|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN Đ TỈNH ĐIỆN BIÊN Bản án số: 03/2023/HS-ST Ngày 02-11-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Giang.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thu Hiền;
- Bà Thào Thị Chứ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Sùng A Tình, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên.
- Đại Dện Viện kiểm sát nhân dân huyện Điện Biên Đ tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Duyên, Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại Phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đ, Tòa án nhân dân huyện Điện Biên Đ tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2023/HSST ngày 04 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Thào A D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 15/8/1997 tại huyện Điện Biên Đ; nơi cư trú: Bản Ch Ly, xã Keo L, huyện Điện Biên Đ, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thào Bìa L, sinh năm 1954 và bà Giàng Thị M, sinh năm 1964; năm 2014 chung sống như vợ chồng với chị Mùa Thị D, sinh năm 2000 và có 04 người con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Chưa bị xét xử, chưa bị xử phạt hành chính lần nào; tạm giữ từ ngày 04/7/2023 đến ngày 13/7/2023, tạm giam từ ngày 13/7/2023 cho đến nay, bị cáo có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo:
Ông Nguyễn Cảnh Ph - Là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và Dễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 12 giờ ngày 04/7/2023, Thào A D đi nhờ xe máy của Thào A X sinh năm 2005, trú tại bản Chóp L, xã Keo L, huyện Điện Biên Đ đến thác ba T và tiếp tục đi nhờ xe của một người đàn ông dân tộc Thái không quen biết đến khu vực cổng chào thị trấn Điện Biên Đ. Tại đây D gặp hai vợ chồng người Mông không rõ lai lịch, chỉ biết tên người chồng là L. Qua trao đổi D mua được của L 01 gói Heroine được gói bằng nilon màu trắng với giá 150.000đ, mục đích mang về để sử dụng cho bản thân. Mua bán xong D cất giấu gói Heroine vào ống quần bên phải đang mặc rồi đi cắt tóc. Hồi 15 giờ cùng ngày, D đi đến khu vực thuộc tổ 05, thị trấn Điện Biên Đ, huyện Điện Biên Đ để bắt xe khách về nhà thì bị tổ công tác Công an thị trấn Điện Biên Đ phát hiện bắt quả tang, thu giữ 01 gói Heroine có khối lượng 0,34 gam.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 01 cục chất bột màu trắng đục dạng nén nghi là Heroine.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng hồi 17 giờ 10 phút, ngày 04/7/2023 xác định: 01 cục chất bột màu trắng đục dạng nén nghi Heroine thu giữ của Thào A D có khối lượng 0,34 gam. Trích gửi mẫu giám định 0,11 gam. Vật chứng còn lại 0,23 gam.
Tại bản kết luận giám định số: 1141/KL-KTHS ngày 11/7/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng đục trích ra từ vật chứng thu giữ của Thào A D gửi giám định là chất ma túy: Loại Heroine.
Bản Cáo trạng số: 83/CT-VKSĐB-P1 ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Thào A D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại Dện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Thào A D cả về tội danh và điều luật áp dụng. Đồng thời, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 249, Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Thào A D từ 12 tháng đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy 0,23 gam Heroine còn lại sau khi giám định.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 mảnh nilon màu trắng.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Thào A D: Nhất trí với quan điểm của đại Dện Viện kiểm sát truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân về điều kiện, hoàn cảnh phạm tội của Thào A D để áp dụng mức án theo đề nghị của đại Dện Viện kiểm sát đối với bị cáo; Người bào chữa cho bị cáo đồng tình với quan điểm của Kiểm sát viên về xử lý vật chứng; hình phạt bổ sung, án phí và các vấn đề khác.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không tranh luận gì với đại Dện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Xét hành vi của bị cáo Thào A D thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, một lần nữa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như sau:
Hồi 15 giờ 00 phút ngày 04/7/2023, tổ công tác Công an xã Công an thị trấn Điện Biên Đ, huyện Điện Biên Đ đang làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 05, thị trấn Điện Biên Đ, huyện Điện Biên Đ phát hiện, bắt quả tang Thào A D đang cất giấu trái phép trên người 0,34 gam Heroine trên người, mục đích để sử dụng cho bản thân.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay hoàn toàn phù hợp với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Thào A D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại Điểm c Khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”
Như vậy, bản Cáo trạng truy tố đúng người, đúng tội, đề nghị của Viện Kiểm sát phù hợp, HĐXX chấp nhận.
[2]. Về tính chất, mức độ phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp nghiêm trọng, bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an, an toàn xã hội trên địa bàn xã Keo L nói riêng, huyện Điện Biên Đ nói chung. Vì vậy, hành vi của bị cáo phải bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[3]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Bản thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo không có tình thiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điêu 52 của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bố đẻ bị cáo là ông Thào Bìa L được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[4]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5]. Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên. Hội đồng xét xử chấp nhận đề xuất của đại Dện Viện kiểm sát, người bào chữa về hình phạt chính là hình phạt tù có thời hạn để cải tạo, giáo dục đồng thời để cai nghiện bị cáo trở thành công dân sống có ích cho gia đình và xã hội
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy nghề nghiệp bị cáo làm nông nghiệp, là đối tượng nghiện chất ma túy, tài sản gia đình không có gì có giá trị, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nên không có điều kiện để thi hành án. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo như đề nghị của Viện kiểm sát, người bào chữa là phù hợp.
[7]. Về vật chứng vụ án:
Đối với 0,34 gam Heroine, trích mẫu gửi giám định 0,11 gam. Vật chứng còn lại 0,23 gam là chất thuộc Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành, cần tịch thu và tiêu hủy toàn bộ theo quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[8]. Về các vấn đề khác trong vụ án:
- Đối với Tháo A Xế, qua lời khai của bị cáo D và lời khai của Xế, việc Xế chở bị cáo D đi xe nhờ một đoạn, Xế không biết mục đích của bị cáo D là gì. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý trách nhiệm của Xế trong vụ án này. HĐXX không xem xét.
- Đối với người đàn ông tên L đã bán Heroine cho bị cáo Thào A D và người đàn ông dân tộc Thái cho bị cáo đi nhờ xe. Do bị cáo D không biết thông tin, địa chỉ cụ thể của hai người này, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để điều tra, xác minh, nên không đề cập xử lý trong vụ án này. HĐXX không xem xét.
[9]. Về án phí: Tại phiên tòa bị cáo xin miễn án phí hình sự sơ thẩm vì là người dân tộc thiểu số sinh sống tại địa bàn kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị Quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 249; Điểm s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điểm c Khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điểm a Khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm đ Khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14;
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Thào A D phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Thào A D 01 (một) năm 01 (một) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 04/7/2023).
Tịch thu, tiêu hủy 0,23 gam Heroine còn lại sau giám định.
Vật chứng trên được niêm phong và bàn giao sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đ theo biên bản giao nhận vật chứng hồi 14 giờ 15 phút ngày 04/10/2023 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Điện Biên Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Điện Biên Đ.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào A D.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 02/11/2023)./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Giang |
Bản án số 03/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 03/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐIỆN BIÊN Đ, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
