Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG

Bản án số: 03/2026/HS-ST
Ngày: 06/01/2026

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhan.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Quyết, bà Lê Thị Thanh Vân.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại Nhà văn hóa tổ dân phố số C, phường L - thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 68/2025/HSST ngày 28/11/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2025/QĐXXST-HS ngày 24/12/2025, đối với:

- Bị cáo: Trần Văn T, sinh năm 1993; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, thành phố Hải Phòng; CCCD số [...]; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Giới tính: Nam; Trình độ học vấn: 09/12; Con ông Trần Văn H và bà Nguyễn Thị T1; Vợ: Vũ Thị H1 (đã ly hôn); Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 16 ngày 13/5/2020, TAND huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xử phạt Trần Văn T 15 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 15/01/2020 về tội Buôn bán hàng cấm (Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/3/2021, nộp án phí ngày 07/7/2020); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/8/2025, chuyển tạm giam ngày 26/8/2025 đến nay tại Trại tạm giam số 2 Công an T3 (phân trại P). Có mặt.

- Người làm chứng: Chị Đinh Thị Hồng H2, anh Nguyễn Văn T2, ông Trần Huy V. Đều vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma tuý đá, chiều ngày 22/8/2025, Trần Văn T gặp bạn mới quen (T khai tên là H3, người xã T, thành phố Hải Phòng) đặt vấn đề mua 500.000đ ma tuý đá, H3 đồng ý. Khoảng 20 giờ cùng ngày, T mang theo 01 coóng thuỷ tinh, ống hút nhựa và bật lửa đến khu vực ngã 3 gần nhà nghỉ H5, thôn G, xã T, thành phố Hải Phòng, H3 giao cho T 01 túi nilon màu xanh kích thước 6x4cm, bên trong đựng 01 túi nilon màu trắng kích thước 1,5 x 1,5cm bên trong chứa ma tuý đá. T cầm ma tuý cất giấu trong túi quần rồi đi bộ đến nhà nghỉ H5 2 thuê phòng. Trên đường đến nhà nghỉ, T gặp chị Đinh Thị Hồng H4 (bạn bè quen biết của T), T rủ chị H4 cùng sử dụng ma tuý thì chị H4 đồng ý. Khi đến nhà nghỉ H5, T gặp anh Nguyễn Văn T2 đặt vấn đề thuê phòng, anh T2 đưa chìa khoá phòng 201 cho T, T gọi anh T2 mang lên phòng 01 chai nước nhãn hiệu LaVie. Tại phòng 201, nhà nghỉ H5, T lấy bật lửa hơ một đầu coóng đục hai lỗ tròn trên nắp chai nước, một lỗ cắm coóng thuỷ tinh, 01 lỗ cắm ống hút nhựa rồi cho ma túy vừa mua được vào coóng, lấy bật lửa hơ vào bầu coóng để ma tuý tan chảy, rồi cùng chị H4 sử dụng ma tuý bằng hình thức hút. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày thì lực lượng công an xã T đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang T có hành vi tổ chức cho bản thân và chị H4 sử dụng trái phép chất ma tuý. Thu giữ: 01 chai nhựa Lavie, nắp màu xanh, trên nắp có lỗ cắm 01 ống hút màu trắng và 01 coóng thuỷ tinh, bên trong coóng còn bám dính tinh thể rắn màu trắng; 01 đoạn nilon màu xanh kích thước 06cm x 04cm; 01 gói nilon màu trắng kích thước 1,5cm x 1,5cm bên trong có bám dính chất bột màu trắng; 01 bật lửa ga màu vàng.

Tại phiếu kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể xác định Trần Văn T và chị Đinh Thị Hồng H4 dương tính với chất ma túy trong cơ thể.

Kết luận giám định số 825 ngày 25/8/2025, Phòng K Công an thành phố T3 kết luận: Chất màu trắng bám dính bên trong bầu coóng thuỷ tinh của mẫu M1 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma tuý bám dính. Chất tinh thể màu trắng bám dính bên trong túi nilon của mẫu M2 gửi giám định là ma tuý, loại Methamphetamine, không đủ điều kiện cân xác định khối lượng chất ma tuý bám dính.

Vật chứng: 01 hộp bìa catton niêm phong số 825MT/PC09 hoàn lại sau giám định, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Phòng thi hành án dân sự khu vực 8- Hải Phòng.

Tại Cáo trạng số 27/CT-VKSND-TH, ngày 28/11/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tổ chức sử dụng trái phép ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Hải Phòng thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Trần Văn T từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ (ngày 22/8/2025); Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Đề nghị tịch thu cho tiêu hủy 01 chai Lavie trên lắp chai được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút, 01 lỗ gắn cóng thuỷ tinh mẫu M1; 01 túi nilon của mẫu M2 sau khi xử lý giám định; 01 đoạn nilon màu xanh; 01 đoạn nilon màu trắng; 01 bật lửa màu vàng được niêm phong trong hộp bìa catton, có 01 dấu niêm phong số 825/MT/PC09; Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn nhận hành vi phạm tội và đề nghị hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Căn cứ chứng minh hành vi phạm tội: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 20 giờ đến 21 giờ, ngày 22/8/2025, tại phòng 202 nhà nghỉ H5, ở thôn G, xã T, thành phố Hải Phòng; Trần Văn T có hành vi chuẩn bị ma tuý, coóng, dùng bật lửa ga hơ nóng ma tuý trong bầu coóng để cho T và chị Đinh Thị Hồng H4 sử dụng dưới hình thức hút thì bị Công an thành phố T3 phối hợp với Công an xã T phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

Hành vi của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm vào chính sách độc quyền về quản lý chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cung cấp ma túy, địa điểm, dụng cụ để tổ chức cho chị Đinh Thị Hồng H4 sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án tại Bản án số 16/2020/HSST ngày 13/5/2020 nhưng đã được xoá nên không xác định là tiền án đối với bị cáo tuy nhiên thể hiện bị cáo có nhân thân không tốt. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Cân nhắc tính chất hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 38 luật hình sự mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt biết tôn trọng, chấp hành pháp luật và phòng ngừa chung trong xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản gì có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng: Đối với 01 chai Lavie trên lắp chai được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút, 01 lỗ gắn cóng thuỷ tinh mẫu M1; 01 túi nilon của mẫu M2 sau khi xử lý giám định; 01 đoạn nilon màu xanh; 01 đoạn nilon màu trắng; 01 bật lửa màu vàng được niêm phong trong hộp bìa catton, có 01 dấu niêm phong số 825/MT/PC09 là công cụ để tổ chức sử dụng ma tuý và không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

[6]. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[7]. Về vấn đề khác: Đối với người bán ma tuý cho Trần Văn T, Cơ quan CSĐT- CA thành phố H đã xác minh nhưng không xác định được người như T khai; Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của chị Đinh Thị Hồng H4, không thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 256a Bộ luật hình sự; Công an xã T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 16 ngày 10/10/2025; Đối với hành vi để xảy ra để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà nghỉ do mình quản lý, Công an xã T ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 17 ngày 10/10/2025 đối với ông Trần Huy V là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Văn T 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 22/8/2025).
  3. Về xử lý vật chứng:

    - Tịch thu cho tiêu hủy 01 chai Lavie trên lắp chai được đục 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút, 01 lỗ gắn cóng thuỷ tinh mẫu M1; 01 túi nilon của mẫu M2 sau khi xử lý giám định; 01 đoạn nilon màu xanh; 01 đoạn nilon màu trắng; 01 bật lửa màu vàng được niêm phong trong hộp bìa catton, có 01 dấu niêm phong số 825/MT/PC09 (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T3 và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 8– Hải Phòng) ngày 03/12/2025).

  4. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Văn T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
  5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/01/2026)./.
Nơi nhận:
  • - Bị cáo;
  • - VKSND khu vực 8 – Hải Phòng;
  • - VKSND TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an TP. Hải Phòng;
  • - Cơ quan THAHS Công an TP. Hải Phòng;
  • - Phòng THADS khu vực 8 – Hải Phòng;
  • - Trại tạm giam số 2 - Công an TP. Hải Phòng;
  • - Phòng HSNV Công an TP. Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VPTA.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA



Trần Thị Nhan
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2026/HS-ST ngày 06/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 03/2026/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 8 – Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T -tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger