|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG TỈNH QUẢNG NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2024/HS-ST Ngày 03 - 01 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Cúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Bùi Đức Nhân
- Bà Bùi Kim Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Lý - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Viên - Kiểm sát viên
Ngày 03 tháng 01 năm 2024 tại Phòng xử án Toà án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 292/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 326/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Bùi Văn T, tên gọi khác: không; sinh ngày 23 tháng 12 năm 1996, tại Hà Nội; nơi cư trú: thôn D, xã H, huyện P, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn T1 và bà Nguyễn Thị S; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt ngày 06/10/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Phạm Văn K, tên gọi khác: không; sinh ngày 05 tháng 10 năm 1979 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: tổ dân phố G, thị trấn Nông Trường T, huyện V, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn K1 và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Hoàng Thị T2 (đã ly hôn vào tháng 9/2022); có 02 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007; tiền án, tiền sự: không có; bị bắt ngày 06/10/2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Thanh T3, sinh năm 1984; nơi cư trú: thôn B, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.
+ Người chứng kiến:
- Anh Dương Văn Đ, sinh năm 1978; nơi cư trú: tổ G, khu V, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- Anh Trần Văn V, sinh năm 1972; nơi cư trú: tổ B, khu B, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 30 phút ngày 06/10/2023, tại đoạn đường Q thuộc tổ B, khu V, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Công an phường V, thành phố H kiểm tra phát hiện và bắt quả tang Bùi Văn T và Phạm Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ tại túi quần bên phải của T 01 (một) bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 03 (ba) gói giấy, đều chứa chất bột màu trắng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu vàng đen, biển kiểm soát 21F1-026.68.
Tại bản kết luận giám định số 1480/KL-KTHS ngày 11/10/2023, của Phòng K2 Công an tỉnh Q kết luận: Chất bột màu trắng có trong 03 (ba) gói giấy thu giữ lúc bắt quả tang Bùi Văn T và Phạm Văn K là ma túy, loại Heroin, khối lượng M1: 0,119 gam, M2: 0,074 gam, M3: 0,099 gam. Tổng khối lượng: 0,292 gam (không phảy hai chín hai gam).
Quá trình điều tra, Bùi Văn T và Phạm Văn K có lời khai phù hợp nhau, thể hiện: T và K là người làm trong khu công nghiệp V thuộc phường V, thành phố H, cả hai đều sử dụng ma tuý. Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 06/10/2023, T rủ K mua ma tuý về để sử dụng, K đồng ý. Sau đó, K điều khiển xe mô tô Honda Air Blade, màu vàng đen, biển kiểm soát 21F1-026.68 chở T đến khu vực cầu dẫn số 6 trên cầu B, hướng từ chợ I, đi phường B. Tại đây, K bỏ ra 800.000đ (tám trăm nghìn đồng), T góp 100.000đ (một trăm nghìn đồng) để mua ma túy. Sau đó, T cầm tiền đi vào khu vực cạnh cầu dẫn mua 900.000đ (chín trăm nghìn đồng) tiền ma túy của một người đàn ông không quen biết. Sau khi mua được ma túy, T và K đi tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, khi T và K đang ở đoạn đường quốc lộ 279 thuộc tổ B, khu V, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh thì bị Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Người làm chứng – chị Nguyễn Thị Thanh T3 có lời khai: Chị T3 có bán cho Phạm Văn K chiếc xe mô tô Honda Air Blade, màu vàng đen, biển kiểm soát 21F1-026.68, đăng ký xe là Nguyễn Thị Thanh T3 vào tháng 01/2023 với giá 15.500.000₫ (mười lăm triệu năm trăm nghìn đồng). Khi giao dịch chị T3 đã bàn giao đăng ký xe cho K.
Người chứng kiến - anh Dương Văn Đ và anh Trần Văn V có lời khai chứng kiến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 06/10/2023, tại đoạn đường Q thuộc tổ B, khu V, phường V, thành phố H, Công an bắt quả tang Bùi Văn T và Phạm Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thu giữ tại túi quần bên phải Thuyên đang mặc 03 (ba) gói giấy, bên trong mỗi gói giấy đều chứa chất bột màu trắng. T và K khai nhận là ma tuý Heroin cất giấy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Ngoài ra, công an còn thu 01 xe mô tô Honda Air Blade, màu vàng đen, biển kiểm soát 21F1-026.68.
Tại Cáo trạng số: 290/CT-VKSHL ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố các bị cáo Bùi Văn T, Phạm Văn K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Bùi Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Phạm Văn K từ 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/10/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự;
Về vật chứng: căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,14 gam ma túy Heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1480/KL-KTHS ngày 11/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Q.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu vàng đen, biển kiểm soát 21F1-026.68.
Quá trình khai báo các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, việc bị đưa ra xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, việc khai báo tự nguyện không bị ép buộc. Lời nói sau cùng của các bị cáo: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, bảo đảm các quyền, nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng, không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội: lời khai nhận hành vi phạm tội của các bị cáo Bùi Văn T và Phạm Văn K phù hợp với nhau, phù hợp với nội dung vụ án về việc các bị cáo thống nhất góp tiền mua ma tuý. K đưa cho T 800.000đ (tám trăm nghìn đồng), T bỏ 100.000đ (một trăm nghìn đồng) mua và cất giấu 03 (ba) gói ma tuý, loại Heroin, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an kiểm tra bắt giữ.
Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến – anh Dương Văn Đ, anh Trần Văn V là người chứng kiến quá trình Công an phát hiện bắt quả tang các bị cáo tàng trữ ma túy, mục đích sử dụng cho bản thân; phù hợp với lời khai của người làm chứng - chị Nguyễn Thị Thanh T3 về việc đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, biển kiểm soát 21F1-026.68 cho Phạm Văn K; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh lập vào hồi 11 giờ 45 phút ngày 06/10/2023 về việc bắt quả tang Bùi Văn T và Phạm Văn K có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần bên phải của T 01 (một) bao thuốc lá Thăng Long, bên trong có 03 (ba) gói giấy, đều chứa chất bột màu trắng; phù hợp với Kết luận giám định số 1480/KL-KTHS ngày 11/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Q và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy, căn cứ vào các tài liệu điều tra đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: hồi 11 giờ 30 phút ngày 06/10/2023, tại khu vực đoạn đường Q thuộc tổ B, khu V, phường V, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh, Bùi Văn T và Phạm Văn K có hành vi tàng trữ trái phép 0,292 gam (không phảy hai chín hai gam) ma túy, loại Heroin, mục đích để sử dụng thì bị Công an phường V, thành phố H phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng.
Hành vi của các bị cáo Bùi Văn T, Phạm Văn K đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất mức độ, hành vi phạm tội: hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới sự độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ma túy là hiểm họa và là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm xã hội khác. Các bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy đối với xã hội cũng như đối với sức khỏe, nhưng đã bất chấp sự ngăn cấm của pháp luật, cất giữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích thỏa mãn việc sử dụng ma túy của bản thân. Do đó, cần xử nghiêm đối với các bị cáo.
Xét tính chất đồng phạm và vai trò của các bị cáo trong vụ án thì thấy: các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm nhưng không có sự bàn bạc, câu kết chặt chẽ với nhau từ trước mà chỉ nhất thời phạm tội nên không phải phạm tội có tổ chức mà chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo T là người khởi xướng, góp tiền với K mua ma tuý, là người trực tiếp cầm tiền mua ma tuý, trực tiếp cất giấu ma tuý. Bị cáo K sau khi được T rủ đi mua ma tuý về sử dụng đã đồng ý tiếp nhận ngay, góp nhiều tiền hơn và dùng xe máy của mình chở T đi mua ma tuý. Do vậy, các bị cáo có vai trò ngang nhau trong việc thực hiện tội phạm như nhận định của Viện kiểm sát tại phiên tòa và phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ và vai trò thực hiện hành vi phạm tội của mình.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bố bị cáo K là ông Phạm Văn K1 được Nhà nước tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang hạng ba nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo K.
[6] Về hình phạt chính: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, vai trò của đồng phạm, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy: các bị cáo có vai trò ngang nhau trong việc phạm tội, lần đầu phạm tội, có tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Tuy nhiên, hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lớn. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục riêng đối với các bị cáo cũng như để tăng cường phòng ngừa tội phạm chung.
[7] Về hình phạt bổ sung: các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng.
[8] Về vật chứng vụ án: 0,14 gam Heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1480/KL - KTHS ngày 11/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Q đây là vật cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu vàng đen, biển kiểm soát 21F1-026.68 thu của Phạm Văn K. Quá trình điều tra, bị cáo K khai mua của chị Nguyễn Thị Thanh T3 từ tháng 01/2023 phù hợp với lời khai của chị T3. Bị cáo K dùng chiếc xe này chở bị cáo T đi mua ma tuý mục đích sử dụng cho bản thân các bị cáo. Do vậy, đây là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
[9] Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long tại phiên tòa đề nghị áp dụng điều luật, mức hình phạt đối với bị cáo, xử lý vật chứng là có căn cứ.
[10] Về án phí: Bị cáo Phạm Văn K thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí; bị cáo Bùi Văn T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho các bị cáo, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bùi Văn T 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 06/10/2023.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Phạm Văn K 12 (mười hai) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt 06/10/2023.
Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 0,14 gam Heroin mẫu vật hoàn lại sau giám định trong phong bì còn nguyên niêm phong số 1480/KL-KTHS ngày 11/10/2023 của Phòng K2 Công an tỉnh Q.
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, màu vàng đen, biển kiểm soát 21F1-026.68.
(tình trạng vật chứng trên như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 65/BB-THA ngày 05/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Phạm Văn K, buộc bị cáo Bùi Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Thị Cúc |
Bản án số 03/2024/HS-ST ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 03/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn Thuyên cùng đồng phạm - Tàng trữ ma túy
