Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUẦN G

TỈNH ĐIỆN B

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 13/2023/HS-ST

Ngày: 02 - 11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G, TỈNH ĐIỆN B

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Đình H

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tòng Văn Ngh

2. Bà Lò Thị Th

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị L - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B.

- Đại diện VKSND huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh H - Kiểm sát viên.

Ngày 02/11/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần G, tỉnh Điện B xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 07/2023/TLST-HS ngày 10/10/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST-HS ngày 20/10/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tuần G đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: Sùng A L; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh năm 1977 tại huyện Tuần G, tỉnh Điện B; nơi cư trú: Bản Phiêng C, xã Phình S, huyện Tuần G, tỉnh Điện B; quốc tịch: Việt nam; dân tộc: Mông; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Không biết chữ; con ông: Sùng A Th (Đã chết); con bà: Giàng Thị Ph, sinh năm 1961; vợ, con: Giàng Thị D, sinh năm 1976 và có 07 con, con lớn nhất, sinh năm 1994, con nhỏ nhất, sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử lý vi phạm hành chính; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/6/2023 đến ngày xét xử, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
  2. Người bào chữa cho bị cáo: Bà Triệu Thị H, là luật sư cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Điện B, có mặt
  3. Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Giàng T, sinh năm 1985

Trú tại: Bản Ph, xã Quài C, huyện Tuần G, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ, ngày 29/6/2023, Sùng A L mình đi bộ từ nhà vào bản Phiêng C, xã Phình S, huyện Tuần G mục đích tìm mua ma túy về để sử dụng và bán kiếm lời. Khi dến nơi, L gặp và mua được một người đàn ông khoảng 40 tuổi không biết tên và địa chỉ một gói Heroine với giá 200.000 đồng. Khi L đang đi bộ quay về nhà, khi đến đoạn đường thuộc bản Phiêng C, xã Phình S, huyện Tuần G thì gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi không quen biết hỏi mua Heroine của L. L đã dùng tay cấu một ít Heroine bán cho người đàn ông này thu được 50.000 đồng. Bán ma túy xong L gói số Heroine còn lại cất giấu vào túi quần đang mặc rồi đi về nhà, số tiền 50.000 đồng bán ma túy, L đã chi tiêu hết. Hồi 12 giờ 25 phút cùng ngày, khi L đang ở nhà thì bị tổ công tác Công an huyện Tuần G phối hợp với Công an xã Phình S, huyện Tuần G kiểm tra phát hiện thu giữ tại túi quần bên trái L đang mặc 01 gói Heroine được gói bằng nlon màu trắng.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng hồi 15 giờ 20 phút ngày 29/6/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Tuân G đã xác định: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và dạng bột nghi ma túy loại Heroine có khối lượng 0,19 gam, gửi giám định toàn bộ.

Tại Bản kết luận giám định số: 1120/KL-KTHS ngày 08/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện B đã kết luận: Mẫu chất bột màu trắng gửi giám định thu giữ của Sùng A L là chất ma túy, loại Heroine, hoàn lại đối tượng giám định 0,15 gam.

Tại phiên tòa, bị cáo cũng thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố: Do bản thân nghiện ma túy nên bị cáo đã có hành vi mua Heroine về để sử dụng và bán kiếm lời. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đã thành khẩn thật thà khai báo.

Tại bản Cáo trạng số: 151/CT-VKSTG ngày 10/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G đã truy tố bị cáo về tội: "Mua bán trái phép chất ma tuý" quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G luận tội bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Sùng A L từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy".

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,15 gam Heroine; 01 phong bì màu trắng có chứa 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì dùng để niêm phong vật chứng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm

Bị cáo không tự bào chữa cho hành vi của mình, nhờ người bào chữa, bào chữa cho bị cáo.

Quan điểm bào chữa của người bào chữa: Nhất trí với bản Cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo về tội danh và các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhất trí với việc đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung, miễn án phí cho bị cáo. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị HĐXX xem xét thêm các tình tiết về nhân thân, hoàn cảnh gia đình của bị cáo, bị cáo không biết chữ để áp dụng mức hình phạt khởi điểm mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị. Bị cáo không bổ sung gì vào lời bào chữa.

Người bào chữa và đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm, không tranh luận gì thêm, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét. Bị cáo không có quan điểm tranh luận.

Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi của bị cáo bị truy tố: Hồi 12 giờ 25 phút, ngày 29/6/2023 tại khu vực bản Phiêng C, xã Phình S, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, bị cáo bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,19 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.

Hành vi của bị cáo được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL 01-02); biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng (BL45); kết luận giám định (BL 48); các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung của bị cáo, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và quá trình thẩm vấn công khai tại phiên tòa hôm nay. Hành vi phạm tội của bị cáo đã hoàn thành với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đầy đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Với tác hại của chất ma túy đối với sức khỏe con người và mối nguy hại của nó đối với gia đình và xã hội. Nhà nước và toàn thể nhân dân đang có những chính sách, biện pháp phòng chống ngăn chặn nhằm đẩy lùi tệ nạn và những tội phạm về ma túy thì bị cáo lại tiếp tay cho tội phạm ma túy phát triển, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Từ những phân tích trên, HĐXX khẳng định Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, có căn cứ pháp luật. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực để chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi phạm tội của mình.

[2]. Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo cho thấy: Bị cáo đã cất giấu trái phép 0,19 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Hành vi của bị cáo thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự

với mức hình phạt từ 02 năm đến 07 năm tù, hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng.

[3]. Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Sùng A L sinh ra và lớn lên tại huyện Tuân G, tỉnh Điện B, sử dụng ma túy từ năm 2019. Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng nào. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

HĐXX xem xét hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo để có mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nhưng nhất thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, xét đề nghị của đại diện VKS và người bào chữa là có căn cứ nên cần được chấp nhận.

Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua của một người đàn ông không quen biết tại bản Phiêng C, xã Phình S, huyện Tuần Go, cơ quan điều tra không có căn cứ làm rõ được, HĐXX không xem xét.

Sau khi mua được ma túy, bị cáo đã bán cho một người đàn ông không quen biết một ít Heroine với giá 50.000 đồng, bị cáo đã tiêu sài hết số tiền trên, cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ, HĐXX không có căn cứ tịch thu số tiền 50.000 đồng sung ngân sách nhà nước.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính là phạt tù thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Song xét thấy hoàn cảnh gia đình bị cáo chỉ làm nông nghiệp, là người sử dụng ma túy nên không có khả năng thi hành. Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5]. Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy thu giữ của bị cáo, là vật nhà nước cấm tàng trữ lưu hàng, cần bị tịch thu tiêu hủy.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,15 gam Heroine; 01 phong bì màu trắng có chứa 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì dùng để niêm phong vật chứng

[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là hộ nghèo thuộc diện được miễn án phí, có đơn xin miễn án phí, HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

[7]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuần G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố

tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  1. Về tội danh: Bị cáo Sùng A L phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  2. Mức hình phạt: Xử phạt bị cáo Sùng A L: 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 29/6/2023.
  3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong màu trắng các mép đều được dán kín bên trong có chứa mẫu vật được hoàn lại là 0,15 gam Heroine; 01 phong bì màu trắng có chứa 01 mảnh nilon màu trắng và 01 phong bì dùng để niêm phong vật chứng

(Theo biên bản giao nhận vật chứng đã được Công an huyện Tuần G bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuần G hồi 10 giờ 25 phút, ngày 11 tháng 10 năm 2023)

  1. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về Quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Bị cáo được miễn 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, ngày 02/11/2023./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Điện B;
  • - VKSND tỉnh Điện B;
  • - VKSND huyện Tuần G;
  • - Công an huyện Tuần G (3);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Điện B;
  • - THA DS TG, THA HS;
  • - Bị cáo, NBC;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Đình H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 13/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G, TỈNH ĐIỆN B về mua bán trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 13/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN G, TỈNH ĐIỆN B
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hồi 12 giờ 25 phút, ngày 29/6/2023 tại khu vực bản Phiêng C, xã Phình S, huyện Tuần G, tỉnh Điện B, bị cáo bị bắt quả tang khi đang cất giấu trái phép 0,19 gam Heroine nhằm mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger