Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

Bản án số: 03/2024/HSST

Ngày 05/01/2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

*Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Ngọc Hà.

*Các Hội thẩm nhân dân: - 1. Ông Nguyễn Tất Bẩy.

-2. Ông Mạc Vương Long.

* Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Chung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại điểm cầu Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và tại Điểm cầu Trại Tạm giam Công an tỉnh B. Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 149/2023/HSST ngày 21 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 157/2023/QĐXXST - HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giáp Văn L, T gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh năm 1995, tại huyện L, tỉnh Bắc Giang; Trú tại: Thôn D, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 01/12; Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Bố đẻ: Giáp Văn T1 (đã chết); Mẹ đẻ: Ngô Thị N, sinh năm 1956; Vợ: Phạm Thị H (đã ly hôn); Con: Có 01 (một) con, sinh năm 2023.

Tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 157 ngày 29/9/2023 của Công an huyện L đã xử phạt Giáp Văn L số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, tính đến ngày 13/10/2023 L chưa chấp hành xong.

Nhân thân:

Tại bản án số 07/2020/HS-ST ngày 12/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã xử phạt Giáp Văn L 14 (mười bốn) tháng tù, kể từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/10/2019 và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 06/12/2020 L đã chấp hành xong hình phạt tù; ngày 12/02/2020 L nộp xong án phí. Tính đến ngày phạm tội mới 13/10/2023, L đã được xóa án tích.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 14/10/2023, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại phiên tòa

- Bị hại: Lường Văn P, sinh năm 1976; Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã G, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Trần Văn T2, sinh năm 1992; Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

2. Trần Văn N1, sinh năm 1969; Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ ngày 13/10/2023, Giáp Văn L, sinh năm 1995, trú tại thôn D, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang đang đứng ở khu vực đèn xanh đèn đỏ ngã tư C, thuộc tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L thì gặp Trần Văn T2, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã T, huyện L, điều khiển A (một) xe mô tô dạng xe dream, màu sơn nâu, không có biển kiểm soát, có gắn giá để hàng, đi đến và đón L với mục đích cùng nhau đi trộm cắp tài sản để lấy tiền tiêu sài. Sau đó T2 điều khiển xe mô tô chở L đi theo quốc lộ C hướng đi huyện S. Khi đi dọc đường thì LT2 có nhặt được 02 (hai) chiếc bao tải rứa gồm 01 (một) bao màu xanh và 01 (một) bao màu nâu đỏ. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày thì T2 kèm L đi đến thôn N, xã G, huyện L để quan sát xem vườn cây ăn quả của gia đình nào không có người trông coi để trộm cắp tài sản. Sau đó L bảo T2 đi vào vườn của gia đình ông Lường Văn P1 để trộm cắp tài sản, thì T2 đồng ý. Sau đó LT2 cùng nhau đi xe mô tô vào thì cổng vườn làm bằng gỗ của gia đình ông P1 vẫn mở (cổng gỗ đã hỏng nên không đóng được) và đi sâu vào bên trong cách cổng khoảng 50m thì LT2 xuống xe, tắt máy và dựng xe dưới gốc một cây vải trong vườn. Sau đó L cầm theo 01 (một) chiếc bao rứa màu xanh, còn T2 cầm theo 01 (một) chiếc bao rứa màu nâu đỏ đi vào vườn bưởi da xanh của gia đình ông Phong c chỗ dựng xe mô tô khoảng 20m và cùng nhau vặt trộm quả bưởi, cho vào hai bao rứa trên. Khi vặt được hai bao đầy bưởi và ước nặng khoảng 60kg thì LT2 dừng lại không vặt nữa. Sau đó, LT2 cùng nhau bê số bưởi trên ra xe bằng 02 (hai) lần bê với mục đích mang đi bán lấy tiền tiêu sài. Khi bê 02 (hai) bao tải đựng bưởi nêu trên ra xe thì bị người dân phát hiện, bắt quả tang, đuổi bắt được T2, còn L chạy thoát. Thu giữ của T2 02 (hai) bao tải rứa chứa 49 (bốn mươi chín) quả bưởi da xanh có tổng trọng lượng là 62kg; 01 (một) chiếc xe mô tô dạng xe dream không mang biển kiểm soát. Cùng ngày ông Lường Văn P1 đã có đơn trình báo đến Công an xã G, huyện L đề nghị giải quyết vụ việc.

Cùng ngày 13/10/2023, L đã đến Công an xã G xin đầu thú và khai nhận về hành vi trộm cắp tài sản như đã nêu trên.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Công an xã G lập biên bản vụ việc, tiến hành cho Trần Văn T2, ông Lường Văn P1 kiểm đếm và cân xác định khối lượng bưởi bị trộm cắp là 62kg, gồm 49 (bốn mươi chín) quả bưởi, loại bưởi da xanh, đang trong kỳ thu hoạch. Sau đó bàn giao tang vật là số bưởi nêu trên cho ông Lường Văn P1 quản lý.

Ngày 14/10/2023 Công an xã G đã chuyển nguồn tin, đối tượng, cùng toàn bộ hồ sơ, tài liệu đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 14/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho T2L xác định hiện trường nơi xảy ra sự việc; Đồng thời tiến hành cho T2L thực nghiệm lại quá trình trộm cắp tài sản, lập bản ảnh, vẽ sơ đồ.

Ngày 16/10/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Yêu cầu định giá tài sản số 152 đối với số bưởi da xanh nêu trên. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 144 ngày 17/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L xác định: 49 (bốn chín) quả bưởi da xanh, có tổng trọng lượng là 62kg, đang trong giai đoạn thu hoạch có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.860.000 đồng.

Ngày 01/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Giáp Văn L xác định qua bản ảnh đối với 02 (hai) bao tải rứa và 01 (một) chiếc xe mô tô mà LT2 đã sử dụng trong quá trình trộm cắp tài sản, kết quả L xác định phù hợp với đồ vật đã thu giữ được.

Về nhân thân của Trần Văn T2Giáp Văn L: Ngày 08/02/2021 Trần Văn T2 bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội áp dụng biện pháp xử lý hành chính theo Quyết định số 29 đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 05/7/2022 T2 chấp hành xong. Giáp Văn L từng bị kết án về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 07/2020/HS-ST ngày 12/02/2020 của Tòa án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội đã xử phạt Giáp Văn L 14 (mười bốn) tháng tù, kể từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 06/10/2019 và phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 06/12/2020 L đã chấp hành xong hình phạt tù; ngày 12/02/2020 L nộp xong phần án phí. Tính đến ngày 13/10/2023, L đã được xóa án tích; 01 (một) tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 157 ngày 29/9/2023 của Công an huyện L đã xử phạt Giáp Văn L số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, tính đến ngày 13/10/2023 L chưa chấp hành xong.

Tại bản cáo trạng số: 07/CT- VKS – HS (LNg) ngày 20 tháng 12 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố bị cáo Giáp Văn L về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Giáp Văn L từ 7 đến 9 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/10/2023.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bao tơ rứa.

* Án phí: Áp dụng Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà bị cáo khai nhận đúng hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo không có ý kiến gì về kết luận định giá và thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi bị cáo đã thực hiện.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ căn cứ khẳng định khoảng 19 giờ ngày 13/10/2023 tại thôn N, xã G, huyện L, Giáp Văn L, sinh năm 1995, trú tại thôn D, xã V, huyện L, là người chưa được xóa tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” đã có hành vi trộm cắp 49 (bốn chín) quả bưởi da xanh, có tổng trọng lượng là 62kg, đang trong kỳ thu hoạch có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.860.000 đồng, của gia đình ông Lường Văn P1, sinh năm 1976. Hành vi của bị cáo Giáp Văn L đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho người dân trong quản lý tài sản nên phải lên một bản án nghiêm khắc để giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo đã từng bị xét xử về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng đến nay chưa chấp hành việc nộp tiền phạt.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa hôm nay, thấy rằng bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, sau khi phạm tội đã đến Công an huyện L đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Do bị cáo có nhân thân xấu về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị xử phạt hành chính về hành vi xâm phạm sở hữu, để đảm bảo tính răng đe giáo dục và phòng ngừa chung, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt tù có thời hạn cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian và cao hơn mức khởi điểm mới đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Đối với Trần Văn T2, quá trình điều tra, làm rõ, T2 khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của bản thân như diễn biến đã nêu trên. Tuy nhiên do giá trị tài sản chưa đủ định lượng, T2 chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự, nên hành vi của T2 chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Ngày 06/11/2023 Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt hành chính số 168/QĐ-XPHC đối với T2 số tiền 2.500.000 đồng, về hành vi “Trộm cắp tài sản” và không xem xét trách nhiệm hình sự đối với T2 là có căn cứ, đúng pháp luật. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lường Văn P1 đã nhận lại tài sản và không có đề nghị gì. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[8] Về vật chứng của vụ án: Ngày 04/12/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 161 trả lại cho ông Trần Văn N1, sinh năm 1969, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang chiếc 01 xe mô tô nhãn hiệu TEAM mầu nâu, biển kiểm soát 98H1 – 5559, 01 đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Thị L1. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.

Đối với số vật chứng còn lại: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: 02 (hai) bao tơ dứa ít giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

[9] Về án phí: Căn cứ Điều 135,136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các Điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự:

Xử phạt bị cáo Giáp Văn L 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 14/10/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bao tơ rứa.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Các điều 3; 21; 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án

Bị cáo Giáp Văn L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Các bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Công an huyện Lục Ngạn;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND Tỉnh Bắc Giang;
  • - THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Trại tạm Công an T. Bắc Giang;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người liên quan;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Lương Thị Ngọc Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/HSST ngày 05/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 03/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: khoảng 19 giờ ngày 13/10/2023 tại thôn Núi Lều, xã Giáp Sơn, huyện Lục Ngạn, Giáp Văn Lợi, sinh năm 1995, trú tại thôn Dăm, xã Vũ Xá, huyện Lục Nam, là người chưa được xóa tiền sự về hành vi “Trộm cắp tài sản” đã có hành vi trộm cắp 49 (bốn chín) quả bưởi da xanh, có tổng trọng lượng là 62kg, đang trong kỳ thu hoạch có trị giá tại thời điểm bị chiếm đoạt là 1.860.000 đồng, của gia đình ông Lường Văn Phong, sinh năm 1976
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger