TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- + Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Long.
- + Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh.
- + Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Minh Long.
- Ông Nguyễn Hữu Anh.
- Bà Nguyễn Thị Thu Huyền.
- + Thư ký phiên tòa: Ông Phùng Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Ông Trương Quang Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 04/01/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 154/2023/TLST-HS ngày 24/11/2023 đối với bị cáo:
Trần Minh Đ - sinh năm 1975 tại Khánh Hòa. Thường trú: Thủy T, V, N, Khánh Hòa; Chỗ ở: P, N, N, Khánh Hòa; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; con ông Trần Văn T1 (chết) và bà Nguyễn Thị L (1940); tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/7/2023, có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Luật sư Vi Thị Minh P - Công ty L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K - bào chữa cho bị cáo theo yêu cầu của Tòa án. Luật sư P có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Phan Ngọc Q (chết ngày 25/5/2023).
Đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị T2 (1958); địa chỉ: Số C đường A, N, N, Khánh Hòa. Bà T2 có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Cháu Trương Quang V, sinh ngày 13/4/2007. Do ông Trương Nghiệp H (1976 - Cha ruột) làm giám hộ; địa chỉ: A V, V, N, Khánh Hòa. Cháu V vắng mặt, ông H có mặt tại phiên tòa.
- Cháu Trương Quang M, sinh ngày 22/4/2020. Do bà Nguyễn Thị T2 (1958 - bà ngoại ruột) làm giám hộ; địa chỉ: Tổ dân phố A, N, N, Khánh Hòa. Cháu M vắng mặt, bà T2 có mặt tại phiên tòa.
- Ông Phạm Ngọc H1 (1972); địa chỉ: M, N, N, Khánh Hòa. Ông H1 vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Nguyễn Thị L1 (1960); địa chỉ: B ấp T, T, H, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà L1 vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Trần Thị Lê T3 (1972); địa chỉ: Thủy T, V, N, Khánh Hòa. Bà T3 vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
- Chị Phạm Thị T4 (1989); địa chỉ: B L, P, N, Khánh Hòa. Chị T4 vắng mặt tại phiên tòa.
- Anh Lê Quang D (1989); địa chỉ: Tổ dân phố P, N, N, Khánh Hòa. Anh D vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Xuân H2 (1981); địa chỉ: Tổ dân phố P, N, N, Khánh Hòa. Ông H2 có mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Hữu H3 (1974); địa chỉ: Tổ dân phố A, N, N, Khánh Hòa. Ông H3 vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Nguyễn Thị Trung D1 (1976); địa chỉ: A L, N, N, Khánh Hòa. Bà D1 có mặt tại phiên tòa.
- Bà Nguyễn Bích H4 (1973), địa chỉ: Tổ dân phố C, N, N, Khánh Hòa. Bà H4 vắng mặt tại phiên tòa.
- Chị Phan Ngọc U (1988); địa chỉ: Tổ dân phố A, N, N, Khánh Hòa. Chị U vắng mặt tại phiên tòa.
- Bà Phan Thị T5 (1969); địa chỉ: N, N, Khánh Hòa. Bà Phan Thị T5 vắng mặt tại phiên tòa.
- Ông Lương Chí N (1982), nơi thường trú: Ấp D P, Đ, Đồng Nai; chỗ ở: Khu vực vườn xoài ACC, phường P, N, Khánh Hòa. Ông N vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Minh Đ và chị Phan Ngọc Q sống như vợ chồng tại căn nhà khung sắt, có mái và tường bằng tole ở khu vực rẫy của bà Nguyễn Thị T2 (mẹ ruột của Q) thuộc thôn N, N, N. Quá trình sống chung, giữa Đ và chị Q nảy sinh mâu thuẫn nên chị Q không cho Đ ở chung. Đêm ngày 24/5/2023, Đ và chị Q xảy ra cãi nhau, cho rằng bị chị Q xúc phạm và có mối quan hệ tình cảm với người khác nên Đ này sinh ý định giết chết chị Q.
Đến khoảng 11h00 ngày 25/5/2023, Đ điều khiển xe mô tô biển số 57-679.IB đến cửa hàng bán đồ nhựa của bà Nguyễn Thị Trung D1 mua 01 can nhựa màu trắng, dung tích 05 lít, rồi đi đến cây xăng P1 số 29, đường T, TDP A, N, N mua 05 lít xăng đổ đầy can nhựa. Sau đó, Đ đi đến cửa hàng tạp hóa của bà Nguyễn Bích H4 xin 01 túi nilong màu đen để đựng can xăng, rồi đi đến nhà chị Q. Khi đến nơi, Đ dựng xe mô tô trên đường bê tông trước nhà rồi cầm can xăng đi bộ vào thì thấy chị Q đang ngồi ở trong nhà một mình, cửa nhà khóa bên trong. Đ yêu cầu mở cửa nhưng chị Q không đồng ý, Đ đi ra sau nhà lấy 01 xô nhựa màu trắng rồi đi đến cửa sổ nhà chị Q (bên trái nhà theo hướng ngoài - trong), sau đó Đ đổ khoảng 4,5 lít xăng từ can vào xô rồi tạt xăng qua cửa sổ vào trong nhà. Sau đó, Đ đi ra sau nhà, thò tay qua cửa sổ lấy bình ga mini có gắn đầu khò tại khu vực bếp, mang sang cửa sổ bên trái nhà bật lên đốt nhưng không cháy nên Đ dùng quẹt ga mang theo bật lửa đốt. Khi lửa bùng cháy, chị Q kêu cứu thì Đ nảy sinh ý định tự tử nên đổ phần xăng còn lại lên người. Lúc này, ngọn lửa từ nhà cháy lan sang Đức, do bị nóng nên Đ cởi quần áo tự dập lửa rồi bỏ chạy. Sau khi dập lửa, chị Q được phát hiện đã tử vong còn Đ được đưa đi điều trị tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh K.
Kết luận giám định tử thi số 235-2023/KLGĐTT-KTHS ngày 13/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh K nguyên nhân chết của Phan Ngọc Q: Do bỏng nhiệt nặng và ngạt trong đám cháy.
Ngày 08/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K có Công văn yêu cầu định giá tài sản số 2001/YC-CSHS, đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Khánh Hòa định giá các tài sản bị thiệt hại trong vụ án nêu trên. Ngày 14/9/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Khánh Hòa có Công văn số 4054/HĐĐGTS từ chối định giá theo yêu cầu của cơ quan điều tra vì không đủ điều kiện để xác định giá trị tài sản.
Cáo trạng số 120/CT-VKSKH-P1 ngày 25/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Trần Minh Đ về tội “Giết người” quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trần Minh Đ. Sau khi phân tích các tình tiết về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về nhân thân của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Trần Minh Đ chung thân về tội “Giết người”; Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận về cấp dưỡng nuôi các cháu Trương Quang V, Trương Quang M đến khi đủ 18 tuổi; bà Nguyễn Thị T2 đề nghị tách các yêu cầu về bồi thường dân sự khác để giải quyết bằng vụ án khác nên chấp nhận không xem xét trong vụ án này. Về vật chứng, đề nghị tích thu tiêu hủy.
Luật sư Vi Thị Minh P tranh luận: Không tranh luận về tội danh và hành vi phạm tội của bị cáo. Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bản thân bị cáo lần đầu phạm tội, chưa có tiền án tiền sự nên mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án nhẹ để sớm có cơ hội quay về hòa nhập cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Các quyết định, hành vi của các Cơ quan và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng đều vắng mặt không có lý do, xét thấy hồ sơ đã có đủ lời khai và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 29, Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục xét xử vụ án theo quy định chung.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh Đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác được Cơ quan Cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Bị cáo Trần Minh Đ và bị hại chị Phan Ngọc Q chung sống như vợ chồng. Quá trình chung sống, giữa chị Q và bị cáo có xảy ra tranh cãi nên chị Q không đồng ý cho bị cáo sống cùng. Bị cáo bực tức và cho rằng chị Q có tình cảm với người khác nên vào khoảng 11h00 ngày 25/5/2023, tại nhà căn nhà bằng tole thuộc thôn N, xã N, thị xã N, Trần Minh Đ đã sử dụng 4,5 lít xăng đổ vào nhà rồi châm lửa đốt với mục đích giết chị Phan Ngọc Q đang ở bên trong. Hậu quả làm chị Q tử vong. Kết luận giám định tử thi số 235-2023/KLGĐTT-KTHS ngày 16/3/2023 của Phòng K Công an tỉnh K nguyên nhân chết của chị Phan Ngọc Q là do bỏng nhiệt nặng và ngạt trong đám cháy. Như vậy, Cáo trạng số 120/CT-VKSKH-P1 ngày 25/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Trần Minh Đ về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tính mạng của người khác trái pháp luật. Xét thấy, sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai báo, bản thân chưa có tiền án tiền sự nên cần áp dụng các tình tiết này để giảm cho bị cáo một phần hình phạt. Tuy nhiên, nhận thấy Hành vi của bị cáo đặc biệt thể hiện tính côn đồ, hung hãn và ý thức xem thường pháp luật. Đồng thời, hậu quả từ hành vi phạm tội của bị cáo đã tước đoạt tính mạng bị hại, gây đau thương bức xúc cho gia đình bị hại, gây tâm lý hoang mang và bất ổn cho tình hình an ninh của địa phương. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt nghiêm, áp dụng hình phạt tù không có thời hạn đối với bị cáo.
[4] Các nội dung khác:
- + Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
- Ông Trương Nghiệp H yêu cầu bị cáo phải cấp dưỡng nuôi cháu Trương Quang V (sinh ngày 13/4/2007) mỗi tháng là 1.500.000đ cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi. Bà Nguyễn Thị T2 yêu cầu bị cáo phải cấp dưỡng nuôi cháu Trương Quang M (sinh ngày 22/4/2020) mỗi tháng là 1.100.000đ cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi. Bị cáo đồng ý cấp dưỡng đúng theo các yêu cầu trên. Xét thấy đây là sự tự nguyện thỏa thuận giữa các bên nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
- Bà Nguyễn Thị T2 đề nghị Hội đồng xét xử tách yêu cầu về bồi thường dân sự, bồi thường tổn thất tinh thần để giải quyết bằng vụ án khác khi bà có yêu cầu. Xét yêu cầu của bà T2 phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
- + Vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô hiệu HONDA biển số 57-679.IB, xét thấy đây không phải là vật chứng của vụ án nên giao lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra xử lý theo quy định chung. Đối với các vật chứng còn lại, xét thấy không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với nghĩa vụ cấp dưỡng theo qui định chung.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Minh Đ.
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Xử phạt bị cáo Trần Minh Đ mức hình phạt chung thân về tội “Giết người”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/7/2023.
- Về trách nhiệm dân sự: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt nên tách ra giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.
- Áp dụng Điều 213; Điều 246 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo với người giám hộ cho người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Cụ thể:
- Bị cáo Trần Minh Đ cấp dưỡng hàng tháng với mức 1.500.000đ/tháng (một triệu năm trăm ngàn đồng/tháng) cho cháu Trương Quang V (sinh ngày 13/4/2007), thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01/6/2023 cho đến khi cháu V đủ 18 tuổi.
- Bị cáo Trần Minh Đ cấp dưỡng hàng tháng với mức 1.100.000đ/tháng (một triệu một trăm ngàn đồng/tháng) cho cháu Trương Quang M (sinh ngày 13/4/2007), thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 01/6/2023cho đến khi cháu M đủ 18 tuổi.
Quy định: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành số tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) Aptomat và một số sợi dây điện; 03 (ba) bộ phận camera, tình trạng biến dạng; 01 (một) bật lửa ga hoa văn nhiều màu; 01 (một) ổ khóa và bộ phận móc khóa; 01 (một) bình gas mini, tình trạng biến dạng một phần; 01 (một) chi tiết kim loại đầu của đầu khò bình gas mini; 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nikia màu đen; 01 (một) mũ bảo hiểm màu đen.
- - Giao lại cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K 01 (một) xe máy hiệu Honda biển số 57-679.IB để xử lý theo quy định chung.
Các vật chứng nêu trên đều theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 18/12/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.
- Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Bị cáo; đại diện hợp pháp của bị hại; người giám hộ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết; để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Tuấn Long |
Bản án số 154/2023/TLST-HS ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về vụ án hình sự - giết người
- Số bản án: 154/2023/TLST-HS
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự - Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần minh đ - giết người
