TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 03/2024/HSST Ngày: 10-01-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Ngọc Lâm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Đình Thiện
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Thư ký phiên toà: Ông Trần Thanh Tài – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đ tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Hiền - Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 01 năm 2024, Toà án nhân dân thành phố Đ, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 340/2023/HSST ngày 28/12/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Trần Võ Hoàn L; tên gọi khác: Trọc; sinh ngày: 20/11/1993, tại Lâm Đồng; HKTT: 13/1 thôn X, xã Xuân T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Cao Đài; trình độ văn hoá: 10/12; nghề nghiệp: Thợ mộc; con ông: Trần Minh H, sinh năm 1964 (đã chết) và bà: Võ Thị B, sinh năm 1972; gia đình có 03 anh em, lớn nhất là sinh năm 1991, nhỏ nhất sinh năm 1996, bị can là con thứ 2 trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt ngày 04/5/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt.
- Họ và tên: Vũ Lê Chí Q; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 15/4/2000 tại Lâm Đồng; HKTT: Tổ 4 thôn T, xã X, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên Chúa; trình độ học vấn: 08/12; nghề nghiệp: không; con ông: Vũ Đình T, sinh năm 1964 (đã chết) và bà: Lê Thị P, sinh năm 1971; HKTT: Tổ 4 thôn T, xã Xuân T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; vợ, con: Chưa có; tiền án: không; tiền sự:
Ngày 23/5/2023, Vũ Lê Chí Q bị Công an xã X, thành phố Đ; xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 23, Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ.
Ngày 27/9/2023, Vũ Lê Chí Q bị Công an thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, xử phạt hành chính 3.500.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo điểm a, khoản 2, điều 23 và hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 23, Nghị định 144/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính Phủ.
Bị bắt ngày 28/9/2023, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, có mặt.
Người làm chứng:
- - Anh Nguyễn Q, sinh năm 1995; cư trú tại: 058/2 thôn X, xã Xuân T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
- - Chị Lê Phan Thanh T, sinh năm 1996; cư trú: Tổ 11 thôn Đ, xã Hiệp A, huyện Đức T, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Đức V, sinh năm 1992; cư trú tại: Tổ 5, thôn Xuân S, xã Xuân T, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
- - Anh Lù Túy V (T), sinh năm 1996, HKTT: Thôn Tân B, xã Tân T, huyện Đức T, tỉnh Lâm Đồng, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biết tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 03/5/2023, Nguyễn Q cùng vợ là Lê Phan Thanh T và Vũ Lê Chí Q đến nhà của Trần Võ Hoàn L ở địa chỉ 13/1 Xuân S, Xuân T, thành phố Đ chơi. Đến khoảng 16 giờ 00' cùng ngày, trong lúc Vũ Lê Chí Q và Nguyễn Q đang ngồi chơi game trong căn phòng cuối cùng - phía sau phòng thờ nhà L thì Vũ Lê Chí Q thấy trên cây đà gỗ cạnh cửa ra vào có 01 ống thủy tinh, một đầu bầu tròn, bên trong ống có một ít ma túy đá còn bám dính. Vũ Lê Chí Q nảy sinh ý định sử dụng số ma túy đá này, bằng cách dùng quẹt gas tự chế để đốt phần ma túy bám dính “cô lại”. Vũ Lê Chí Q ra bếp lấy bình nhựa (dạng bình nước ngọt) đã được đục sẵn 02 lỗ trên nắp bình và đổ nước vào gần đầy bình để làm bình hút ma túy đá. Sau đó, Vũ Lê Chí Q đem bình hút vào phòng, lắp ống thủy tinh chứa ma túy đá đã “cô lại” và gắn ống hút nhựa. Sau khi có ma túy “cô lại” Vũ Lê Chí Q cầm bình hút, dùng quẹt gas
tự chế đốt và hút 02 (hai) hơi, rồi đưa bình cho Nguyễn Q để Q tự hút, lúc này Trần Võ Hoàn L đi vào và tự lấy bình nỏ hút 02 hơi ma túy đá.
Sau khi sử dụng hết số ma túy trong nỏ, Vũ Lê Chí Q và Nguyễn Q ngồi chơi, còn L đi ra ngoài bếp nấu ăn. Sau đó, Vũ Lê Chí Q về nhà, đến khoảng 20 giờ cùng ngày thì quay lại nhà L, trên đường đi thì Lù Túy V (T) điện thoại nói đến nhà Vũ Lê Chí Q chơi thì Chí Q rủ Lù Túy V cùng đến nhà L. Sau khi đến nhà L thì Chí Q vào phòng sử dụng ma túy cùng Nguyễn Q và Trần Võ Hoàn L, sau đó Lù Túy V vào và cùng sử dụng ma túy. Tại đây, Lù Túy V lấy ra một gói ma túy đá dạng túi zip rồi hỏi L “có cây xúc không”, L lấy trong tủ “cây xúc” làm bằng 01 ống hút bằng nhựa cắt vát nhọn một đầu. Lù Túy V mở gói ma túy đá, xúc một ít bỏ vào nỏ (bình nỏ mà Vũ Lê Chí Q chuẩn bị để cùng L và Nguyễn Q sử dụng lúc chiều). Sau đó, mỗi người tự đốt để hút, đến khoảng 3 giờ 00' sáng ngày 04/5/2023 thì nghỉ.
Khoảng 12 giờ ngày 04/5/2023, Công an xã Xuân T, thành phố Đ đến kiểm tra hành chính nhà của L thì Vũ Lê Chí Q và Lù Túy V nhảy ra cửa sổ bỏ trốn. Sau khi kiểm tra và phát hiện có ma túy dưới tấm nệm và dụng cụ sử dụng ma túy trong phòng, Cơ quan Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Võ Hoàn L, thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định. Cơ quan điều tra đã triệu tập Vũ Lê Chí Q, Nguyễn Q làm việc. Tại Cơ quan Công an, Vũ Lê Chí Q, Nguyễn Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
Quá trình điều tra, Trần Võ Hoàn L còn khai nhận về hành vi mua bán trái phép chất ma túy như sau:
Biết Trần Võ Hoàn L là người sử dụng ma túy đá và biết chỗ mua nên ngày 29/4/2023, Nguyễn Đức V nhắn tin qua zalo với L để hỏi L mua giúp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) ma túy đá thì L đồng ý. Sau đó, V chuyển khoản cho L số tiền 300.000 đồng từ tài khoản 9973.506.674, Ngân hàng Vietcombank Lâm Đồng đến số tài khoản 0389.117.241 Ngân hàng MB Bank của L và L nhắn tin mượn của V tiền để mua ma túy đá cho bản thân sử dụng, V đồng ý và chuyển cho L mượn thêm 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) qua tài khoản ngân hàng. Sau đó, L liên hệ với một người tên N (hiện chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy đá sử dụng và bán lại cho V . Đến khoảng 01 giờ 00, ngày 30/4/2023, L nhận được ma túy từ N đến giao, rồi cất giữ phần ma túy mua riêng cho mình, còn gói ma túy đá mua cho V, L hẹn V đến trước nhà của ông Trần Thanh H (ngay đầu hẻm đi xuống nhà V ) giao cho V một gói nylon chứa ma túy đá, cùng 01 hộp quẹt gas tự chế. Sau khi mua được ma túy V đem về nhà, cất giữ, đến ngày 30/4/2023, V đem gói ma túy đi câu cá ở khu vực sông La Bá và sử dụng một mình hết.
* Tang vật thu giữ:
01 gói nylon dạng túi zip, có chứa các tinh thể màu trắng; 01 gói nylon dạng túi zip, đựng bên trong là 01 túi nylon hở một đầu, có dính chất tinh thể màu trắng; 01 chai nhựa dạng chai nước ngọt, 01 nắp chai nhựa màu xanh có gắn ống hút và ống thủy tinh có gắn bầu tròn; 01 quẹt gas màu vàng; 01 điện thoại di động hiệu SamSung, màu vàng, bị vỡ mặt kính, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, bên trong có gắn sim số: 0389.117.241, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận giám định số 504/KL-KTHS ngày 08/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận:
- Mẫu tinh thể (M1) bám dính trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không đủ khối lượng để cân.
- Mẫu tinh thể (M2) đựng trong một gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,7074g (không phẩy bảy không bảy bốn gam), loại Methamphetamine.
- Mẫu tinh thể (M3) đựng trong bầu tròn ống thủy tinh được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không đủ khối lượng để cân.
(Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT:247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ).
Quá trình điều tra xác định vai trò và tội danh của các bị can như sau:
Trần Võ Hoàn L sử dụng địa điểm và cung cấp ma túy cho người khác sử dụng trong nhà gồm Vũ Lê Chí Q, Nguyễn Q, Lù Túy V và cùng tham gia sử dụng ma túy chung. Như vậy, hành vi của L đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Hành vi bán trái phép chất ma túy của L cho Nguyễn Đức V vào ngày 30/4/2023 đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, quá trình kiểm tra bắt quả tang đã thu giữ tại nhà của Trần Võ Hoàn L 0,7074 gam ma túy Methamphetamine. Hành vi của Trần Võ Hoàn L đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Vũ Lê Chí Q chuẩn bị công cụ sử dụng ma túy, “cô lại” ma túy cho Trần Võ Hoàn L và Nguyễn Q sử dụng. Hành vi của Vũ Lê Chí Q đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên Tòa hôm nay bị cáo khai nhận:
Khoảng 12 giờ 00' ngày 04/5/2023 tại nhà số 13/1 thôn Xuân Sơn, xã Xuân Trường, thành phố Đà Lạt, Công an xã Xuân Trường, thành phố Đà Lạt kiểm tra
phát hiện Trần Võ Hoàn L tàng trữ 0,7074 gam ma túy Methamphetamine. Quá trình điều tra xác định Trần Võ Hoàn L, Vũ Lê Chí Q, Nguyễn Q và một đối tượng tên Lù Túy V (T) đã cùng nhau sử dụng trái phép ma túy vào lúc 22 giờ 00 ngày 03/5/2023 tại nhà của L. Ngoài ra, Trần Võ Hoàn L thừa nhận vào ngày 30/4/2023 đã bán cho Nguyễn Đức V 300.000 đồng ma túy, loại Methamphetamine.
Bản cáo trạng số 303/CT - VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt, truy tố bị cáo Trần Võ Hoàn L đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 255, khoản 1 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của Vũ Lê Chí Q đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Qua thẩm tra tại phiên Tòa, xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Lạt đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Võ Hoàn L đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo Vũ Lê Chí Q đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
Xử phạt:
- Áp dụng khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự.
Bị cáo Trần Võ Hoàn L từ 08 đến 09 năm tù;
- Áp dụng khoản 1 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự
Bị cáo Trần Võ Hoàn L, 02 năm 03 năm tù;
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự
Bị cáo Trần Võ Hoàn L 15 tháng đến 18 tháng tù;
- Áp dụng Điều 55 của Bộ Luật hình sự;
Tổng hợp hình phạt: Bị cáo Trần Võ Hoàn L, 11 năm 03 tháng tù đến 13 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng khoản 2 Điều 255 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự.
Bị cáo Vũ Lê Chí Q 07 năm đến 08 năm tù.
Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự
Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 phong bì, có chữ ký ghi họ tên “ Phạm Thị D”, “Nguyễn Văn C, “Ngô Văn N” và hình dấu tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”, đựng mẫu vật còn lại sau giám định: M2: 0, 4120g
- - 01 hộp giấy được niêm phong, có chữ ký ghi họ tên “ Phạm Thị D ", Nguyễn Văn C, “Ngô Văn N” và hình dấu tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm đồng”, đựng gói vật chứng trước giám định ( bao gồm: Phong bì đựng mẫu vật, 01 quẹt ga màu vàng, 01 chai nhựa có gắn ống thuỷ tinh có gắn bầu tròn và ống hút nhựa).
Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động hiệu SamSung, màu vàng, bị vỡ mặt kính, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, bên trong có gắn sim số: 0389.117241, đã qua sử dụng.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo rất hối hận về hành vi tổ chức, sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, bị cáo xin hứa sẽ không bao giờ vi phạm nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1]. Qua xem xét về quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2]. Xét lời khai của bị cáo tại phiên Tòa hôm nay là phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có trong hồ sơ cũng như lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cùng với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ tang vật, kết luận giám định và các tài liệu liên quan khác như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Võ Hoàn L đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 2 Điều 255, khoản 1 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Hành vi của Vũ Lê Chí Q đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
- [3]. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo là liều lĩnh xem thường pháp luật thể hiện ở chỗ: Bị cáo nhận thức được việc sử dụng, ma túy là tệ nạn xã hội mà cả nước nói chung, tại địa phương nói riêng đang ra sức tìm mọi cách ngăn chặn, đẩy lùi bởi lẽ những người sử dụng các chất ma túy sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển cả về thể chất lẫn tinh thần, đây cũng là một trong những nguyên nhân hình thành các tội phạm khác, góp phần gia tăng các tệ nạn xã hội vì vậy pháp luật đã cấm hành vi tàng trữ trái phép. Tuy nhiên vì nhu cầu cá nhân mà bị cáo coi thường pháp luật, bất chấp thủ đoạn để thực hiện hành vi phạm tội của mình, rõ ràng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội tới cùng, việc bị phát hiện và bắt giữ là nằm ngoài ý muốn của bị cáo, hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang trong nhân dân do vậy cần xét xử nghiêm minh phù hợp với tính chất, mức độ hành vi bị cáo gây ra, phải cách ly bị cáo khỏi cuộc sống cộng đồng một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, như vậy mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này như ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà hôm nay.
- [4]. Tuy nhiên khi lượng hình cũng cần xem xét sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo Trần Võ Hoàn L có bà nội là Nguyễn Thị H được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng và có bác ruột là Trần Văn T và Trần Văn K được Tổ quốc ghi công là Liệt sĩ, nên áp dụng khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự là tình tiết gảm nhẹ cho bị cáo.
- [5]. Trong vụ án có hai bị cáo tham gia tuy nhiên không có sự bàn bạc xắp sếp, đồng phạm mang tính giản đơn các bị cáo tham gia tích cực như nhau nên phải chịu hình phạt ngang nhau về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- [6]. Về hình phạt bổ sung: Xét, bị cáo là người khó khăn phải chấp hành hình phạt tù nên miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- [7]. Đối với Nguyễn Q và Lê Phan Thanh T, quá trình điều tra xác định Nguyễn Q chỉ là người sử dụng ma túy còn Lê Phan Thanh T không biết và không tham gia vào việc các đối tượng sử dụng ma túy trong phòng nhà của Trần Võ Hoàn L. Hành vi của Nguyễn Q chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đà Lạt đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Q về hành vi
“Sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ.
Trong vụ án này, có đối tượng Lù Túy V (T), sinh năm 1996, HKTT : Thôn Tân B, xã Tân T, huyện Đức T, tỉnh Lâm Đồng, theo khai nhận của Vũ Lê Chí Q và Trần Võ Hoàn L thì Lù Túy V là người trực tiếp cung cấp ma túy đá cho các bị can sử dụng vào khuya ngày 03/5/2023. Hiện Cơ quan điều tra chưa làm việc được với Lù Túy V nên chưa có cơ sở để xử lý đối với đối tượng này.
Ngoài ra, trong vụ án có đối tượng Nguyễn Đức V là người mua ma túy của Trần Võ Hoàn L về sử dụng. Công an TP Đà Lạt đã có văn bản gửi chính quyền địa phương nơi V cư trú để có biện pháp quản lý đối với đối tượng này.
Đối với đối tượng tên N là người bán ma túy cho Trần Võ Hoàn L, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ đối tượng này để xử lý theo quy định của pháp luật.
[8]. Xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy:
01 phong bì, có chữ ký ghi họ tên “Phạm Thị D”, “Nguyễn Văn C, “Ngô Văn N” và hình dấu tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”, đựng mẫu vật còn lại sau giám định: M2: 0, 4120g; 01 hộp giấy được niêm phong, có chữ ký ghi họ tên “ Phạm Thị D”, “Nguyễn Văn C, “Ngô Văn N” và hình dấu tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm đồng”, đựng gói vật chứng trước giám định ( bao gồm: Phong bì đựng mẫu vật, 01 quẹt ga màu vàng, 01 chai nhựa có gắn ống thuỷ tinh có gắn bầu tròn và ống hút nhựa).
- Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động hiệu SamSung, màu vàng, bị vỡ mặt kính, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, bên trong có gắn sim số: 0389.117241, đã qua sử dụng .
[9]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Tuyên bố: Bị cáo Trần Võ Hoàn L, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, “ Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”,
Bị cáo Vũ Lê Chí Q, phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Xử phạt:
2.1.1. Áp dụng khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Võ Hoàn L 07 (bảy) năm tù;
2.1.2 Áp dụng khoản 1 Điều 251 điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Võ Hoàn L 02 (hai) năm tù;
2.1.3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Võ Hoàn L, 15 (mười lăm) tháng tù;
Áp dụng Điều 55 của Bộ Luật hình sự;
Tổng hợp hình phạt: Bị cáo Trần Võ Hoàn L, phải chấp hành hình phạt chung là: 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/5/2023.
2.2. Áp dụng khoản 2 Điều 255 điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Lê Chí Q; 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù thời hạn tù tính từ ngày 28/9/2023.
- Xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu huỷ:
01 phong bì, có chữ ký ghi họ tên “ Phạm Thị D”, “Nguyễn Văn C, “Ngô Văn N” và hình dấu tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm Đồng”, đựng mẫu vật còn lại sau giám định: M2: 0, 4120g; 01 hộp giấy được niêm phong, có chữ ký ghi họ tên “ Phạm Thị D”, “Nguyễn Văn C, “Ngô Văn N” và hình dấu tròn màu đỏ của “ Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Lâm đồng”, đựng gói vật chứng trước giám định (bao gồm: Phong bì đựng mẫu vật, 01 quẹt ga màu vàng, 01 chai nhựa có gắn ống thuỷ tinh có gắn bầu tròn và ống hút nhựa).
- Tịch thu sung công: 01 điện thoại di động hiệu SamSung, màu vàng, bị vỡ mặt kính, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng; 01 điện thoại di động hiệu Vivo màu xanh, bên trong có gắn sim số: 0389.117241, đã qua sử dụng .
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 28/12/2023 giữa Công an thành phố Đà Lạt và Chi cục thi hành án thành phố Đà Lạt).
- Về án phí:
Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH12 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Buộc: Bị cáo Trần Võ Hoàn L, Vũ Lê Chí Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm, riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Ngọc Lâm |
Bản án số 03/2024/HSST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG về vụ án hình sự: tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; mua bán trái phép chất ma túy; tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 03/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy; Mua bán trái phép chất ma túy; Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ Đ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Võ Hoàn L cùng đồng bọn " Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"
