Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

—————————

Bản án số: 03/2024/DS-PT

Ngày 03 - 01 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Cầm Xuân Thủy

Các Thẩm phán: Bà Điêu Thị Kim Liên, ông Đỗ Tuấn Long

Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thu Trang – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Phạm Minh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 01 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 03/2023/TLPT- DS ngày 16 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp quyền sử dụng đất. Do bản án dân sự sơ thẩm số: 22/2023/DS - ST ngày 31 tháng 7 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2023/QĐ-PT ngày 8 tháng 11 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 20/2023/QĐ –PT ngày 08/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 25/2023/QĐ – PT ngày 21/12/2023; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 33/2023/QĐ – PT ngày 29/12/2023 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Lò Văn N. Địa chỉ: Bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  2. Bị đơn: Bà Lê Thị X. Địa chỉ: Bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Trần Bích L – Luật sư thuộc Văn phòng L3, đoàn luật sư tỉnh Sơn La. Có mặt.

  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Phạm Thị H. Địa chỉ: Bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
    • Người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H: Ông Lò Chung H1. Địa chỉ: Bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
    • - Anh Lò Văn V và anh Lò Đức T. Địa chỉ: Bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Lò Văn V: Ông Nguyễn Bá L1 – Luật sư thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.

- Ông Lèo Văn N1 (Vì Văn N2) và bà Lò Thị Đ. Địa chỉ: Bản M, xã T, huyện M, tỉnh Sơn La. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

  1. Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Thị X và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn V.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Nguyên đơn ông Lò Văn N trình bày:

Về nguồn gốc đất: Bà Lò Thị Đ là em gái của ông N kết hôn với ông Lèo Văn N1. Khi vợ chồng ông N1, bà Đ kết hôn đã sinh sống tại bản Mu Kít, xã C, huyện M. Năm 1994, ông Lèo Văn N1 được Nhà nước giao đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), đến năm 2001 được cấp đổi GCNQSDĐ. Năm 2001, ông N1 và bà Đ chuyển về Tà Hộc sinh sống nên đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên Lèo Văn N1 sang cho ông N, trong đó có 250m² đất thổ cư và đất vườn liền kề 1300m²; 02 mảnh đất nương. Hai bên có làm giấy chuyển nhượng đất thổ cư, đất nông nghiệp lâu dài 21/12/2001, có xác nhận của trưởng bản là ông Lò Văn L2. Sau khi nhận chuyển nhượng, ông sử dụng 02 mảnh đất nương, riêng mảnh đất ở và đất vườn liền kề giáp với đất bố mẹ đẻ ông là Lò Văn L2 và bà Lò Thị P nên ông để cho bố mẹ là ông L2 và bà P canh tác trồng cây ngắn ngày. Một số cây nhãn do ông N1 trồng từ trước.

Trong quá trình sử dụng đất, năm 2007 ông Lò Văn L2 đã chuyển nhượng khoảng 300m² cho anh Lò Văn T1, hiện đang cư trú tại bản Mu Kít, xã C, huyện M. Nay ông T1 đang làm nhà ở trên đất. Khi chuyển nhượng, ông có biết, cũng đã trao đổi với ông L2 nhưng không muốn gia đình xảy ra mâu thuẫn nên ông cũng nhất trí và nay không có ý kiến gì về diện tích đất đã chuyển nhượng.

Năm 2017, ông L2 mất. Năm 2002, bà P mất. Sau đó, gia đình ông đã đề nghị bà Lê Thị X là em dâu đang sử dụng đất trả lại diện tích đất đang sử dụng trong GCNQSDĐ của ông N1 nhưng bà X không nhất trí. Bà X cho rằng bà đã được ông L2 tặng cho vợ chồng bà diện tích đất đang dùng. Vì vậy, đề nghị Tòa án công nhận giao dịch chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông N1, bà Đ và vợ chồng ông N, bà H2. Yêu cầu bà Lê Thị X và các con Lò Văn V, Lò Đức T trả lại diện tích đất đang sử dụng tại Bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La theo kết quả thẩm định tại chỗ do Tòa án tiến hành.

Bị đơn bà Lê Thị X; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn T2 và Lò Văn V trình bày:

Bà và ông Lò Văn T3 – em trai ông Lò Văn N là vợ chồng. Bà Lò Thị Đ vợ ông N1 là chị gái của ông T3.

Bà kết hôn với ông Lò Văn T3 từ năm 1996, ở chung với bố mẹ chồng. Vợ chồng bà ở riêng nhà với bố mẹ nhưng hai nhà ở chung một khu đất. Ông N1 và bà Đ có ở thửa đất liền kề với đất của bố mẹ là ông L2 và bà P. Từ khi ông N1 và bà Đ chuyển về Tà Hộc sinh sống đã trả lại cho ông L2, bà P. Từ đó đến nay, ông Lò Văn L2, bà Lò Thị P đã giao cho vợ chồng bà toàn quyền sử dụng diện tích đất. Ông L2 và bà P có nói rằng, ông bà có cho ông N1Đ ở nhờ, không có việc cho đất nên việc ông N1 được cấp GCNQSDĐ bà không được biết. Khi vợ chồng ông bà Đôi N3 chuyển về T, có nợ ông N số tiền 6.000.000₫ nên đã gán cho ông N 03 mảnh đất nương để trừ nợ. Vì vậy bà khẳng định không có việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Năm 2007, ông N là người chuyển nhượng đất và nhận tiền của ông Lò Văn T1, ông L2 chỉ được cho 5.000.000đ. Năm 2009, ông L2 và bà P đã làm thủ tục sang tên GCNQSDĐ cho bà và ông T3.

Năm 2016, ông L2 mất. Năm 2022, bà P mất. Khi chết, ông L2 có để lại di chúc. Theo di chúc, ông L2 để lại toàn bộ tài sản của ông bà cho vợ chồng bà. Năm 2020, ông Lò Văn T3 mất. Trong quá trình sử dụng đất từ năm 2001 đến nay, ông N và bà H đều không có ý kiến gì đến năm 2022 mới có yêu cầu đòi lại đất. Vì vậy, bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông N.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vì Văn N2 và bà Lò Thị Đ trình bày:

Năm 1991, ông Vì Văn N2 kết hôn với bà Lò Thị Đ, con gái ông Lò Văn L2 và bà Lò Thị P. Năm 1992, ông bà được bố mẹ vợ là ông L2 và bà P chia đất cho canh tác. Năm 1994, được cấp GCNQSDĐ gồm 250m² đất thổ cư và đất nương. Năm 2001 thì được cấp đổi GCNQSDĐ.

Đến cuối năm 2001, ông bà chuyển về Tà Hộc sinh sống nên đã chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên Lèo Văn N1 cho ông Lò Văn N là anh trai của bà Đ. Giá chuyển nhượng là 21.000.000đ, vợ chồng ông bà đã bàn giao toàn bộ thửa đất cho ông N. Việc chuyển nhượng này đã xong và không có tranh chấp. Trong giai đoạn từ năm 1991 đến năm 2000, ông bà sinh sống tại bản M, xã C nhưng do hiểu biết hạn chế, khi đi làm chứng minh thư nhân dân và đăng ký kết hôn, ông N1 bị đổi tên là Lèo Văn N1 nhưng ông đã không sửa ngay và sử dụng tên này trong cuộc sống. Do đó, GCNQSDĐ được cấp trong giai đoạn này mang tên Lèo Văn N1.

Sau khi chuyển nhượng, việc ông N sử dụng đất như thế nào ông bà không biết. Tuy nhiên, khi đến thăm bố mẹ vợ thì ông L2 cho biết đang canh tác mảnh đất ở và đất vườn, còn 02 thửa đất nông nghiệp thì do ông N canh tác.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 27/2023/DS – ST ngày 31/7/2023 của

Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La đã xét xử và quyết định:

Áp dụng các Điều 36, 73, 75 Luật Đất đai năm 1993; Điều 168, Điều 169 và Điều 170, 203 Luật Đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 227, Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự, tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lò Văn N. Công nhận giấy biên nhận chuyển nhượng đất thổ cư và đất nông nghiệp lâu dài đề ngày 25/12/2001 giữa ông Lèo Văn N1 (Vì Văn N2), bà Lò Thị Đ và ông Lò Văn N, bà Phạm Thị H có hiệu lực pháp luật. Buộc bà Lê Thị X và anh Lò Văn V phải trả lại diện tích đất 937,0m² tại thửa đất số 13(1) và 13, tờ bản đồ 199 – 12 tại bản Mu Kít, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La cho ông Lò Văn N và bà Phạm Thị H.

Tạm giao diện tích đất 937,0m² (Trong đó diện tích đất nằm trong hành lang đường điện là 245,9m²) tại thửa đất số 13 (1) và 13, tờ bản đồ 199 – 12 tại bản Mu Kít, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lèo Văn N1 cho ông Lò Văn N và bà Phạm Thị H quản lý, sử dụng. Tứ cạnh cụ thể, hình thể thửa đất thể hiện tại sơ đồ thửa đất kèm theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ.

Ông Lò Văn N, bà Phạm Thị H có quyền đến cơ quan có thẩm quyền để làm thủ tục liên quan đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ về thửa đất theo luật đất đai.

Ông Lò Văn N, bà Phạm Thị H có trách nhiệm thanh toán cho bà Lê Thị X tổng số tiền giá trị cây trồng trên đất là 48.412.000đ (Bốn mươi tám triệu bốn trăm mười hai nghìn đồng).

Lê Thị X có trách nhiệm tháo dỡ, di dời 01 nhà lán tạm, mái lợp proximang, cột gỗ, thưng lưới thép B40, sàn tre. Diện tích là 34,2m².

Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên về lãi chậm trả, chi phí tố tụng, quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 14/8/2023 bị đơn bà Lê Thị X; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn V có đơn kháng cáo không nhất trí với toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ý kiến tranh luận của bị đơn: Giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo, diện tích đất tranh chấp là do ông L2, bà P tặng cho vợ chồng bà. Năm 2007, ông L2, bà P có chuyển nhượng cho Lò Văn T1 300m² đất trong phần diện tích đất nằm trong bìa của ông N1 nhưng không ai có ý kiến gì. Gia đình bà quản lý, sử dụng và xây dựng tài sản trên đất nhưng không xảy ra tranh chấp. Diện tích đất tranh chấp có phần nằm trong GCNQSDĐ đã cấp cho gia đình bà. Cấp sơ thẩm không định giá tài sản trên đất là nhà kho lợp mái pro xi măng, hàng lưới thép B40, không đưa vợ của Lò Văn VNguyễn Thị H3 vào tham gia tố tụng là thiếu sót. Không xem xét đến lời khai của người làm chứng Lò Văn T4, Cầm Văn Đ1,

không xác định được ông Lèo Văn N1 là ai. Đề nghị hủy hoặc sửa bản án sơ thẩm.

Ý kiến tranh luận của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông Lèo Văn N1 không thể hiện đất ở bản M. Đề nghị xem xét về quá trình sử dụng đất, áp dụng án lệ số 33 công nhận quyền sử dụng đất của bị đơn.

Ý kiến tranh luận của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn V, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của anh Lò Văn V: Giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo. Anh là người trực tiếp sử dụng đất nhưng được xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng. Nguồn gốc đất là của ông L2, bà P. Gia đình anh đã sử dụng diện tích đất tranh chấp trong thời gian dài và không biết việc ông N1 được cấp GCNQSDĐ. Đề nghị hủy hoặc sửa bản án sơ thẩm.

Ý kiến tranh luận của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Đức T: Đồng ý với ý kiến tranh luận của bà Lê Thị X, anh Lò Văn V

Ý kiến tranh luận của nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H anh Lò Chung H1: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đề nghị giữ nguyên án sơ thẩm.

Quan điểm giải quyết của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện và chấp hành đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Hướng giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị: Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; ý kiến trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa; quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên. Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.

* Về tố tụng

[1] Về quan hệ pháp luật:

Nguyên đơn ông Lò Văn N khởi kiện yêu cầu bà Lê Thị X trả lại diện tích đất đang quản lý, sử dụng nằm trong diện tích đất 1.550m² thuộc thửa 13 (1) và 13, Tờ bản đồ 199 – 12 tại bản Mu Kít, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La theo GCNQSDĐ do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 27/01/2001 mang tên Lèo Văn N1. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật là Tranh chấp quyền sử dụng đất là có căn cứ, đúng quy định theo Điều 26, khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về phạm vi khởi kiện: Theo thông báo về việc thụ lý vụ án cũng như trong suốt quá trình giải quyết vụ án tại cấp sơ thẩm, nguyên đơn ông Lò Văn N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đề nghị bà X trả lại diện tích đất thổ cư và đất vườn tại bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm ông N đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông và vợ chồng ông N1, bà Đ. Xét yêu cầu của ông N là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông N về việc đề nghị công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo khoản 1 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự; mục 7 phần IV Công văn 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 07/4/2017 và mục 7 phần II Công văn số 01/GĐ-TANDTC ngày 05/01/2018 của TAND tối cao về giải đáp một số vấn đề nghiệp vụ mới đúng. Xét thấy việc xem xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là để đánh giá được toàn diện vụ án nên đối với sai sót này, cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[3] Về xác định thành phần người tham gia tố tụng: Ông N khởi kiện bà Lê Thị X là người đang quản lý, sử dụng đất nên cấp sơ thẩm xác định ông N là nguyên đơn, bà X là bị đơn là đúng. Quá trình giải quyết vụ án, bà X khai hai con của bà XLò Văn V, Lò Đức T cùng sử dụng đất nên xác định anh Lò Văn V, Lò Đức T là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là đúng quy định của pháp luật.

* Về nội dung

[4] Về quyền khởi kiện của nguyên đơn

Do ông N1, bà Đ chuyển đi nơi khác sinh sống. Ngày 25/12/2001, ông N1Đ và ông N, bà H lập giấy biên nhận chuyển nhượng đất thổ cư và đất nông nghiệp. Theo đó, ông N1, bà Đ chuyển nhượng toàn bộ diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ số 00628/QSDĐ/746/QĐ – UB do Ủy ban nhân dân huyện M cấp ngày 27/11/2001 mang tên Lèo Văn N1 cho ông N, bà H. Ông N, bà H đã thanh toán xong giá trị chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 21.000.000đ. Ông N1, bà Đ đã bàn giao diện tích đất chuyển nhượng cho ông NH. Các bên không xảy ra tranh chấp đối với việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất chưa được công chứng, chứng thực, chưa làm thủ tục đăng ký biến động đất đai. Giữa bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng đã thực hiện xong quyền và nghĩa vụ của mình, không xảy ra tranh chấp nên ông N có quyền khởi kiện vụ án. Ông N, bà H được hưởng quyền và nghĩa vụ đối với diện tích đất đã nhận chuyển nhượng từ ông N1, bà Đ.

[5] Về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp

Theo lời khai của các đương sự trong vụ án, nguồn gốc đất là của ông L2, bà P khai phá. Phù hợp với biên bản xác minh đối với ông Lò Văn L2 - tham gia ban Q với tư cách trưởng bản từ năm 2000 đến năm 2013, giấy xác nhận của ông

Lò Văn T4. Đến năm 1992, ông N1, bà Đ khai được bố mẹ chia cho đất canh tác. Đến năm 1994 thì được cấp GCNQSDĐ. Tài liệu lưu trữ về hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông N1, bà Đ lưu trữ tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện M thể hiện đơn xin nhận đất rừng của ông Lèo Văn N1 năm 1994, biên bản bàn giao đất năm 1998 có kê khai diện tích đất thổ cư và đất nương rẫy, đất nông nghiệp có xác nhận của hợp tác xã N4, UBND xã C. Như vậy, ông N1 được cấp GCNQSDĐ năm 1994 là đúng, đến năm 2001 được cấp đổi GCNQSDĐ với tổng diện tích đất là 9050m² mang tên Lèo Văn N1. Tuy nhiên do sai sót trong việc quản lý hành chính, ông V1 Văn Nèo bị sai tên thành Lèo Văn N1 nhưng không ảnh hưởng đến quyền sử dụng đất đối với GCNQSDĐ đã được cấp.

[6] Về quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp.

Sau khi nhận chuyển nhượng vào năm 2001, ông N chỉ sử dụng phần diện tích đất nương, còn phần diện tích đất thổ cư và đất vườn giáp đất ông L2, bà P ông N không sử dụng mà để cho ông L2, bà P tiếp tục canh tác. Phù hợp với biên bản xác minh đối với ông Lò Văn T5 – tham gia ban quản lý bản với tư cách trưởng bản từ năm 1992 đến năm 2000.

Đến năm 2007, ông L2 có chuyển nhượng khoảng 300m² đất nằm trong phần diện tích đất ông N nhận chuyển nhượng cho anh Lò Văn T1. Các bên lập giấy chuyển nhượng đất vườn làm đất thổ cư chưa được công chứng, chứng thực và đăng ký biến động đất đai theo quy định. Ông N cũng biết việc chuyển nhượng nhưng không phản đối và không có tranh chấp với anh T1 nên Hội đồng xét xử không xem xét việc chuyển nhượng giữa anh T1 và ông L2.

Năm 2016, ông L2 mất. Năm 2022, bà P mất. Bị đơn bà X ở cùng ông L2, bà P cùng sử dụng diện tích đất của ông N nhận chuyển nhượng đến năm 2022 thì xảy ra tranh chấp. Năm 2010, ông L2 và bà P có làm thủ tục tặng cho ông T3, bà X phần diện tích đất đang ở. Ông T3, bà X đã được cấp GCNQSDĐ số 239/QĐ – UBND ngày 24/02/2020 với diện tích 2712,0m² trong đó 250m² đất thổ cư và 2462m² đất trồng cây hàng năm khác. Đối với GCNQSDĐ ông T3, bà X được cấp thể hiện một cạnh giáp đất ông N1. Đối với biên bản họp gia đình chia đất thổ cư và đất vườn cho con của ông L2, bà P với nội dung về việc chia đất cho ông T3, bà X cũng thể hiện cạnh giáp đất nhà ông N nên việc bà X cho rằng không biết việc ông N1 được cấp GCNQSDĐ là không có cơ sở để chấp nhận.

[7] Cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất tranh chấp hiện bà X đang quản lý, sử dụng là 937,0m². Xét kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho rằng diện tích đất tranh chấp có phần nằm trong GCNQSDĐ đã cấp cho ông T3, bà X nhưng không đưa

ra được căn cứ chứng minh nên không có căn cứ để chấp nhận. Việc xem xét thẩm định tại chỗ xác định diện tích đất tranh chấp được dựa trên GCNQSDĐ đã cấp cho ông N1 có sự tham gia của các thành phần xem xét thẩm định đúng theo quy định. Mặt khác, phần diện tích đất tranh chấp và diện tích ông T1 đang sử dụng là S2 + S3 = 1.421,1m² ít hơn diện tích đất được cấp theo GCNQSDĐ mang tên ông N1 đối với thửa 13 và 13 (1) là 1.550m². GCNQSDĐ ông T3, bà X được cấp phù hợp với diện tích đất bà X đang sử dụng tại thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ ngày 05/05/2023, tài liệu do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện M cung cấp về quá trình cấp GCNQSDĐ, thủ tục đăng ký biến động đều thể hiện thống nhất về diện tích đất được cấp phù hợp với kết quả sử dụng đất hiện trạng không bao gồm diện tích đất tranh chấp 937,0m².

[8] Về việc tạm giao diện tích đất tranh chấp: Như đã phân tích ở trên, ông N có quyền và nghĩa vụ đối với diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ mang tên ông N1 nên cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N là có căn cứ, đúng pháp luật.

[9] Về tài sản trên đất: Quá trình giải quyết vụ án, xác định đối với tài sản trên đất là cây cối do bà X trồng, ông N không phản đối về việc bà X trồng cây trên đất nên cần buộc ông N thanh toán giá trị cây trồng cho bà X là đúng.

Đối với tài sản là 01 nhà lán tạm, mái lợp proximang, cột gỗ, thưng lưới, thép B40, sàn tre. Cấp cơ thẩm xác định đây là tài sản có thể di dời nên buộc bà X cần 2 con tháo dỡ, di dời là có căn cứ. Tuy nhiên, phần nhận định của bản án nhận định bà X và 2 con tháo dỡ nhưng phần quyết định chỉ buộc bà X và anh Lò Văn V tháo dỡ di dời tài sản là thiếu sót. Tại phiên tòa, bà X khai đây là nhà kho, lán tạm do bà X xây dựng nên phải xác định bà X là chủ sở hữu tài sản. Bà X cùng hai con không ở phần nhà lán tạm này mà ở nhà được xây dựng trên phần diện tích đất đã được cấp GCNQSDĐ bên cạnh. Hai con của bà X chỉ là người sử dụng cùng nên cần buộc chủ sở hữu là bà X trả lại diện tích đất tranh chấp cũng như di dời nhà lán tạm trên đất.

[10] Từ những nhận định phân tích nêu trên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị X, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn V, giữ nguyên bản án sơ thẩm phù hợp với quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên. Tuy nhiên, cần sửa lại phần quyết định của bản án sơ thẩm cho phù hợp.

[11] Về án phí phúc thẩm: Bà Lê Thị X, anh Lò Văn V phải chịu án phí phúc thẩm do kháng cáo không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Lê Thị X, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lò Văn V, giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 22/2023/DS-ST ngày 31/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La như sau:

    Áp dụng các Điều 36, Điều 73, Điều 75 Luật Đất đai năm 1993; Điều 168, Điều 169, Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013:

    • - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lò Văn N. Buộc bà Lê Thị X phải trả lại diện tích đất 937,0m² tại thửa đất số 13(1) và 13, tờ bản đồ 199 – 12 tại bản Mu Kít, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La cho ông Lò Văn N và bà Phạm Thị H.
    • - Tạm giao diện tích đất 937,0m² (Trong đó diện tích đất nằm trong hành lang đường điện là 245,9m²) tại thửa đất số 13 (1) và 13, tờ bản đồ 199 – 12 tại bản Mu Kít, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Lèo Văn N1 cho ông Lò Văn N và bà Phạm Thị H quản lý, sử dụng. (Có sơ đồ kèm theo)
    • - Buộc ông Lò Văn N, bà Phạm Thị H thanh toán cho bà Lê Thị X tổng số tiền giá trị cây trồng trên đất là 48.412.000đ (Bốn mươi tám triệu bốn trăm mười hai nghìn đồng).
    • Kể từ ngày người được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án hợp pháp, cơ quan Thi hành án ra quyết định thi hành án, mà bên phải thi hành án không thi hành khoản tiền nợ trên thì hàng tháng còn phải chịu tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    • - Buộc bà Lê Thị X tháo dỡ, di dời 01 nhà lán tạm, mái lợp proximang, cột gỗ, thưng lưới thép B40, sàn tre. Diện tích là 34,2m².
  2. Về án phí: Bị đơn bà Lê Thị X phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003683 ngày 14/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lò Văn V phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm được khấu trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0003682 ngày 14/8/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

  3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí, chi phí tố tụng không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực thi hành kể từ ngày tuyên án (ngày 03/01/2024).

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - VKS nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - TAND huyện Mai Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Mai Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cầm Xuân Thủy

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Tuấn Long

Điêu Thị Kim Liên

Cầm Xuân Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2024/DS-PT ngày 03/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 03/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/01/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger