|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 03/2026/HNGĐ-ST Ngày: 05-01-2026 Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quốc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Thiện Bửu .
- Bà Nguyễn Thị Phương Trang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Lê Bình Nguyên - Kiểm sát viên.
Ngày 05/01/2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 326/2025/TLST-HNGĐ ngày 21/10/2025 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 291/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01/12/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Thị Huỳnh N, sinh ngày 01/01/1988. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp. Có đơn xin vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Văn N1, sinh ngày 18/4/1988. Địa chỉ: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện và quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Lâm Thị Huỳnh N trình bày:
Chị N và anh N1 tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) vào ngày 13/4/2011. Vợ chồng có 01 con chung tên Huỳnh Thị Bích P, sinh ngày 11/11/2011, cháu Bích P đang sống chung với chị N. Thời gian đầu vợ chồng cũng có hạnh phúc, tuy nhiên về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cách sống không hòa hợp, không quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn. Hiện nay, hai vợ chồng đã ly thân khoảng 5 năm nay, không còn chung sống với nhau nữa, nhận thấy hôn
nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, chị N yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị N yêu cầu ly hôn với anh N1.
- Về con chung: Có 01 con chung tên Huỳnh Thị Bích P, sinh ngày 11/11/2011, hiện đang sống cùng chị N, chị N yêu cầu được tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không yêu cầu cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Huỳnh Văn N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên hòa giải và phiên tòa sơ thẩm theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, nhưng anh N1 đều vắng mặt, không có lý do chính đáng và cũng không gửi văn bản nêu ý kiến cho Tòa án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa tiến hành đúng trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho chị Lâm Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Huỳnh Văn N1. Về con chung: Đề nghị chấp nhận yêu cầu của chị N. Chị N được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Huỳnh Thị Bích P. Về cấp dưỡng: Do chị N không yêu cầu anh N1 cấp dưỡng cho con nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, quy định tại Điều 53 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Nguyên đơn chị Lâm Thị Huỳnh N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Huỳnh Văn N1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Lâm Thị Huỳnh N và anh Huỳnh Văn N1 là hợp pháp, được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (nay là xã T, tỉnh Đồng Tháp) vào ngày 13/4/2011, phù hợp với quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị Lâm Thị Huỳnh N, Hội đồng xét xử xét thấy: Sau thời gian đầu chung sống hạnh phúc, tuy nhiên về sau phát sinh nhiều
mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cách sống không hòa hợp, không quan tâm, chia sẻ với nhau trong cuộc sống, tình cảm vợ chồng không còn. Hiện nay, hai vợ chồng đã ly thân, không còn chung sống với nhau khoảng 5 (năm) năm nay, nhận thấy hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Quá trình ly thân kéo dài nhiều năm, không ai có thiện chí hàn gắn, thể hiện tình trạng hôn nhân đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
Trong quá trình giải quyết vụ án, mặc dù Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh N1 để tham gia hòa giải và xét xử, nhưng anh N1 đều vắng mặt không có lý do chính đáng, thể hiện thái độ thiếu thiện chí trong việc đoàn tụ, càng cho thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể khắc phục.
Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị N đối với anh N1 theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình:
“Điều 56. Ly hôn theo yêu cầu của một bên
1. Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
...”
[4] Về con chung: Chị N và anh N1 có 01 con chung là cháu Huỳnh Thị Bích P, sinh ngày 11/11/2011. Hiện nay cháu Bích P do chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và cháu cũng có nguyện vọng tiếp tục được sống với mẹ. Để bảo đảm cho cháu có điều kiện ổn định về nơi ở, học tập và sinh hoạt, xét thấy anh N1 không có ý kiến tranh chấp về việc nuôi con. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, việc giao cháu Bích P cho chị N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp, bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của con chung. Đối với nghĩa vụ cấp dưỡng chị N tự nguyện không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về tài sản chung và nợ chung: Chị N xác định vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh N1 không có văn bản ý kiến. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc đương sự phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 53, 56, 58, 81, 82 và 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
-
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Lâm Thị Huỳnh N. Cho chị Lâm Thị Huỳnh N được ly hôn với anh Huỳnh Văn N1.
-
Về việc nuôi con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Lâm Thị Huỳnh N. Chị Lâm Thị Huỳnh N được tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là cháu Huỳnh Thị Bích P, sinh ngày 11/11/2011.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lâm Thị Huỳnh N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0005399 ngày 20/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp.
-
Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Đặng Quốc Bình |
Bản án số 03/2026/HNGĐ-ST ngày 05/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 03/2026/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cho ly hôn
