TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Số: 03/2025/QÐST-HNGĐ | Quy Nhơn, ngày 03 tháng 4 năm 2025 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
“V/v : Yêu cầu xác định mẹ cho con”
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần giải quyết việc dân sự:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Huỳnh Thị Ngọc Lan.
Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Huỳnh Thế Nữ Diệu Hiền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoa Lý - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 02/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025 về “Yêu cầu xác định mẹ cho con” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm số: 46/2025/QĐST-VDS ngày 21 tháng 3 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng như sau:
Người yêu cầu giải quyết việc dân sự :
- Anh Trần Ngọc S, sinh năm: 1992; địa chỉ: Thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (có đơn vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Chị Huỳnh Thị N, sinh năm: 1970 (có mặt); Địa chỉ: Thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (có mặt).
2.2. Anh Trần Ngọc V, sinh năm: 1973; địa chỉ: Thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định (có mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự ngày 12 tháng 02 năm 2025 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, anh Trần Ngọc S trình bày:
Cha tôi là ông Trần Ngọc V, sinh năm 1973 và mẹ tôi là bà Huỳnh Thị N, sinh năm: 1970 chung sống với nhau như vợ chồng từ đầu năm 1991, đến ngày 29/5/1992 tôi được sinh ra. Nhưng khi gia đình đi làm giấy khai sinh vì không để ý và thiếu hiểu biết nên trong giấy khai sinh của tôi thì phần mẹ ghi là Nguyễn Thị Q, tuy nhiên tên Q là tên thường gọi ở nhà, không phải là tên theo giấy tờ chứng minh nhân dân, căn cước công dân của mẹ tôi.
Nay để thuận lợi, thống nhất toàn bộ giấy tờ của tôi, tôi yêu cầu Toà xác nhận mẹ tôi là Huỳnh Thị N, sinh ngày 01/01/1970. Để có cơ sở giải quyết vụ án, tôi cung cấp kết quả xét nghiệm ADN do Trung tâm phân tích ADN và công nghệ di truyền ngày 20/12/2024.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chị Huỳnh Thị N trình bày:
Tôi và ông Trần Ngọc V chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1991, nhưng đến năm 2002 chúng tôi mới đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Trong quá trình chung sống tôi và ông V có hai người con chung là: Trần Ngọc S, sinh ngày 29/5/1992 và Trần Thị Thu Q1, sinh ngày 07/7/1994. Thời điểm làm giấy khai sinh cho con là Trần Ngọc S, do thiếu hiểu biết và không để ý nên trong giấy khai sinh của con tôi Trần Ngọc S có để tên mẹ là Nguyễn Thị Quy . Tuy nhiên tên Q chỉ là tên thường gọi ở nhà của tôi, không phải tên theo giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân của tôi. Còn họ Nguyễn là vì chồng trước của mẹ tôi có họ Nguyễn nên người nhà đã nhầm lẫn là tôi có họ Nguyễn.
Do đó, nay tôi thống nhất yêu cầu Toà xác nhận tôi Huỳnh Thị N, sinh ngày 01/01/1970 là mẹ ruột của Trần Ngọc S.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, anh Trần Ngọc V trình bày:
Tôi và bà Huỳnh Thị N chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1991, nhưng đến năm 2002 chúng tôi mới đăng ký kết hôn tại UBND xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Trong quá trình chung sống tôi và bà N có hai người con chung là: Trần Ngọc S, sinh ngày 29/5/1992 và Trần Thị Thu Q1, sinh ngày 07/7/1994. Thời điểm làm giấy khai sinh cho con là Trần Ngọc S, do thiếu hiểu biết và không để ý nên trong giấy khai sinh của con tôi Trần Ngọc S có để tên mẹ là Nguyễn Thị Quy . Tuy nhiên tên Q chỉ là tên thường gọi ở nhà của vợ tôi, không phải tên theo giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân của vợ tôi.
Do đó, nay tôi thống nhất yêu cầu Toà xác nhận bà Huỳnh Thị N, sinh ngày 01/01/1970 là mẹ ruột của Trần Ngọc S.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ việc đến trước thời điểm mở phiên họp; tại phiên họp Thẩm phán và thư ký đã tuân thủ đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; Người tham gia phiên phiên họp đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết việc dân sự: Đề nghị Tòa áp dụng khoản 10 Điều 29 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 88, Điều 101 Luật hôn nhân gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của anh Trần Ngọc S. Tuyên bố bà Huỳnh Thị N, sinh ngày 01/01/1970 là mẹ ruột của anh Trần Ngọc S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Anh Trần Ngọc S có địa chỉ cư trú tại: Thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Anh S có đơn yêu cầu giải quyết việc hôn nhân “Xác định mẹ cho con” nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định theo quy định tại khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.1] Sự vắng mặt của các đương sự: Anh Trần Ngọc S là người yêu cầu có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 367, khoản 2 Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự thì Toà án vẫn tiến hành phiên họp.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của anh Trần Ngọc S về việc xác định chị Huỳnh Thị N, sinh ngày 01/01/1970 là mẹ ruột của anh. Toà xét:
Căn cứ vào kết quả phân tích ADN của Trung tâm phân tích ADN và Công nghệ di truyền số: BĐ-121602 ngày 20/12/2024 đã kết luận: Anh Trần Ngọc S, sinh ngày 29/5/1992 là con của bà Huỳnh Thị N, sinh ngày 01/01/1970.
Căn cứ vào đơn xin xác nhận ngày 20/02/2025 của UBND xã N, thành phố Q đã xác nhận: Bà Huỳnh Thị N và bà Nguyễn Thị Q (có nơi cư trú tại: Thôn L, xã N, thành phố Q, tỉnh Bình Định) là một người.
Ngoài ra anh Trần Ngọc V là cha ruột của anh Trần Ngọc S cũng đã thừa nhận: Anh và chị N chung sống với nhau như vợ chồng, anh cũng là người trực tiếp đi khai làm giấy khai sinh cho con Trần Ngọc S nhưng do thiếu hiểu biết và cũng không để ý nên trong giấy khai sinh của Trần Ngọc S có để tên mẹ là Nguyễn Thị Quy. Tuy nhiên tên Q chỉ là tên thường gọi ở nhà của chị N, không phải tên theo giấy chứng minh nhân dân, căn cước công dân của chị N.
Từ các tài liệu, chứng cứ nêu trên có đủ cơ sở để xác định bà Huỳnh Thị N, sinh ngày 01/01/1970 là mẹ ruột của anh Trần Ngọc S, sinh ngày 29/5/1992, phù hợp với Điều 90, Điều 101, và khoản 1 Điều 102 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
[3] Về lệ phí: Căn cứ khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh Trần Ngọc S phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự là 300.000 đồng được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001191 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn về quan điểm giải quyết việc dân sự phù hợp quy định pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35 và điểm t khoản 2 Điều 39; các Điều 361, 367, 370, 371 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 90, Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Trần Ngọc S về việc yêu cầu “Xác định mẹ cho con”.
- 1.1. Xác định bà Huỳnh Thị N, sinh ngày: 01/01/1970 là mẹ ruột của anh Trần Ngọc S, sinh ngày 29/5/1992.
- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Trần Ngọc S phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001191 ngày 13 tháng 02 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
- Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được hoặc kể từ ngày niêm yết Quyết định hợp lệ; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định trong thời hạn là 10 kể từ ngày ra quyết định. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định có quyền kháng nghị trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN Huỳnh Thị Ngọc Lan |
Bản án số 03/2025/QÐST-HNGĐ ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về yêu cầu xác định mẹ cho con
- Số bản án: 03/2025/QÐST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu xác định mẹ cho con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc S - Huỳnh Thị N
