểm phản hồi khi bà Tình tự ý ngừng việc nộp phường theo thỏa thuận. Tính từ thời điểm chấm dứt việc nộp phường đến nay thì đã đến thời điểm lĩnh tiền phường họ của bà T đã lâu nhưng bà T1 không thanh toán cho bà T số tiền phường đã đóng. Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bà T1, ông L và chị T2 phải thanh toán cho bà T toàn bộ số tiền đã đóng của dây phường là 140.000.000đ là có căn cứ để chấp nhận.

Về số tiền lãi của 01 dây phường: Tại phiên hòa giải ngày 12/10/2023 và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Phạm Thị T đã rút yêu cầu tính lãi đối với 01 dây phường này. Việc rút yêu cầu của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, bị đơn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên tự thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; trường hợp các bên không có thỏa thuận thì bị đơn phải chịu mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả.

[3] Xét yêu cầu đưa những người cùng tham gia chơi phường vào tham gia tố tụng trong vụ án với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo yêu cầu của bị đơn và người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn: theo quy định tại khoản 2, 5 điều 18 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ qui định về họ, hụi, biêu, phường thì nghĩa vụ của chủ họ là: thông báo đầy đủ về số lượng dây họ; phần họ, kỳ mở họ; số lượng thành viên của từng dây họ mà mình đang làm chủ họ cho người muốn gia nhập dây họ và để các thành viên xem, sao chụp sổ họ và cung cấp các thông tin liên quan đến dây họ khi có yêu cầu. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày: tuy là chơi phường nhưng không có biên bản họp phường họ, bà không biết và không có danh sách thành viên chơi phường, không có thời gian mở bát họ, không có thỏa thuận ràng buộc giữa chủ phường và bà. Khi chơi phường thì bà T1 là người

8

đứng cái chịu trách nhiệm thu và ký giao nhận tiền vào sổ của bà. Bà T1 thông báo mức thu, lãi suất và mức được hưởng phường. Quá trình giải quyết vụ án bà T1 không chứng minh được việc đã thực hiện nghĩa vụ của chủ họ theo quy trình trên và xuất trình 01 Danh sách thành viên dây phường họ liên quan đến bà Phạm Thị T và không có tài liệu, chứng cứ nào chứng minh các thành viên trong danh sách có tham gia các dây phường cùng nguyên đơn. Để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật, Tòa án tiến hành báo gọi những người có tên trong danh sách do bà T1 xuất trình. Bà Đỗ Thị T4, bà Hồ Thị T5 và bà Nguyễn Thị H là bà trong số những người có tên trong danh sách của bà T1. Bà T4, bà T5 xác nhận có chơi phường họ với bà T1, các bà không biết những người chơi cùng là ai, chỉ biết đóng và nhận tiền trực tiếp từ bà T1, không được tham gia họp thỏa thuận phường họ, lệ chơi do bà T1 đặt ra, đóng tiền trực tiếp cho bà T1. Các bà chơi phường với bà T1 và chưa được lấy tiền phường do bà T1 tuyên bố vỡ nợ. Nay bà T1 đề nghị Tòa án đưa các bà vào tham gia tố tụng và yêu cầu các bà phải có nghĩa vụ đối với những người cùng chơi. Quan điểm của bà T4, bà T5 là không chấp nhận yêu cầu của bà T1 vì bản thân bà T1 đang là người có nghĩa vụ thanh toán tiền phường họ cho các bà nhưng không thực hiện. Bản thân các bà cũng không biết những người cùng chơi phường nên các bà không có nghĩa vụ với những người này. Đối với số tiền các bà đã đóng tiền phường họ cho bà T1 thì các bà sẽ khởi kiện yêu cầu bà T1 trả cho ông trong vụ án khác. Bà Nguyễn Thị H xác nhận có chơi phường họ với bà T1. Bà đã thực hiện nghĩa vụ đóng tiền phường họ đầy đủ và được lấy tiền phường từ bà T1. Giữa bà và bà T1 không còn vướng mắc gì, bà không biết những người cùng chơi phường do không được họp phường. Bà H, bà T4 và bà T5 đều đề nghị Toà án không triệu tập bà để làm việc với bất kỳ tư cách nào.

Đối với những người khác có tên trong danh sách, Tòa án đã thực hiện báo gọi và phối hợp UBND xã H, kết quả không tống đạt được cho những người này vì không có thông tin cụ thể.

Mặt khác, theo quy định tại Điều 370 Bộ luật dân sự về chuyển giao việc thực hiện nghĩa vụ quy định: “Bên có nghĩa vụ có thể chuyển giao nghĩa vụ cho người thế nghĩa vụ nếu được bên có quyền đồng ý”. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Phạm Thị T không đồng ý với yêu cầu này của bị đơn. Do vậy không chấp nhận yêu cầu của bị đơn và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn về việc đưa người cùng tham gia chơi các dây phường tham gia vụ án với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và chuyển giao nghĩa vụ theo yêu cầu của bà T1.

Bà T1 có quyền khởi kiện các thành viên tham gia chơi phường với bà đã nhận tiền họ nhưng vi phạm nghĩa vụ nộp tiền cho bà mà bà đã phải nộp thay trong vụ án khác khi có đủ điều kiện khởi kiện.

[4] Đối với yêu cầu rút yêu cầu khởi kiện đối với chị Nguyễn Thị Mai L1

9

của bà Phạm Thị T: Xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì chị L1 tham gia dây phường, không nhận tiền đóng họ của bà T, không liên quan gì trong vụ án nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.

[5] Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch trên số tiền phải trả cho nguyên đơn. Hoàn trả lại cho bà Phạm Thị T số tiền tạm ứng án phí đã nộp

[6] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 147; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng Điều 288; Điều 357; Điều 468; Điều 370 và Điều 471 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Áp dụng Điều 15; Điều 18 Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về hụi, biêu, phường;
  • - Áp dụng khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị T đối với bị đơn bà Phạm Thị T1, ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Thanh T2 về việc tranh chấp tiền phường họ.
  2. Buộc bị đơn bà Phạm Thị T1, ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Thanh T2 chịu trách nhiệm liên đới thanh toán cho bà Phạm Thị T số tiền phường được xác lập theo 01 dây phường ngày 05/9/2017 âm lịch là 140.000.000đ (một trăm bốn mươi triệu đồng).
  3. Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ, bị đơn tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn nợ chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên tự thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; trường hợp các bên không có thỏa thuận thì bị đơn phải chịu mức lãi suất qui định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự đối với số tiền chậm trả.
  4. Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn về việc đưa người tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án.
  5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  6. Bà Phạm Thị T1, ông Nguyễn Văn L và chị Nguyễn Thị Thanh T2 phải liên đới nộp 7.000.000 đồng. Hoàn trả cho bà Phạm Thị T số tiền 3.500.000đ đã

10

nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 39384 ngày 27/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỹ Đức.

  1. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Các bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
  2. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Hà Nội;
  • - VKSND huyện Mỹ Đức;
  • - Chi cục THADS huyện Mỹ Đức;
  • - UBND xã Hương Sơn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hường

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/DS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp tiền phường họ

  • Số bản án: 03/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp tiền phường họ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp tiền phường họ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger