|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2024/HNGĐ-ST Ngày: 04-01-2024 Về “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hồ Ngọc Tiếp.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Võ Duy Bảo; ông Mai Xuân Thường.
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Châu - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Trong ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại phòng xử án, Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 335/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 349/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Nguyễn Sỹ M, sinh 1989, vắng mặt (có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt).
- Bị đơn: chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1995, vắng mặt không có lý do.
Địa chỉ: thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Địa chỉ trước khi xuất cảnh: thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An.
Nơi ở hiện nay: nước ngoài (không có địa chỉ cụ thể).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai, lời trình bày, nguyên đơn - anh Nguyễn Sỹ M trình bày như sau:
Anh Nguyễn Sỹ M và chị Nguyễn Thị B kết hôn, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An ngày 18 tháng 6 năm 2014. Năm 2018, chị B đi lao động việc tại Nhật Bản và từ đó vợ chồng xẩy ra mâu thuẫn, hai bên đã chấm dứt quan hệ, không liên lạc với nhau. Do tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống, đoàn tụ, nên anh M đề nghị Tòa án cho anh được ly hôn chị B.
Về con chung: anh M, chị B có 01 người con chung là Nguyễn Sỹ Minh Q, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2015, hiện đang do anh M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, anh M yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị B cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: anh M không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về phía bị đơn: Tòa án đã thực hiện việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho thân nhân bị đơn - chị Nguyễn Thị B và niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật, nhưng chị Nguyễn Thị B đều vắng mặt, không có lý do.
Anh Nguyễn Sỹ M không cung cấp được địa chỉ nơi cứ trú, nơi làm việc hiện nay của chị Nguyễn Thị Bích . Tòa án đã tiến hành gửi văn bản yêu cầu thân nhân chị Nguyễn Thị B (anh Nguyễn Đình H, anh trai chị B; trú tại thôn A, xã Q, thị xã H tỉnh Nghệ An) cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn - chị Nguyễn Thị B; yêu cầu anh H thông báo cho chị B biết anh Nguyễn Sỹ M đang khởi kiện ly hôn chị B và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết và đề nghị chị B gửi lời khai, yêu cầu cho Tòa án. Anh Nguyễn Đình H cho biết thời gian ở nước ngoài, chị B thường xuyên liên lạc với anh H qua mạng xã hội, chị B đã biết anh Nguyễn Sỹ M đang khởi kiện ly hôn chị B và Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết, nhưng không cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện tại của chị B cũng như không có ý kiến gì về giải quyết vụ án trên. Hiện, không ai trong gia đình biết nơi chị B đang cư trú, làm việc và không nhận được văn bản gì của chị B về giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình nêu trên.
Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản thể hiện ý kiến của chị Nguyễn Thị B liên quan đến giải quyết vụ án trên cũng như không ai cung cấp thông tin về nơi cư trú, làm việc hiện tại của chị B.
Theo lời trình bày của cháu Nguyễn Sỹ Minh Q, thì cháu Q là con đẻ anh Nguyễn Sỹ M, chị Nguyễn Thị B, bố mẹ ly hôn thì cháu có nguyện ở với bố.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:
- - Về tố tụng: Tòa án đã thu thập chứng cứ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án đã thu thập chứng cứ và đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự, đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho anh Nguyễn Sỹ M được ly hôn chị Nguyễn Thị B; giao con chung là Nguyễn Sỹ Minh Q, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2015 cho anh Nguyễn Sỹ M trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho chị B, do anh M không yêu cầu. Về tài sản chung, nợ chung: do anh M chưa yêu cầu, nên không xem xét.
- - Về án phí: anh Nguyễn Sỹ M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí theo quy định của pháp luật.
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ, trên cơ sở xem xét đầy đủ các chứng cứ, ý kiến của các bên đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng
[1.1] Về thẩm quyền
Vụ án dân sự về "Tranh chấp về hôn nhân và gia đình", thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Nguyên đơn - anh Nguyễn Sỹ M và bị đơn - chị Nguyễn Thị B có hộ khẩu thường trú tại thôn A, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Chị Nguyễn Thị Bích h đang sinh sống và làm việc tại nước ngoài nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 1 Điều 40 và Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự
Anh Nguyễn Sỹ M đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh mạnh là đúng quy định pháp luật.
Đối với bị đơn - chị Nguyễn Thị B: Hội đồng xét xử thấy rằng:
Theo Công văn số 30585/QLXNC-P3 ngày 14/11/2023 của Cục Q1 - Bộ C thì chị Nguyễn Thị B xuất cảnh qua cửa khẩu N, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Anh Nguyễn Sỹ M không cung cấp được địa chỉ cụ thể của chị Nguyễn Thị B tại nước ngoài. Tòa án đã gửi văn bản đề nghị anh Nguyễn Đình H (anh trai chị Nguyễn Thị B), yêu cầu cung cấp địa chỉ, tin tức của bị đơn và thông báo cho chị B biết Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án dân sự về "tranh chấp hôn nhân và gia đình" theo đơn khởi kiện của anh Nguyễn Sỹ M, đề nghị chị B gửi lời khai cho Tòa án. Tuy nhiên, anh H không cung cấp được địa chỉ hiện nay của chị B, nhưng anh H đã thông tin và chị B đã biết rõ việc Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đang giải quyết vụ án trên mà chị B là bị đơn, nhưng chị B không có ý kiến gì.
Để có cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần yêu cầu anh Nguyễn Đình H cung cấp địa chỉ, tin tức của chị B cho Tòa án nhưng không có kết quả. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng tại Nhà văn hóa thôn 19 và tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, là địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị B trước khi xuất cảnh theo đúng quy định pháp luật. Việc chị B không cung cấp địa chỉ và không có ý kiến về vụ án thể hiện chị B cố tình dấu địa chỉ. Do đó, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2 Điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự và Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An bị đơn là hoàn toàn phù hợp, đúng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự và Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.
[2] Về nội dung
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
anh Nguyễn Sỹ M và chị Nguyễn Thị B kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 18/6/2014 tại Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An, nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh M chị B chung sống hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa anh M chị B xẩy ra, kể từ chị B đi xuất khẩu lao động (năm 2018), từ đó hai bên ít quan tâm đến nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày một phai nhạt, anh M khởi kiện yêu cầu ly hôn chị B. Xét thấy: tình trạng tình cảm giữa anh M và chị B đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho anh M được ly hôn chị B là phù hợp quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
anh Nguyễn Sỹ M và chị Nguyễn Thị B có 01 con chung là Nguyễn Sỹ Minh Q, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2015. Anh M đề nghị giao con chung cho anh trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; cháu Nguyễn Sỹ Minh Q có nguyện vọng được ở với bố sau khi bố mẹ ly hôn. Xét điều kiện hiện tại, cần chấp nhận đề nghị của nguyên đơn về việc giao quyền nuôi con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: do anh Nguyễn Sỹ M không yêu cầu nên miễn xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không được ai cản trở. Chị B có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung:
anh Nguyễn Sỹ M chưa yêu cầu và chị B cũng chưa có ý kiến, nên Hội đồng xét xử chưa có cơ sở để xem xét. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
[3] Về án phí sơ thẩm:
anh Nguyễn Sỹ M phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51; 53; 56; 58; 81; 82; 83; 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm b khoản 2 Điều 207; Điều 147; điểm a khoản 5 Điều 477 của Bộ luật tố dụng dân sự; điểm a khoản 5, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về quan hệ hôn nhân: anh Nguyễn Sỹ M được ly hôn chị Nguyễn Thị Bích.
- Về con chung:
- Giao con chung là Nguyễn Sỹ Minh Q, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2015 cho anh Nguyễn Sỹ M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng kể từ tháng 01/2024 đến khi con đủ 18 tuổi, trưởng thành.
- Về cấp dưỡng: anh Nguyễn Sỹ M chưa yêu cầu và chị Nguyễn Thị B cũng chưa có ý kiến gì, nên Hội đồng xét xử chưa xem xét.
Người không trực tiếp nuôi con chung có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con chung, các đương sự có quyền thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung, nợ chung: dành quyền khởi kiện cho các đương sự khi có yêu cầu.
- Về án phí: anh Nguyễn Sỹ M phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An theo Biên lai số 0004489 ngày 19/10/2023.
- Về quyền kháng cáo:
- Anh Nguyễn Sỹ M vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc kể từ ngày Bản án sơ thẩm được tống đạt hợp lệ.
- Chị Nguyễn Thị B đang cư trú tại nước ngoài, vắng mặt có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 (một) tháng kể từ ngày nhận được Bản án sơ thẩm hoặc Bản án sơ thẩm được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hồ Ngọc Tiếp |
Bản án số 03/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 03/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
