Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ

TỈNH ĐIỆN BIÊN

Bản án số: 03/2023/HSST

Ngày: 03/11/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Định.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Việt Hà
  • Ông Vũ Văn Quỳnh
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Minh Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc T - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2023/TLST - HS, ngày 04 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2023/HSST-QĐ ngày 26/10/2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06 tháng 12 năm 1986 tại tỉnh Lai Châu; nơi cư trú: Số nhà F, tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; con ông Phạm Văn N và bà Phương Thị L; vợ: Lò Lan A và có 01 người con, sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 03/8/2008, bị Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tại bản án số 31/2008/HSST. Ngày 24/9/2009, bị Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; tổng hợp hình phạt của bản án số 31/2008/HSST ngày 03/8/2008 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu, buộc bị cáo phải chịu hình phạt chung của hai bản án là 51 tháng 15 ngày tù, tại bản án số 123/2009/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong các bản án trên và được xoá án tích.

Bị cáo Phạm Văn Đ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/6/2023 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Văn Đ là người thiếu ý thức chấp hành pháp luật, nghiện chất ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 22/6/2023, Đ thuê xe taxi của người không quen biết chở xuống bản Xôm, xã T, huyện Đ tìm mua ma tuý để bản thân sử dụng. Đến nơi, Đ đi bộ vào trong bản gặp một người đàn ông không biết tên tuổi, địa chỉ mua được 01 gói mma túy, được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng với giá 100.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, Đ cầm ở lòng bàn tay phải rồi ra chỗ xe taxi đang chờ để đi về. Khi đến khu vực tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ thì xuống xe đi bộ để về nhà. Hồi 22 giờ cùng ngày, khi Đ đang đi bộ tại khu vực trên thì bị tổ công tác Công an thành phố Đ bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ: 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng mảnh nilon màu trắng, bên trong có 01 cục chất bột thể rắn màu trắng đục nghi là H.

Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ tiến hành mở niêm phong, xác định khối lượng, niêm phong vật chứng là cục chất bột thể rắn, màu trắng đục thu giữ của T1, gửi toàn bộ làm mẫu giám định. Tại Bản kết luận định giám định số 1040/KL-KTHS ngày 29/6/2022 của phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu gửi giám định là ma túy, loại Heroine, khối lượng thu giữ gửi mẫu giám định là 0,25 gam. H1 lại mẫu giám định là 0,18 gam.

Cáo trạng số 147/CT-VKSTPĐBP ngày 03/10/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Điện Biên Phủ truy tố ra trước Toà án nhân dân thành phố Điện Biên Phủ để xét xử bị cáo Phạm Văn Đ về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án, vật tạm thu, tạm giữ: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu trắng.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bị cáo nhất trí với quyết định truy tố và lời luận tội của đại diện V, không có ý kiến bào chữa, không tranh luận.

Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang; biên bản niêm phong, mở niêm phong, giao nhận đối tượng giám định; kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định:

Hồi 22 giờ ngày 22/6/2023, tại khu vực tổ dân phố A, phường N, thành phố Đ, tỉnh Điện Biên. Phạm Văn Đ đã có hành vi cất giấu trái phép trên người 0,25 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[2]. Về tính chất, mức độ, động cơ phạm tội của bị cáo thấy rằng: Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm do lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo là đơn giản, do nghiện ma túy nên đã mua và cất giữ trái phép ma túy để sử dụng, mặc dù nhận thức được tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, cũng như chính sách pháp luật hình sự của nhà nước đối với loại tội phạm này, nhưng để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm lớn cho xã hội, không những xâm phạm các quy định của nhà nước về chế độ quản lý, sử dụng các chất ma túy mà còn ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn thành phố Đ cần phải xử lý nghiêm.

[3]. Về nhân thân; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, cụ thể: Là người nghiện và sử dụng ma túy. Ngày 03/8/2008, bị Toà án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 43 tháng về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý", tại bản án số 31/2008/HSST. Ngày 24/9/2009, bị Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xử phạt 30 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý"; tổng hợp hình phạt của bản án số 31/2008/HSST ngày 03/8/2009 của Tòa án nhân dân huyện Sìn Hồ, tỉnh lại C, buộc bị cáo phải chịu chung của hai bản án là 51 tháng 15 ngày tù, tại bản án số 123/2009/HSST. Bị cáo đã chấp hành xong các bản án trên và được xoá án tích. Ngày 22/6/2023, bị cáo lại tiếp tục cố ý cất giấu trái phép 0,25 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với các quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung trên địa bàn.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì "Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng; tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...". Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định, không có khả năng thi hành hình phạt bổ sung là phạt tiền. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt này đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng vụ án, vật tạm thu, tạm giữ: Căn cứ quy định tại điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Heroine còn lại sau giám định, 01 mảnh nilon màu trắng. Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng.

[6]. Án phí, quyền kháng cáo và các vấn đề khác:

  • - Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  • - Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Bị cáo khai mua ma túy của một người đàn ông không quen biết; thuê xe tắc xi của người không biết tên và địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra làm rõ, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[7]. Về các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Đ (Tên gọi khác: Không) phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

    Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2023.

  2. Vật chứng, vật tạm thu, tạm giữ: Tịch thu tiêu hủy 0,18 gam Heroine, 01 mảnh nilon màu trắng. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Điện Biên Phủ và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ.
  3. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 03/11/2023).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Điện Biên;
  • - TAND tỉnh Điện Biên;
  • - Sở tư pháp;
  • - VKSND thành phố ĐBP;
  • - CA thành phố ĐBP;
  • - CQ. THAHS;
  • - Hồ sơ THA hình sự;
  • - Chi cục THADS TP ĐBP;
  • - Nhà TG;
  • - BP. HSNV;
  • - Vụ GĐ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2023/HSST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 03/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐIỆN BIÊN PHỦ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Phạm Văn Đ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2023.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger