Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 03/2026/HS-PT

Ngày 06-01-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Lộc.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Tùng;

Ông Nguyễn Hữu Lâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Nga - Kiểm sát viên.

Vào các ngày 30 tháng 12 năm 2025 và ngày 06 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (cơ sở 2) xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 793/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Phước T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 111/2025/HS-ST ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Phước T, sinh năm 2000 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Tổ C, ấp S, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (nay là xã Ó, tỉnh An Giang), nơi tạm trú: Nhà trọ Nguyễn Thị Hồng P, ấp P, xã N, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh H và bà Ngô Thị Thu B; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 26 tháng 3 năm 2025 cho đến nay, có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phước T: Bà Huỳnh Thị Thu H1 - Luật sư Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ, có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 01 bị hại; 01 bị đơn dân sự do không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Phước T làm nghề lái xe cho Công ty TNHH T2 (sau đây được viết tắt là Công ty T2). Sáng ngày 05/3/2024, T được Công ty phân công điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-209.90 đi từ khu công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai chở hàng hóa đến công ty TNHH L1 (Sau đây được viết tắt là công ty L1) thuộc khu phố C, phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố C, phường T, thành phố Hồ Chí Minh) để giao và nhận hàng hóa quay về. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, T giao hàng hóa và nhận hàng hóa từ công ty L1 xong nên T điều khiển xe ô tô tải biển số 60C - 209.90 từ cổng chính của Công ty và lùi lại để quay đầu xe đến vị trí cổng phía sau công ty L1, cho bảo vệ của Công ty ký xác nhận để xuất hàng hóa thì va chạm vào ông Phạm Văn T1 là nhân viên bảo vệ của Công ty L1 khi đang làm nhiệm vụ kiểm tra chứng từ hàng hoá xuất nhập ngay cổng Công ty. Hậu quả ông T1 bị thương nặng được nhân viên của Công ty L1 chuyển đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh B.

Vật chứng thu giữ: 01 xe ô tô tải biển số 60C-209.90; 01 giấy phép lái xe hạng C số [...] của Nguyễn Phước T.

Theo Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích trên người sống số 699/2024//KLGĐ-TTPY ngày 27/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B, xác định: Tỉ lệ thương tích gây ra cho Phạm Văn T1 là 99% (Chín mươi chín phần trăm).

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 111/2025/HS-ST ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 138, các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T 09 (chín) tháng tù về tội “Vô ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra, Bản án hình sự sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm bồi thường dân sự, xử lý vật chứng, nghĩa vụ nộp án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/10/2025, bị cáo Nguyễn Phước T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phúc thẩm phát biểu ý kiến: Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo. Kháng cáo của bị cáo được thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm do hành vi của bị cáo gây ra và áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Phước T trình bày: thống nhất về tội danh, điều khoản mà Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo; đối với số tiền khắc phục hậu quả cho người bị hại tại giai đoạn sơ thẩm là 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, bản án cấp sơ thẩm chỉ ghi nhận hơn 17.000.000 đồng là chưa phù hợp với tài liệu chứng cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo có khắc phục thêm 2.000.000 (hai triệu) đồng cho bị hại và nộp tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng, tuy số tiền ít so với khoản tiền bị hại yêu cầu bồi thường nhưng là sự chân thành của bị cáo thể hiện trách nhiệm của bị cáo đối với người bị hại. Hiện nay, mẹ của bị cáo hiện đang bị bệnh nặng. Từ những cơ sở trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo để tạo điều kiện cho bị cáo được đi làm khắc phục hậu quả cho người bị hại và có điều kiện chăm sóc, chữa bệnh cho mẹ.

Bị cáo thống nhất với phần trình bày của người bào chữa; không tham gia tranh luận gì thêm.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội chăm lo cho gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra và tại phiên tòa như Tòa án cấp sơ thẩm nhận định là đúng.

Đơn kháng cáo của bị cáo thực hiện trong thời hạn luật định nên đủ điều kiện để Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết theo quy định của pháp luật.

[2] Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo; Hội đồng xét xử nhận định như sau: Nguyễn Phước T làm nghề lái xe cho Công ty TNHH T2. Sáng ngày 05/3/2024, T được Công ty phân công điều khiển xe ô tô tải biển số 60C-209.90 đi từ khu công nghiệp N, huyện N, tỉnh Đồng Nai chở hàng hóa đến Công ty TNHH L1; T điều khiển xe ô tô tải biển số 60C - 209.90 từ cổng chính của Công ty và lùi lại để quay đầu xe đến vị trí cổng phía sau công ty L1, cho bảo vệ của Công ty ký xác nhận để xuất hàng hóa thì va chạm vào ông Phạm Văn T1 là nhân viên bảo vệ của Công ty L1 khi đang làm nhiệm vụ kiểm tra chứng từ hàng hoá xuất nhập ngay cổng Công ty. Hậu quả ông T1 bị thương nặng được nhân viên của Công ty L1 chuyển đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh B.

Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích trên người sống số 699/2024//KLGĐ-TTPY ngày 27/11/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B, xác định: Tỉ lệ thương tích gây ra cho Phạm Văn T1 là 99% (chín mươi chín phần trăm). Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Vô ý gây thương tích” theo điểm b khoản 2 Điều 138 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; không những xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương; bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình theo quy định của pháp luật.

[4] Xét đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phước T với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo; Hội đồng xét xử xét thấy: mức hình phạt 09 tháng tù mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, tại cấp phúc thẩm, bị cáo có đơn xin nộp tiền khắc phục hậu quả và đã nộp số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng. Do đó, áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường khắc phục 01 phần hậu quả; không có tình tiết tăng nặng; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; có nơi cư trú rõ ràng; bị cáo có khả năng tự cải tạo; đủ điều kiện được hưởng án treo, nên không cần thiết bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục đối với bị cáo và việc cho bị cáo hưởng án treo cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[5] Đối với số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả sẽ được xem xét đối trừ trong giai đoạn thi hành án.

[6] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo là chưa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

[7] Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[9] Về án phí hình sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Phước T; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 111/2025/HS-ST ngày 20 tháng 10 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh, về biện pháp chấp hành hình phạt;

1.1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 138, các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Phước T 09 (chín) tháng tù về tội “Vô ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (06/01/2026).

- Giao bị cáo về Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Đồng Nai giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Số tiền 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng theo biên lai thu tiền số 0000028 ngày 05/01/2026 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh mà bị cáo nộp khắc phục hậu quả sẽ được đối trừ trong giai đoạn thi hành án.

3. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Phước T không phải chịu.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh (03);
  • - Viện kiểm sát nhân dân khu vực 18 – Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 18 - Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Phòng PV06 – Công an TP. Hồ Chí Minh;
  • - Bị cáo;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, 16, (4).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Văn Lộc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2026/HS-PT ngày 06/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm (vô ý gây thương tích)

  • Số bản án: 03/2026/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Vô ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Phước T - tội Vô ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger