Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2024/DS-ST

Ngày: 04/01/2024.

“V/v Quyền sử dụng đất; Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất; Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Nhân.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thùy Trang.

2. Ông Lê Anh Việt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thụy Thùy Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Trần Cao Lâm - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 07/12/2023 và 04/01/2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số: 42/2023/TLST-DS ngày 15/3/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp; Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại; Quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 210/2023/QĐXXST-DS ngày 25/10/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số: 126/2023/QĐST-DS ngày 13/11/2023; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 78/2023/QĐST-DS ngày 07/12/2023; Thông báo mở lại phiên số 1006/TB-MPT ngày 25/12/2023 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H (H6)

Địa chỉ: số B B, N, phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Phạm Quốc T – Tổng giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Phạm Thiện H – Giám đốc chi nhánh Đ.

Đại diện theo ủy quyền lại: Lương Hoàng H1 – Chuyên viên QHKHCN – P1 (có mặt).

Địa chỉ: số A, đường H, phường B, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; Điện thoại: 0911.946.xxx

- Bị đơn: Huỳnh Văn H2, sinh năm 1965 (chết).

Người kế thừa của ông H2: Huỳnh Văn H3, sinh năm 1992 (có mặt).

Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; Điện thoại: 0396.110.xxx.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Huỳnh Thị L, sinh năm 1956 (có mặt).
  2. Đào Minh S, sinh năm 1981 (có mặt).
  3. Huỳnh Văn M, sinh năm 1968 (có mặt).
  4. Nguyễn Thị H4, sinh năm 1973 (có mặt).
  5. Huỳnh Thanh L1, sinh năm 1996 (ủy quyền cho Huỳnh Văn M theo giấy ủy quyền ngày 11/07/2023).
  6. Nguyễn Thị Ngọc H5, sinh năm 1997 (ủy quyền cho Huỳnh Văn M theo giấy ủy quyền ngày 11/07/2023).
  7. Huỳnh Thị Thảo V, sinh năm 2015.
  8. Huỳnh Gia P, sinh năm 2020.

(Đại diện theo pháp luật của Huỳnh Thị Thảo V, Huỳnh Gia P là anh Huỳnh Thanh L1 và chị Nguyễn Thị Ngọc H5)

  1. Trần Văn T1, sinh năm 1989 (vắng mặt).

Cùng địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản khi lời khai và tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H (H6) là anh Lương Hoàng H1 trình bày:

Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H (H6) (gọi tắt là: Ngân hàng) cho ông Huỳnh Văn H2 vay số tiền 400.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 64/21PGDSADEC/HĐTD ngày 12/03/2021, thời hạn vay là 12 tháng, để đảm bảo khoản vay ông H2 thế chấp cho Ngân hàng thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 và thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46. Hết thời hạn vay theo hợp đồng tín dụng đã lý kết ông H2 không trả số tiền vốn vay, cũng không trả lãi nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H2 trả tiền vốn vay và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết, ông H2 đã chết ngày 29/3/2021 người thừa kế duy nhất của ông H2 là anh Huỳnh Văn H3.

Ngân hàng yêu cầu anh H3 thực hiện nghĩa vụ tài sản của ông H2 để lại trong phạm vi di sản của ông H2 là trả số tiền vốn vay và lãi là 502.623.966 đồng (trong đó vốn vay là 400.000.000 đồng, lãi là 102.623.966 đồng, lãi tạm tính đến ngày 22/02/2023) và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 23/02/2023 theo hợp đồng tín dụng 64/21PGDSADEC/HĐTD ngày 12/03/2021 cho đến khi trả xong nợ.

Trường hợp, anh H3 không trả nợ vay và lãi Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 và một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46 của ông Huỳnh Văn H2 theo hợp đồng thế chấp số 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021 để thu hồi nợ.

Ngân hàng đồng ý hủy một phần hợp đồng thế chấp 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021 đối với diện tích 152,7m² thể hiện qua các mốc 3, 4, 5, 25, 6, 7, 8, 24, 23, 22, 21, 3 thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 và diện tích 274,8m² thể hiện qua các mốc 8, 9, 14, 15, 8 thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46.

Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của bị đơn ông Huỳnh Văn H2 là anh Huỳnh Văn H3 trình bày:

Anh H3 là người thừa kế duy nhất của ông H2, anh H3 thừa nhận khi còn sống ông H2 có vay tiền và ký hợp đồng thế chấp đúng như Ngân hàng trình bày. Tài sản của ông H2 để lại là thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 và thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46, nhà của ông H2 trên thửa đất số 21 (giá trị nhà ông H2 theo định giá là: 376.033.720 đồng) ngoài ra không còn tài sản nào khác.

Thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 ông H2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thực tế thửa đất này có phần đất bà N cho ông M và phần đất bà N cho bà L. Ông M, bà L đã xây dựng nhà từ rất lâu cụ thể ông M (em ông H2) xây dựng nhà trên diện tích 190,9m² theo các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1 và bà L (chị ông H2) xây dựng nhà diện tích 377,6m² theo các mốc 17, 18, 20, 21, 22, 17 trên sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Trên diện tích 759m² thể hiện qua các mốc 15, 16, 17, 22, 23, 24, 15 thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50. Trên diện tích 274,8m² thể hiện qua các mốc 8, 9, 14, 15, 8 và 106,9m² thể hiện qua các mốc 10, 11, 12, 13, 10 thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46 có các ngôi mộ trên đất.

Anh Huỳnh Văn H3 là người kế thừa của ông H2 đồng ý trả tiền vốn vay và lãi cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng số 64/21PGDSADEC/HĐTD ngày 12/03/2021 trong phạm vi di sản ông H2 để lại.

Tuy nhiên, anh H3 yêu cầu Ngân hàng để lại diện tích 274,8m² thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46 và lối đi vào khu mộ có diện tích 152,7m² thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 để anh H3 quy tập các ngôi mộ và làm lối đi. Anh H3 đồng ý để diện tích 152,7m² thể hiện qua các mốc 3, 4, 5, 25, 6, 7, 8, 24, 23, 22, 21, 3 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 làm lối đi chung.

Anh H3 đồng ý tách diện tích 190,9m² theo các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1 thuộc một phần thửa số 21, tờ bản đồ số 50 cho ông M đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Anh H3 đồng ý cho bà L diện tích 377,6m² theo các mốc 17, 18, 20, 21, 22, 17 thuộc một phần thửa số 21, tờ bản đồ số 50 bà L đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, anh H3 không yêu cầu ông M, bà L trả giá trị đất, do phần đất này bà N (mẹ ông H2) đã cho ông M, bà L.

Hai ngôi mộ trên diện tích 106,9m² thuộc một phần thửa 553, tờ bản đồ số 50 và 01 ngôi mộ trên diện tích 759m² thể hiện qua các mốc 15, 16, 17, 22, 23, 24, 15 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 anh H3 tự di dời để giao đất cho Ngân hàng phát mãi thu hồi nợ.

Theo đơn yêu cầu độc lập, lời khai và tại phiên tòa những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trình bày:

  1. Bà Huỳnh Thị L trình bày:

Năm 1983 bà L lập gia đình bà N (mẹ bà L) cho một phần đất diện tích khoảng 290m² (đo thực tế diện tích 377,6m² thể hiện qua các mốc 17, 18, 20, 21, 22, 17) để bà L xây dựng nhà và diện tích 99,5m² sau nhà bà L thể hiện qua các mốc 16, 17, 22, 23, 16 (phần đất trống) đất thuộc một phần thửa số 21, tờ bản đồ số 50, nhưng bà L đã ký hợp đồng tặng cho ông H2. Hiện nay, ông H2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Theo đơn khởi kiện bà L yêu cầu được đứng tên diện tích 377,6m² và diện tích 99,5m² đất thuộc một phần thửa số 21, tờ bản đồ số 50. Nay bà L thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà L chỉ yêu cầu được đứng tên diện tích 377,6m². Đối với diện tích 99,5m² bà L rút lại không yêu cầu, đồng ý để anh H3 giao cho Ngân hàng xử lý nếu anh H3 không trả được nợ.

Hiện nay nhà của bà L trên diện tích 377,6m² có bà Huỳnh Thị L, anh Đào Minh Sang sinh sống ngoài ra không còn ai khác. Việc ông H2 thế chấp cho Ngân hàng thửa đất số 21, 553 bà Huỳnh Thị L không biết, không thấy Ngân hàng thẩm định tài sản trên thửa đất.

L yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp số 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021 giữa Ngân hàng và ông H2 đối với diện tích 377,6m²; Yêu cầu được quyền đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 377,6m² thể hiện qua các mốc 17, 18, 20, 21, 22, 17 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50.

Yêu cầu được đi chung trên lối đi 152,7m² thể hiện qua các mốc 3, 4, 5, 25, 6, 7, 8, 24, 23, 22, 21, 3 của anh H3, trường hợp không chấp nhận lối đi chung khi nào có tranh chấp lối đi bà L sẽ khởi kiện thành vụ kiện khác.

  1. Anh Đào Minh S1 trình bày:

Anh Đào Minh S1 thống nhất theo ý kiến của mẹ anh bà Huỳnh Thị L và không có ý kiến trình bày gì thêm.

  1. Ông Huỳnh Văn M trình bày:

Năm 1993 ông M lập gia đình bà N (mẹ ông M) có cho một phần đất diện tích khoảng 183m² thuộc một phần thửa đất số 21 (đo thực tế diện tích 190,9m² thể hiện qua các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1) và 500m² thuộc thửa đất số 553, tờ bản đồ số 21, nhưng ông M đã ký hợp đồng tặng cho ông H2. Hiện nay, hai thửa đất số 21, 553 ông H2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Trên diện tích 190,9m² là nhà của ông M có những người sau đây đang sinh sống gồm: Ông Huỳnh Văn M, Nguyễn Thị H4, Huỳnh Thanh L1,Nguyễn Thị Ngọc H5, Huỳnh Thị Thảo V, Huỳnh Gia P ngoài ra không còn ai khác. Việc ông H4 thế chấp hai thửa đất số 21, 553 cho Ngân hàng ông M không biết, không thấy Ngân hàng thẩm định tài sản trên đất.

Theo đơn khởi ông M yêu cầu 190,9m² thể hiện qua các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1 thuộc một phần thửa 21 và 500m² thuộc một phần thửa 553. Nay ông M xác định rút lại yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu chia 500m² thửa 553 đồng ý để diện tích này cho anh H3 để anh H3 giao Ngân hàng phát mãi thu hồi nợ.

Ông M yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông H4 đối với diện tích 190,9m²; Yêu cầu được quyền đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 190,9m² thể hiện qua các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50.

  1. Bà Nguyễn Thị H4 thống nhất với ông Huỳnh Văn M không có ý kiến trình bày gì thêm.
  1. Anh Trần Văn T1 vắng mặt có đơn vắng mặt đồng thời có ý kiến trình bày ngày 26/12/2023 như sau:

Anh T2 không tranh chấp gì trong vụ án, chuồng gà (có giá trị theo định giá là 22.821.750 đồng) của anh T2 trên thửa đất số 21 anh T2 tự nguyện di dời, không yêu cầu trả giá trị.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp phát biểu ý kiến:

  1. Về thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Trần Văn T1 không chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, xét xử theo hướng

2.1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H về việc yêu cầu anh Huỳnh Văn H3 phải trả số tiền vốn vay và lãi theo hợp đồng tín dụng số 64/21PGDSADEC/HĐTD ngày 12/03/2021.

Buộc anh Huỳnh Văn H3 phải trả cho Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H số tiền vốn vay và lãi là 502.623.966 đồng (trong đó vốn vay là 400.000.000 đồng, lãi là 102.623.966 đồng, lãi tạm tính đến ngày 22/02/2023) và tiếp tục tính lãi từ ngày 23/02/2023 theo hợp đồng tín dụng 64/21PGDSADEC/HĐTD ngày 12/03/2021 cho đến khi trả xong nợ.

Anh Huỳnh Văn H3 thực hiện trả tiền vốn vay và lãi cho Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H theo hợp đồng tín dụng 64/21PGDSADEC/HĐTD ngày 12/03/2021 trong phạm vi di sản của ông Huỳnh Văn H2 để lại.

2.2. Chấp nhận một phần yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng số 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021.

- Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H về việc đồng ý hủy một phần hợp đồng thế chấp số 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021 đối với diện tích 274,8m² theo các mốc 8, 9, 14, 15, 8 thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46 và diện tích 152,7m² thể hiện qua các mốc 3, 4, 5, 25, 6, 7, 8, 24, 23, 22, 21, 3 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

- Ngân hàng được quyền phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021.

+ Ngân hàng được quyền phát mãi điện tích 177m² (trong đó có 42m² thuộc hành lang bảo vệ an toàn công trình đường bộ) thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 thể hiện qua các mốc 2, 3, 21, 20, 2 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C và tài sản trên đất là căn nhà (có giá trị theo định giá là: 376.033.720 đồng) của ông Huỳnh Văn H2 trên đất.

+ Ngân hàng được quyền phát mãi diện tích 759m² thể hiện qua các mốc 15, 16, 17, 22, 23, 24, 15 thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

+ Ngân hàng được quyền phát mãi diện tích 2.370,9m² thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46 thể hiện qua các mốc 9, 10, 11, 12, 13, 14, 9 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

2.3. Ngân hàng được quyền phát mãi diện tích 190,9m² thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 thể hiện qua các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Ông Huỳnh Văn M được quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) diện tích 190,9m² thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 thể hiện qua các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

2.4. Ngân hàng được quyền phát mãi diện tích 377,6m² thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 thể hiện qua các mốc 17, 18, 20, 21, 22, 17 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Huỳnh Thị L được quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) diện tích 377,6m² thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 thể hiện qua các mốc 17, 18, 20, 21, 22, 17 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

2.5. Anh Huỳnh Văn H3 phải di dời các ngôi mộ trên diện tích 106,9m² thể hiện qua các mốc 10, 11, 12, 13, 10 thuộc một phần thửa 553, tờ bản đồ 46 và diện tích 759m² thể hiện qua các mốc 15, 16, 17, 22, 23, 24, 15 thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

2.6. Anh Trần Văn T1 phải di dời chuồng gà trên diện tích 759m² thể hiện qua các mốc 15, 16, 17, 22, 23, 24, 15 thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

2.7. Anh Huỳnh Văn H3 được quyền quản lý sữ dụng diện tích 274,8m² theo các mốc 8, 9, 14, 15, 8 thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46 và diện tích 152,7m² theo các mốc 3, 4, 5, 25, 6, 7, 8, 24, 23, 22, 21, 3 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 thể hiện trên sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Anh Huỳnh Văn H3 được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký, kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

2.8. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Huỳnh Văn H3 để diện tích 152,7m² thể hiện qua các mốc 3, 4, 5, 25, 6, 7, 8, 24, 23, 22, 21, 3 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 theo trên sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C làm lối đi chung.

2.9. Không chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn M về yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp và được quyền quản lý sử dụng diện tích 190,9m² thể hiện qua các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 theo trên sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C làm lối đi chung.

2.10. Không chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị L về yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp và được quyền quản lý sử dụng đối diện tích 377,6m² thể hiện qua các mốc 17, 18, 20, 21, 22, 17 thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

2.11. Đình chỉ yêu cầu chia diện tích 500m² thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ đồ số 50 của ông Huỳnh Văn M

2.12. Đình chỉ yêu cầu chia diện tích 99,5m² thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 của bà Huỳnh Thị L.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Ngân hàng yêu cầu anh H3 thực hiện nghĩa vụ của ông H2 trong phạm vi tài sản của ông H2 để lại, là trả số tiền vốn vay và lãi là 502.623.966 đồng và yêu cầu tiếp tục tính lãi cho đến khi trả xong theo hợp đồng tín dụng. Yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là một phần thửa đất số 21, 553. Ông M yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông H2 và yêu cầu được quyền quản lý sử dụng đối với diện tích 190,9m². Bà L yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng và ông H2 và được quyền quản lý sử dụng đối với diện tích 377,6m². Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Các Điều 463, 466, 614, 615 Bộ luật Dân sự; Các Điều 100, 166, 167 Luật Đất đai; Các Điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử xác định đây là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp; Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại; Quyền sử dụng đất” và vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.

[2] Về việc xét xử vắng mặt: Anh Trần Văn T1 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do ngày 26/12/2023 anh T1 có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đương sự trên là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Về hàng thừa kế của ông H2: Khi Tòa án thụ lý vụ án ông Huỳnh Văn H2 đã chết ngày 29/3/2021 theo trích lục khai tử ngày 29/6/2023 và tờ khai hàng thừa kế ngày 25/7/2022 có xác nhận của UBND xã P do anh H3 nộp ngày 29/6/2023 thì anh H3 là người thừa kế duy nhất của ông H2. Căn cứ vào Điều 651 Bộ luật Dân sự Hội đồng xét xử xác định anh H3 là người thừa kế của ông H2.

[4] Xét di sản của ông Huỳnh Văn H2 để lại: Ông H2 chết không để lại di chúc, khi còn sống ông H2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 21, tờ bản đồ số 50 và thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46 việc ông H2 đứng tên là nhận tặng cho từ mẹ bà Phan Thị N1, ông Huỳnh Văn M, bà Huỳnh Thị L vào ngày 07/11/2013.

Tuy nhiên, trên thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 ngoài căn nhà của ông H2 còn nhà của ông M, nhà của bà L. Thửa 553, tờ bản đồ số 46 có 02 khu mộ gia đình, dòng họ của ông H2. Anh H3, ông M, bà L đều trình bày phần đất ông M đang quản lý sử dụng diện tích 190,9m² thể hiện qua các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 và phần đất do bà L quản lý sử dụng đất diện tích 377,6m² thể hiện qua các mốc 17, 18, 20, 21, 22, 17 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 là của bà N1 cho bà Liên từ 1983 và ông M từ năm 1993 nhưng không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh.

Theo hợp đồng tặng cho ngày 07/11/2013 thì toàn bộ thửa đất số 21, 553 được bà N1 tặng cho ông H2 và ông M, bà L cùng ký tên tặng cho ông H2. Ông H2 đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/01/2014. Căn cứ vào các Điều 612 Bộ luật Dân sự xác định di sản của ông H2 là căn nhà của ông H2 trên thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 và toàn bộ 02 thửa đất số 21 và 553 là phù hợp với quy định của pháp luật.

[5] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

[5.1] Ngân hàng yêu cầu anh H3 thực hiện nghĩa vụ do ông H2 chết để lại là trả số tiền vốn vay và lãi theo hợp đồng tín dụng đã ký kết với số tiền là 502.623.966 đồng (trong đó vốn vay là 400.000.000 đồng, lãi là 102.623.966 đồng, lãi tạm tính đến ngày 22/02/2023) và yêu cầu tiếp tục tính lãi từ ngày 23/02/2023 theo hợp đồng tín dụng số 64/21PGDSADEC/HĐTD ngày 12/03/2021 cho đến khi trả xong nợ trong phạm vi di sản của ông H2 để lại. Hội đồng xét xử xét thấy anh H3 thừa nhận ông H2 có ký hợp đồng tín dụng và đồng ý trả nợ trong phạm vi di sản của ông H2 là phù hợp nên chấp nhận.

[5.2] Xét hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021 để thu hồi nợ. Hội đồng xét xử xét thấy ông Huỳnh Văn H2 đã được đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 07/01/2014 khi ký hợp đồng thế chấp được Công chứng tại Phòng C và đã thực hiện đăng ký thế chấp vào ngày 12/3/2021 căn cứ Điều 318, 319 Bộ luật Dân sự, Hợp đồng thế chấp 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021 có hiệu lực pháp luật

[5.3] Ngân hàng đồng ý hủy một phần hợp đồng thế chấp 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021 đối với diện tích 152,7m² thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 và diện tích 274,8m² thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46. Hội đồng xét xử xét thấy ông H2 không trả số tiền vốn vay, không trả lãi không thông báo tình trạng tài sản thế chấp cho Ngân hàng là vi phạm nghĩa vụ do đó Ngân hàng là bên có quyền. Trong vụ án này, Ngân hàng cũng có lỗi trong việc thẩm định tài sản thế chấp nên đồng ý hủy một phần hợp đồng thế chấp đối với diện tích 152,7m² thuộc một phần thửa đất số 21 và diện tích 274,8m² thuộc một phần thửa đất số 553. Căn cứ vào Điều 423 Bộ luật Dân sự ý kiến của Ngân hàng là có cơ sở nên ghi nhận sự tự nguyện này.

[5.4] Đối với diện tích 377,6m² thể hiện qua các mốc 17, 18, 20, 21, 22, 17 bà L xây dựng nhà và diện tích 190,9m² thể hiện qua các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1 thuộc một phần thửa 21 ông M xây dựng nhà. Hội đồng xét xử xét thấy quá trình thế chấp Ngân hàng có thẩm định nhưng trong Báo cáo thẩm định ngày 04/3/2021 chỉ thể hiện nhà ông H2, không thể hiện nhà ông M, bà L, tài sản của anh T1 trên thửa số 21, không thể hiện các ngôi mộ trên đất. Đồng thời, ông M, bà L trình bày không thấy Ngân hàng thẩm định tài sản thế chấp, anh H3 trình bày phần đất ông M, bà L đang quản lý sử dụng là của ông M, bà L. Bà L đã xây dựng từ năm 1983, ông M đã xây dựng nhà từ năm 1993 và sử dụng ổn định cho đến nay. Như đã lập luận tại mục [4] và mục [5.2] thì 02 phần đất này đã được ông M, bà L tặng cho ông H2. Căn cứ Điều 325 Bộ luật Dân sự Ngân hàng được quyền phát mãi 02 diện tích đất này là phù hợp, tuy nhiên do trên đất có nhà của ông M, bà L nên cần phải dành quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) diện tích 190,9m² cho ông M và quyền ưu tiên mua (nhận chuyển nhượng) 377,6m² cho bà L.

[6] Xét yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu được quyền quản lý sử dụng đất của ông M bà L.

[6.1] Ông M yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp số 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021 và được quyền quản lý sử dụng và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 190,9m². Hội đồng xét xử xét thấy anh H3, ông M đều thừa nhận bà N1 tặng cho diện tích 190,9m² cho ông M có làm giấy tay và ông M đã xây dựng nhà. Tuy nhiên sau đó ông M đã tặng cho ông H2 theo hợp đồng tặng cho ngày 07/11/2013 nên phần đất này là của ông H2, không phải của ông M nên ông M yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp và được quyền quản lý sử dụng và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 190,9m² là không có cơ sở để chấp nhận.

[6.2]L yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp số 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021 và được quyền quản lý sử dụng và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 377,6m². Hội đồng xét xử xét thấy anh H3, bà L đều thừa nhận bà N1 tặng cho diện tích 377,6m² cho bà L có làm giấy tay và bà L đã xây dựng nhà. Tuy nhiên sau đó bà L đã tặng cho ông H2 theo hợp đồng tặng cho ngày 07/11/2013 nên phần đất này là của ông H2 không phải của bà L nên bà L yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp và được quyền quản lý sử dụng và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 377,6m² là không có cơ sở để chấp nhận

[7] Đối với diện 500m² thuộc một phần thửa 553 theo đơn khởi kiện ông M yêu cầu chia, yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp đối với diện tích này; Bà L yêu cầu chia và vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp diện tích 99,5m² thuộc một phần thửa đất số 21. Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông M, bà L đã rút lại yêu cầu này, không tranh chấp đồng ý giao cho anh H3 để giao cho Ngân hàng phát mãi. Căn cứ Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự đình chỉ yêu cầu này của ông Huỳnh Văn M và bà Huỳnh Thị L.

[8] Xét tài sản là chuồng gà trên diện tích đất: Tài sản chuồng gà của anh Trần Văn T1 có giá trị còn lại là 22.821.750 đồng. Tòa án đã thông báo số 391/TB-TA ngày 07/6/2023 tống đạt hợp lệ cho anh Trần Văn T1 nhưng anh T1 không có yêu cầu, theo đơn vắng mặt ngày 26/12/2023 anh T1 có trình bày không tranh chấp, không yêu cầu gì trong vụ án. Chuồng gà của anh T1 trên thửa đất số 21 anh T1 tự nguyện di dời, không yêu cầu trả giá trị. Do đó anh Trần Văn T1 phải di dời chuồng gà để giao đất cho Ngân hàng khi phát mãi thu hồi nợ.

[9] Anh H3 yêu cầu được quyền quản lý sử dụng diện tích 274,8m² theo các mốc 8, 9, 14, 15, 8 thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46 và lối đi vào khu mộ có diện tích 152,7m² thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 trên sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Hội đồng xét xử xét thấy anh H3 có đơn nhưng không nộp tiền tạm ứng án phí, đồng thời Ngân hàng đồng ý hủy một phần như lập luận tại mục [5.3] do đó chấp nhận ý kiến trình bày này của anh H3.

[10] Anh H3 đồng ý để diện tích 152,7m² thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 trên sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C. Hội đồng xét xử xét thấy bà L sử dụng lối đi này để đi, trường hợp Ngân hàng phát mãi những người (nhận chuyển nhượng các phần đất phát mãi) cũng có thể đi trên lối đi này. Do đó anh H3 đồng ý để diện tích 152,7m² làm lối đi chung là phù hợp với quy định của pháp luật không trái đạo đức xã hội nên ghi nhận ý kiến này của anh H3.

[11] Anh H3 đồng ý di dời 02 ngôi mộ trên diện tích 106,9m² thuộc một phần thửa 553, tờ bản đồ số 50 và 01 ngôi mộ trên diện tích 15, 16, 23, 24, 15 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của anh H3 nên chấp nhận.

[12] Về án phí: Do yêu cầu trả số tiền vốn vay và lãi của Ngân hàng được chấp nhận, yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp của ông M, bà L không được chấp nhận. Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm như sau:

[12.1] Anh Huỳnh Văn H3 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: Số tiền 502.623.966 đồng x 5% = 20.000.000 đồng + 4.105.000 đồng = 24.105.000 đồng.

Đây là khoản nợ của ông Huỳnh Văn H2 nên số tiền án phí sẽ được ưu tiên thanh toán trước khi thanh toán khoản nợ cho Ngân hàng.

[12.2] Ông Huỳnh Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Số tiền tạm ứng án phí ông Huỳnh Văn M đã nộp 5.543.000 đồng được trừ vào án phí ông M phải chịu ông M được nhận lại 5.243.000 đồng theo biên lai thu số 0017495 ngày 27/6/2023 của chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

[12.3]Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Số tiền tạm ứng án phí bà Huỳnh Thị L đã nộp 10.940.000 đồng được trừ vào án phí bà L phải chịu bà L được nhận lại 10.640.000 đồng theo biên lai thu số 0017496 ngày 27/6/2023 của chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

[12.4] Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.353.000 đồng theo biên lai thu số 0017308 ngày 15/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

[13] Về chi phí tố tụng khác: Do yêu cầu của Ngân hàng được chấp nhận căn cứ 156, 157, 164, 165 Bộ luật Tố tụng dân sự anh H3 phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng.

Anh H3 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là tổng cộng là 7.823.140 đồng (trong đó chi phí đo đạc là 6.223.140 đồng; chi phí định giá là 1.600.000 đồng).

Do Ngân hàng đã nộp tạm ứng và thanh toán xong nên anh Huỳnh Văn H3 phải trả cho Ngân hàng số tiền 7.823.140 đồng. Anh H3 thực hiện trả số tiền này cho Ngân hàng trong phạm vi di sản của ông H2 để lại.

[10] Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quy định của pháp luật phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 156, 157, 158, 164, 165, 166, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng

Căn cứ vào các Điều 100, 166, 167 Luật Đất đai;

Căn cứ vào các Điều 117, 122, 318, 319, 325, 423, 463, 466, 612, 614, 615, 651, 658 Bộ luật Dân sự;

Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H về việc yêu cầu anh Huỳnh Văn H3 phải trả số tiền vốn vay và lãi theo hợp đồng tín dụng số 64/21PGDSADEC/HĐTD ngày 12/03/2021.

Buộc anh Huỳnh Văn H3 phải trả cho Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H số tiền vốn vay và lãi là 502.623.966 đồng (trong đó vốn vay là 400.000.000 đồng, lãi là 102.623.966 đồng, lãi tạm tính đến ngày 22/02/2023) và tiếp tục tính lãi từ ngày 23/02/2023 theo hợp đồng tín dụng 64/21PGDSADEC/HĐTD ngày 12/03/2021 cho đến khi trả xong nợ.

Anh Huỳnh Văn H3 thực hiện trả tiền vốn vay và lãi cho Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H theo hợp đồng tín dụng 64/21PGDSADEC/HĐTD ngày 12/03/2021 trong phạm vi di sản của ông Huỳnh Văn H2 để lại.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng số 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021.

2.1. Ghi nhận sự tự nguyện của Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H về việc đồng ý hủy một phần hợp đồng thế chấp số 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021 đối với diện tích 274,8m² thể hiện qua các mốc 8, 9, 14, 15, 8 thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46 và diện tích 152,7m² thể hiện qua các mốc 3, 4, 5, 25, 6, 7, 8, 24, 23, 22, 21, 3 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

2.2. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H mà anh Huỳnh Văn H3 chưa thanh toán xong khoản nợ gốc và lãi theo hợp đồng thì Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự kê biên phát mãi tài sản thế chấp sau khi trừ đi diện tích 274,8m² thể hiện qua các mốc 8, 9, 14, 15, 8 thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46 và diện tích 152,7m² thể hiện qua các mốc 3, 4, 5, 25, 6, 7, 8, 24, 23, 22, 21, 3 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

2.3. Trong trường hợp anh Huỳnh Văn H3 đã thi hành án xong mà tài sản thế chấp không bị phát mãi để thi hành án thì Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H phải trả lại cho anh Huỳnh Văn H3 toàn bộ bản chính giấy tờ thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 41/21PGDSADEC/HĐBD ngày 12/03/2021 (Hiện Ngân hàng đang giữ).

3. Không chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Văn M về yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp và được quyền quản lý sử dụng đối diện tích 190,9m² thể hiện qua các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

4. Không chấp nhận yêu cầu của bà Huỳnh Thị L về yêu cầu vô hiệu một phần hợp đồng thế chấp và được quyền quản lý sử dụng đối diện tích 377,6m² thể hiện qua các mốc 17, 18, 20, 21, 22, 17 thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

5. Trường hợp anh Huỳnh Văn H3 chưa thanh toán xong khoản nợ gốc và lãi theo hợp đồng, mà Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H có yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự kê biên phát mãi tài sản thế chấp thì ông Huỳnh Văn M được ưu tiên nhận chuyển nhượng diện tích 190,9m² thể hiện qua các mốc 1, 2, 20, 18, 19, 1 và bà Huỳnh Thị L được ưu tiên nhận chuyển nhượng diện tích 377,6m² thể hiện qua các mốc 17, 18, 20, 21, 22, 17 đất thuộc thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50.

6. Anh Huỳnh Văn H3 phải di dời các ngôi mộ trên diện tích 106,9m² thể hiện qua các mốc 10, 11, 12, 13, 10 thuộc một phần thửa 553, tờ bản đồ 46 và diện tích 759m² thể hiện qua các mốc 15, 16, 17, 22, 23, 24, 15 thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

7. Anh Trần Văn T1 phải di dời chuồng gà trên diện tích 759m² thể hiện qua các mốc 15, 16, 17, 22, 23, 24, 15 thuộc một phần thửa đất số 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

8. Anh Huỳnh Văn H3 được quyền quản lý sữ dụng diện tích 274,8m² thể hiện qua các mốc 8, 9, 14, 15, 8 thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ số 46 và diện tích 152,7m² thể hiện qua các mốc 3, 4, 5, 25, 6, 7, 8, 24, 23, 22, 21, 3 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 theo sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C.

Anh Huỳnh Văn H3 được quyền đến cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký, kê khai để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

9. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Huỳnh Văn H3 để diện tích 152,7m² theo các mốc 3, 4, 5, 25, 6, 7, 8, 24, 23, 22, 21, 3 thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 thể hiện trên sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C làm lối đi chung.

10. Đình chỉ yêu cầu chia diện tích 500m² thuộc một phần thửa đất số 553, tờ bản đồ đồ số 50 của ông Huỳnh Văn M.

11. Đình chỉ yêu cầu chia diện tích 99,5m² thể hiện qua các mốc 16, 17, 22, 23, 16 đất thuộc một phần thửa 21, tờ bản đồ số 50 của bà Huỳnh Thị L.

(Kèm theo Bản án là sơ đồ đo đạc ngày 05/10/2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Biên bản xem xét thẩm định tại chổ, Biên bản định giá tài sản 07/6/2023 và Biên bản xem xét thẩm định ngày 07/6/2023).

12. Về án phí:

12.1. Anh Huỳnh Văn H3 phải nộp 24.105.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Tiền án phí sẽ được ưu tiên thanh toán khi phát mãi di sản của ông Huỳnh Văn H2 trước khi thanh toán khoản vay và lãi cho Ngân hàng.

12.2. Ông Huỳnh Văn M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền tạm ứng án phí ông Huỳnh Văn M đã nộp 5.543.000 đồng được trừ vào án phí ông M phải chịu ông M được nhận lại 5.243.000 đồng theo biên lai thu số 0017495 ngày 27/6/2023 của chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

12.3.Huỳnh Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, số tiền tạm ứng án phí bà Huỳnh Thị L đã nộp 10.940.000 đồng được trừ vào án phí bà L phải chịu bà L được nhận lại 10.640.000 đồng theo biên lai thu số 0017496 ngày 27/6/2023 của chi Cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

12.4. Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.353.000 đồng theo biên lai thu số 0017308 ngày 15/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành.

13. Về chi phí tố tụng khác:

Anh Huỳnh Văn H3 phải trả cho Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H số tiền là 7.823.140 đồng (trong đó chi phí đo đạc là 6.223.140 đồng; chi phí định giá là 1.600.000 đồng).

Anh Huỳnh Văn H3 thực hiện trả số tiền 7.823.140 đồng cho Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H trong phạm vi di sản của ông Huỳnh Văn H2 để lại.

14. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp;
  • - Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành;
  • - Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Văn Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/DS-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về quyền sử dụng đất; hợp đồng tín dụng; hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất; thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại

  • Số bản án: 03/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Quyền sử dụng đất; Hợp đồng tín dụng; Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất; Thực hiện nghĩa vụ tài sản do người chết để lại
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP phát triển thành phố Hồ Chí Minh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger