Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 12
TỈNH AN GIANG

Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST

Ngày: 07 – 01 – 2026

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thể Phượng, ông Đặng Văn Tác

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Nam - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Phong – Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 159/2025/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 54/2025/ QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thu V, sinh năm 2000, căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: tổ H, ấp M, xã M, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Anh Võ Phước N, sinh năm 1995, căn cước công dân số: [...]. Nơi cư trú: tổ A, ấp B, xã B, tỉnh An Giang.

(Chị V và anh N có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, bản tự khai ngày 01/8/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thu V trình bày:

Năm 2016, chị và anh Võ Phước N tự tìm hiểu sau đó tự nguyện kết hôn, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B (Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 53, ngày 04 tháng 06 năm 2019). Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, đến năm cuối năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là do anh N thường xuyên rượu bia, nghe lời bạn bè, khi anh N say xỉn thì vợ chồng có xảy ra cự cãi, chị có khuyên nhủ nhưng anh N vẫn không thay đổi, dẫn đến mâu thuẫn ngày càng nhiều, không còn tiếng nói chung. Đến tháng 01/2025 thì chính thức ly thân, đã nộp đơn ly hôn tại Toà án khu vực 12, tỉnh An Giang nhưng do nghe lời khuyên của mẹ nên rút lại đơn ly hôn khoảng tháng 4/2025. Sau khi rút đơn ly hôn thì mỗi người đều sống riêng không qua lại đến nay. Nay không còn tình cảm nên yêu cầu ly hôn với anh N.

Về con chung: Thời gian chung sống có 01 con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 17/09/2016, sau khi ly thân do chị nuôi dưỡng, yêu cầu tiếp tục nuôi con, tự nguyện không yêu cầu anh N cấp dưỡng.

Tài sản chung: không có. Nợ chung (phải thu, phải trả) không có.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 10/11/2025, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn anh Võ Phước N trình bày:

Thống nhất với trình bày của chị V về thời gian chung sống và có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu vợ chồng chung sống vui vẻ, hạnh phúc, đến khoảng cuối năm 2024, vợ chồng ly thân và V gửi đơn ly hôn, Tòa án nhân dân huyện Phú Tân (khu V) - An Giang mời đến dự phiên họp hòa giải. Khi đó, mẹ vợ khuyên nhủ V nên V rút đơn khởi kiện. Nguyên nhân mâu thuẫn do V trình bày thì anh đồng ý, anh cũng có sử dụng bia rượu nhưng chỉ khi nào làm về buổi chiều, hay tối thì mới rủ bạn bè sang nhà để uống, uống xong thì đi ngủ, không làm phiền vợ con. Đến tháng 4/2025, anh về quê ở xã B để chăm sóc mẹ ruột bị tai biến, anh chủ động hàn gắn nhưng V từ chối, từ đó đến nay nhà ai nấy ở, thỉnh thoảng tới lui thăm con do con sống với V ở L. Đối với yêu cầu ly hôn thì anh không đồng ý, anh muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 17/09/2016, do V trực tiếp nuôi dưỡng từ khi ly thân đến nay, nếu Tòa án giải quyết ly hôn thì tùy con lựa chọn sống với ai thì người đó chăm sóc, nếu sống với V thì anh đồng ý giao cho V tiếp tục nuôi dưỡng, không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung không có. Nợ chung (phải thu, phải trả) không có.

Tại tờ tường trình ngày 18/11/2025 của bà Nguyễn Thị L (mẹ ruột chị V) xác định vợ chồng chị V anh N đã ly thân, không còn chung sống từ tháng 01/2025 đến nay. Sau khi kết hôn thì V - N sống chung nhà với bà để mua bán trái cây, vợ chồng có mâu thuẫn do N có uống rượu bia khiến vợ chồng thường xuyên cự cãi, bà có khuyên ngăn các con nhưng không được, V có nộp đơn ly hôn với N một lần nhưng do bà khuyên bảo nên V rút đơn để hàn gắn nhưng mâu thuẫn kéo dài nên tiếp tục nộp đơn yêu cầu ly hôn với N. Sau khi V rút đơn ly hôn thì N có tới lui phụ giúp cho bà bán trái cây ở L, sáng đi chiều về, nhà ai nấy ở, đến tháng 4/2025 không còn tới lui đến nay. Con chung Nguyễn Phước T, sinh ngày 17/09/2016, hiện do V đang nuôi dưỡng.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 –

Về tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, Thư ký phiên tòa đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của nguyên đơn và bị đơn thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 70, Điều 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quan điểm giải quyết vụ án: Về hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thu V được ly hôn với anh Võ Phước N. Về con chung, giao chị V được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 17/09/2016 đến thành niên và tự lập được, anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung và nợ chung không có nên không xem xét. Chị V phải chịu án phí ly hôn theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Bị đơn có nơi cư trú tại xã B, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang thụ lý giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu ly hôn: Chị Nguyễn Thu V và anh Võ Phước N là vợ chồng có đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Quá trình chung sống không hạnh phúc nguyên nhân là do mâu thuẫn gia đình, anh N uống bia rượu thường xuyên, chị V không đồng ý nên thường xuyên cự cãi, không còn tiếng nói chung, chị V đã từng nộp đơn ly hôn sau đó rút đơn do gia đình khuyên ngăn nhưng vẫn không đoàn tụ về chung sống lại mà mỗi người một nơi, chính thức ly thân từ tháng 01 năm 2025 đến nay. Chị V cương quyết ly hôn, anh N không đồng ý ly hôn nhưng quá trình giải quyết vụ án cho thấy mâu thuẫn giữa anh chị đã trở nên trầm trọng, chị V không còn tình cảm với anh N, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, nên chấp nhận cho chị V được ly hôn với anh N là phù hợp với Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.

[2.2] Về con chung: Sau khi ly thân đến nay, con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 17/09/2016 do chị V đang nuôi dưỡng và có yêu cầu được tiếp tục nuôi, tự nguyện không yêu cầu cấp dưỡng. Để đảm bảo môi trường phát triển của con được ổn định, thuận lợi trong việc học tập, phù hợp với nguyện vọng của con chung, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, tiếp tục giao con chung cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi thành niên và lao động được. Anh N không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

[2.3] Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung: Ghi nhận chị V và anh N xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì phải liên đới chịu trách nhiệm trong vụ án khác.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị V phải chịu án phí ly hôn là 300.000 đồng. Anh N không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 và khoản 2 Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thu V.

  1. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thu V được ly hôn với anh Võ Phước N.
  2. Về con chung: Giao chị Nguyễn Thu V trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Phước T, sinh ngày 17/09/2016 đến khi thành niên và tự lập được (hiện nay do chị V nuôi dưỡng). Anh Võ Phước N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, chị V cùng các thành viên gia đình không được cản trở trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Nếu lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị V có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con chung.

Vì lợi ích của con khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi việc nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung: Không có. Về nợ chung (phải thu, phải trả): Không có.
  2. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thu V phải chịu án phí 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0004839 ngày 16 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự tỉnh An Giang. Anh Võ Phước N không phải chịu án phí.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2026/HNGĐ-ST ngày 07/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 03/2026/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/01/2026
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 12, tỉnh An Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger