Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TÒA PHÚC THẨM
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Bản án số: 03/2026/HS-PT
Ngày 06 tháng 01 năm 2026
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các Thẩm phán: Ông Phạm Công Mười
Bà Bùi Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Nơi – Thư ký Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm – Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: ông Trần Ngọc Đoàn – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 01 năm 2026 tại trụ sở Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Thành phố Hồ Chí Minh mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 426/2025/TLPT-HS ngày 28 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thị Minh H, do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Minh H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 640/2025/HS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 3901/2025/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2025.

- Bị cáo có kháng cáo

Nguyễn Thị Minh H, sinh năm 1988 tại tỉnh Vĩnh Phúc (nay là tỉnh Phú Thọ); nơi đăng ký thường trú: thôn Đ, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (nay là xã S, tỉnh Phú Thọ); nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân N, sinh năm 1960 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1961; bị cáo có 01 người con sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 17/9/2023, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo: Luật sư Hồ Hoài N1 - Đoàn Luật sư Thành phố H.

- Bị hại: bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Số B đường T, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.

- Người làm chứng: ông Nguyễn Phú Q, sinh năm 1991. Địa chỉ: Số D Khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) - Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Minh H và bà Nguyễn Thị Kim T1 quen biết nhau từ năm 2020 (H chung sống như vợ chồng với ông Nguyễn Phú Q1, Q1 là em ruột bà T1). Trong thời gian này, H nợ tiền nhiều người và mất khả năng chi trả nên H nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà T1. Bằng thủ đoạn là H nói với bà T1, H là Giám đốc công ty B có trụ sở tại phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, ngoài kinh doanh bất động sản, H còn cho người khác vay tiền để lấy lãi suất cao. H nói bà T1 đưa tiền để H cho người khác vay với lãi suất 06%/tháng, bà T1 đồng ý nên nhiều lần đưa tiền cho H với tổng số tiền là 360.000.000 đồng để H cho vay. Sau khi nhận được tiền của bà T1, H sử dụng một phần tiền đưa lại cho bà T1 và nói là tiền lãi của người vay trả, số tiền còn lại H sử dụng hết vào mục đích cá nhân. Đến hẹn trả nợ cho bà T1 nhưng H không có tiền trả nên H tiếp tục dùng thủ đoạn gian dối là lấy thông tin, hình ảnh của các dự án bất động sản trên mạng xã hội và nói với bà T1 là H có quen biết với nhiều lãnh đạo tỉnh Bình Dương, chủ đầu tư dự án nên mua được với giá rẻ hơn nhiều so với thị trường và nói với bà T1 đưa thêm tiền để H mua đất và nhà tại những dự án bất động sản trên giúp bà T1. Tin tưởng H nên bà T1 tiếp tục đưa tiền cho H để mua. Từ năm 2020 đến năm 2021, bà T1 đã nhiều lần đưa tiền cho H để mua đất và nhà tại 03 (ba) dự án bất động sản với tổng số tiền 3.360.000.000 đồng, cụ thể:

  • Khoảng tháng 7/2020, H gửi hình ảnh giới thiệu cho bà T1 thửa đất số 760, tờ bản đồ số 36, tại ấp S, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương, diện tích 80m², thuộc dự án Bất động sản T do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ làm chủ đầu tư, với giá 360.000.000 đồng. Do tin tưởng H nên ngày 29/7/2020, bà T1 đồng ý cấn trừ số tiền mà H nợ bà T1 là 360.000.000 đồng để mua thửa đất số 760 mà H giới thiệu, đồng thời yêu cầu H hoàn thiện các thủ tục pháp lý cho ông Q1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất trên.
  • Đến đầu tháng 8/2020, H tiếp tục gửi hình ảnh, bảng giá căn hộ chung cư H SunShine do Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 làm chủ đầu tư, diện tích dao động từ 40m² đến 90m² tại phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương hiện đang được xây dựng. H nói có quen biết với chủ đầu tư nên mua được căn hộ chung cư với giá 1.100.000.000 đồng, rẻ hơn so với giá thị trường nên bà T1 đồng ý mua. Bà T1 chuyển cho H 1.100.000.000 đồng, chia làm hai lần: Lần thứ nhất vào ngày 06/8/2020 chuyển 600.000.000 đồng; lần thứ hai vào ngày 29/10/2020 chuyển 500.000.000 đồng, đồng thời yêu cầu H hoàn thiện các thủ tục pháp lý cho ông Q1 đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với căn hộ chung cư trên.
  • Khoảng cuối năm 2020, H tiếp tục gửi hình ảnh giới thiệu bà T1 mua căn hộ G tại khu vực Trung tâm hành chính thành phố D, tỉnh Bình Dương, do Công ty cổ phần Đ2 làm chủ đầu tư, với giá 1.900.000.000 đồng và có dẫn T1 đến xem căn hộ. Do tin tưởng H nên T1 đồng ý mua và giao tiền cho H để mua căn hộ, cụ thể: ngày 30/12/2020, bà T1 thanh toán lần thứ nhất để mua căn hộ bằng cách chuyển khoản và đưa tiền mặt cho H 950.000.000 đồng; ngày 15/4/2021, bà T1 tiếp tục thanh toán lần thứ hai cho H 500.000.000 đồng và lần cuối cùng là ngày 10/09/2021, bà T1 thanh toán cho H số tiền 450.000.000 đồng. Bà T1 yêu cầu H hoàn thiện các thủ tục pháp lý và cho Nguyễn Phú Q1 đứng tên căn hộ trên.

Tuy nhiên, thời gian sau đó bà T1 biết được H không mua đất ở B và 02 căn hộ tại thành phố D như H hứa, bà T1 yêu cầu H lại trả tiền nhưng H lấy nhiều lý do để trốn tránh nên bà T1 yêu cầu H ký giấy mượn tiền của chị T1. Ngày 25/01/2022, tại Văn phòng C, số C T, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bà T1 và H cùng ký hợp đồng vay mượn tiền với nội dung chị T1 cho H mượn 3.360.000.000 đồng, thời hạn trả đến ngày 30/3/2022 và còn ký kết với nhau một biên bản giao nhận số tiền trên, có chữ ký của người làm chứng là Trần Long P.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B xác định tại các công ty là chủ đầu tư các dự án Bất động sản S; chung cư H SunShine và dự án căn hộ G, hoàn toàn không có giao dịch nào liên quan đến Nguyễn Thị Minh H.

Ngoài hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của chị T1 như đã nêu, H còn dùng thủ đoạn vay tiền với lãi suất cao rồi chiếm đoạt 760.000.000 đồng của chị Nguyễn Thị Thu T2, cụ thể: Khoảng tháng 7/2021, lợi dụng sự quen biết với bà T2, H nói bà T2 đưa tiền cho H để H cho người khác vay để hưởng lãi suất cao thì bà T2 đồng ý. Bà T2 đã 04 lần vào các ngày 08, 13, 26/7/2021 và ngày 02/8/2021, dùng tài khoản của mình số 3140019483 mở tại Ngân hàng B1 - Chi nhánh T3, chuyển cho H với tổng số tiền 800.000.000 đồng. Sau đó, H chỉ trả lãi cho chị T2 vào tháng 8 và tháng 9/2021 được 40.000.000 đồng rồi sau đó cắt liên lạc với bà T2. Số tiền chiếm đoạt được của bà T2, H dùng trả lãi cho các khoản vay khác (vay của người sau trả cho người trước) và tiêu xài.

Căn cứ Bản kết luận giám định số 472/KL-KTHS(TL-ĐV) ngày 09/12/2022 của Phòng K Công an tỉnh B, kết luận:

  • Chữ ký, chữ viết họ tên và 02 (hai) dấu vân tay tên “Nguyễn Thị Kim T1” trên biên bản giao nhận tiền ngày 25/01/2022 so với chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay ngón trỏ trái, ngón trỏ phải của Nguyễn Thị Kim T1 do cùng một người ký, viết và in ra.
  • Chữ ký viết tên H, chữ viết họ tên và 02 (hai) dấu vân tay tên “Nguyễn Thị Minh H” trên biên bản giao nhận tiền ngày 25/01/2022 so với chữ viết tên H, chữ viết họ tên và dấu vân tay ngón trỏ trái, ngón trỏ phải của Nguyễn Thị Minh H do cùng một người ký, viết và in ra.
  • Chữ ký, chữ viết họ tên và 02 (hai) dấu vân tay tên “Trần Long P” trên biên bản giao nhận tiền ngày 25/01/2022 so với chữ ký, chữ viết họ tên và dấu vân tay ngón trỏ trái, ngón trỏ phải của Trần Long P do cùng một người ký, viết và in ra.

Như vậy, tổng số tiền mà H nhiều lần lừa đảo chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Kim T1 và chị Nguyễn Thị Thu T2 là 4.120.000.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự:

Quá trình điều tra, bà Nguyễn Thị Kim T1 yêu cầu H trả lại số tiền 3.360.000.000 đồng; bà Nguyễn Thị Thu T2 yêu cầu trả lại số tiền 800.000.000 đồng.

Cáo trạng số 18/CT-VKSBD-P2 ngày 23 tháng 12 năm 2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương (nay là Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh) và Công văn số 227/QĐ-VKS.P2 ngày 28/8/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thị Minh H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 640/2025/HS-ST ngày 22/9/2025 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:

“...1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh H 15 (mười lăm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2023.

2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Minh H phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim T1 số tiền 1.680.000.000 (một tỷ sáu trăm tám mươi triệu) đồng.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Minh H phải trả cho cho bà Nguyễn Thị Thu T2 số tiền 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng”...

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Ngày 26/9/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Minh H, bị cáo H kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm làm rõ hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự của bà Nguyễn Thị Kim T1 và kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Tòa án xem xét số tiền bị cáo nhận của bà T1 là tiền cho vay lãi suất cao, số tiền 360 triệu đồng ban đầu lãi suất là 10%, số tiền bên sau không nhớ là bao nhiêu, bị cáo chỉ nhớ tổng là 3.360.000.000 đồng. Bị cáo chung sống như vợ chồng với Q là em bà T1. Đề nghị làm rõ hành vi của Q là chủ mưu và chi tiêu tiền của chị T1, bị cáo nhận tiền rút ra đi mua ô tô cho Q, đưa cho Q để làm từ thiện, thuê người xử lý vợ cũ anh Q, nuôi con anh Q và cha, mẹ của anh Q.

- Đại diện Viện Công tố và kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Hành vi của bị cáo đã được cấp sơ thẩm xét xử tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là đúng, bị cáo phạm tội nhiều lần. Riêng số tiền 360 triệu là khoản vay lúc đầu có lãi suất giữa bị cáo và bà T1, đây là giao dịch dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.

Kiến nghị cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm tiếp tục điều tra trách nhiệm của Nguyễn Phú Q có dấu hiệu đồng phạm với bị cáo H.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Minh H tranh luận:

Tại phiên tòa sau khi luật sư giải thích bị cáo đã nhận thấy hành vi sai phạm của mình, số tiền bị cáo chiếm đoạt có chi tiêu cho Nguyễn Phú Q, hoàn cảnh bị cáo có con nhỏ, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất mức độ, sai phạm đến đâu xử lý đến đó.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Minh H được thực hiện trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận và xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung: Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Minh H, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bản án sơ thẩm đã nhận định trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2022, do nợ tiền nhiều người và để có tiền trả nợ, tiêu xài nên bị cáo Nguyễn Thị Minh H đưa ra thông tin gian dối là có quen biết với chủ đầu tư bất động sản tại các dự án ở thị trấn T, huyện B (nay là xã B, Thành phố Hồ Chí Minh), căn hộ chung cư H, căn hộ G tại thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là Thành phố Hồ Chí Minh) và có thể mua các bất động sản này với giá rẻ so với thị trường làm cho bà T1 tưởng là thật nên đã nhiều lần giao tiền cho bị cáo để mua nhà, đất. Bằng thủ đoạn gian dối này bị cáo đã chiếm đoạt của bà Nguyễn Thị Kim T1 số tiền 3.360.000.000 đồng.

Hành vi của bị cáo đã thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Đồng thời không xác định số tiền 760.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Thu T2 là giao dịch dân sự là có căn cứ.

Tuy nhiên, cấp phúc thẩm nhận thấy đối với số tiền 360.000.000 đồng là khoản vay từ khoảng tháng 7/2020 giữa H và bà T1 có lãi suất, sau này mới chuyển sang để H mua nhà. Thời điểm vay tiền H chưa đưa ra thông tin giới thiệu mua đất nên số tiền này là quan hệ dân sự.

Do đó, tổng số tiền xác định bị cáo dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt của bà T1 là 3.000.000.000 đồng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm bị cáo H đều nêu số tiền chiếm đoạt của bà T1 đều có sự thống nhất của Nguyễn Phú Q là em trai bà T1, sau khi nhận tiền của bà T1 thì bị cáo rút ra đưa cho Q chi tiêu mục đích cá nhân như trả nợ, mua xe ô tô, mô tô, làm từ thiện...khoảng 2.300.000.000 đồng. Các thông tin như Q dùng điện thoại của bị cáo để nhắn tin cho chị T1 gửi các thông tin về nhà đất bán rẻ để chị T1 tin và đưa tiền cho bị cáo H thì bị cáo cũng không đưa ra được chứng cứ về việc đồng thuận này, quá trình điều tra trả hồ sơ bổ sung, đối chất tại phiên tòa sơ thẩm thì Q không thừa nhận. Do đó, bị cáo phải tự chịu trách nhiệm các thông tin được gửi từ số điện thoại của bị cáo và số tiền bị cáo nhận qua tài khoản và trực tiếp từ chị T1. Đến nay, bị hại chỉ yêu cầu bồi thường 1.680.000.000 đồng nhưng bị cáo chưa khắc phục bồi thường được phần nào.

Cấp phúc thẩm xem xét tính chất, mức độ, mối quan hệ nhân quả của hành vi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh phạm tội do sống chung với Q (em trai bị hại) nên có thể cùng Q đưa ra các thông tin gian dối làm cho bị hại có niềm tin để giao tiền cho bị cáo, số tiền 360 triệu đồng là khoản tiền bị cáo vay của bà T1 có trả lãi suất theo giao dịch dân sự, nên không tính vào tổng số tiền truy tố; do đó chấp nhận một phần kháng cáo xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[3] Kiến nghị cơ quan điều tra Công an thành phố H tiếp tục điều tra làm rõ dấu hiệu đồng phạm của Nguyễn Phú Q, nếu có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Ghi nhận sự tự thỏa thuận: bị cáo H phải bồi thường cho bà T1 1.680.000.000 (Một tỷ sáu trăm tám mươi triệu) đồng như án sơ thẩm đã tuyên.

[5] Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử.

[6] Quan điểm của luật sư bào chữa cho bị cáo được chấp nhận, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

[7] Các nội dung khác không có kháng cáo, không có kháng nghị nên có hiệu lực kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

[8] Về án phí phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Minh H. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 640/2025/HS-ST ngày 22/9/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về hình phạt.
  2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Minh H 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2023.
  3. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận sự tự thỏa thuận bị cáo Nguyễn Thị Minh H phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị Kim T1 số tiền 1.680.000.000 (Một tỷ sáu trăm tám mươi triệu) đồng.
    Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì còn phải chịu tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
  5. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Thị Minh H không phải chịu.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày Tòa tuyên án là ngày 06/01/2026./.
Nơi nhận:
  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - THADS Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Công an Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Trại tạm giam số 2 – Công an Thành phố Hồ Chí Minh (tống đạt cho bị cáo);
  • - Lưu HSVA, VTLT, (22b-TVN).
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Thanh
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2026/HS-PT ngày 06/01/2026 của Tòa án nhân dân tối cao - Tòa phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh về hình sự - lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 03/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tối cao - Tòa phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Minh H phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger