Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LƯƠNG SƠN

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 03/2025/HNGĐ -ST

Ngày: 17/02/2025

V/v: Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN – TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Lan Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Huyền và ông Trần Ánh Hồng

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lương Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lý Đình Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn mở phiên tòa xét xử công khai vụ án thụ lý số 209/2024/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2024 về việc: Ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 24/12/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08/01/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị N, sinh năm 2000. Trú tại: xóm B, xã X, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hoàng Văn Đ sinh năm 2001. Trú tại: xóm L, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình cung cấp chứng cứ, nguyên đơn chị Bùi Thị N trình bày:

Chị và anh Hoàng V Đoàn kết hôn với nhau ngày 30/3/2022 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Hòa Bình. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống và ngoài ra anh Đ có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác. Chị đã nhiều lần khuyên bảo anh Đ thay đổi cách sống để mong gia đình sống hòa thuận nhưng anh Đ không thay đổi. Mâu thuẫn vợ chồng thực sự trầm trọng từ tháng 9/2023, anh Đ đã đuổi chị ra khỏi nhà nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở xã X, huyện K, tỉnh Hòa Bình sống từ đó đến nay cùng con gái. Chị và anh Đ sống ly thân đã hơn một năm không quan tâm đến nhau. Chị không còn tình cảm với anh Đ, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ.

Về con chung: Vợ chồng chị có một con chung tên Hoàng Gia N1, sinh ngày 10/5/2022. Được Tòa giải quyết cho ly hôn chị xin được nuôi con vì con chị dưới 36 tháng tuổi, còn quá nhỏ, cần sự chăm sóc của mẹ. Không yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị.

Về tài sản chung, công nợ chung: không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.

Chị Bùi Thị N có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa.

Bị đơn - anh Hoàng Văn Đ vắng mặt nên không có ý kiến trình bày của anh Đ: Tòa án tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Hoàng Văn Đ nhưng không tống đạt được vì anh Đ đi làm đến đêm mới về. Do không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được nên Tòa án đã tiến hành lập biên bản không tống đạt được các văn bàn của Tòa và niêm yết công khai các văn bản này theo quy định của pháp luật tại nơi anh Hoàng Văn Đ đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm L, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình, nhưng anh Đ vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

Theo đơn đề nghị của nguyên đơn - chị Bùi Thị N. Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn xác minh được như sau:

Tại biên bản xác minh ngày 22/11/2024 ông Hoàng Văn V1 (bố đẻ của anh Hoàng Văn Đ ) cho biết: Anh Hoàng Văn Đ là con trai ông, kết hôn với chị Bùi Thị N năm 2022. Hiện nay Đ vẫn sinh sống và làm việc tại địa phương. Tuy nhiên do đặc thù công việc của Đ là thường xuyên về muộn, không xin nghỉ được nên không đến Tòa án giải quyết ly hôn với N theo giấy báo của Tòa án được. Ông có biết biết mâu thuẫn giữa Đ và Nghĩa là do khác biệt tính cách. Hiện nay N đã bỏ về nhà mẹ đẻ sinh sống. Là cha mẹ ông mong muốn các con sống hạnh phúc, tuy nhiên ông tôn trọng quyết định của các con. Ông đã được trưởng thôn tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án để giao cho Đ nhưng ông không nhận vì ông nghĩ việc ly hôn là việc cá nhân của vợ chồng Nghĩa Đ1 không liên quan đến ông, nhưng ông có thông báo cho Đ1 biết việc N làm đơn đề nghị Tòa án huyện Lương Sơn giải quyết ly hôn với Đ1.

Tại biên bản xác minh ngày 23/10/2024 ông Bùi Việt H cán bộ công an xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình cho biết: Qua kiểm tra hồ sơ lưu trữ tại công an xã C thể hiện anh Hoàng Văn Đ, sinh năm 2001 có hộ khẩu thường trú tại: Xóm L, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình chưa tiến hành thủ tục tạm trú, tạm vắng đi nơi khác. Hiện nay anh Đ vẫn sinh sống và làm việc tại địa phương.

Tại biên bản xác minh ngày 24/12/2024 ông Hoàng Văn L - trưởng xóm L cho biết ông đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án và đã đến nhà anh Hoàng Văn Đ để giao nhưng do anh Đ đi làm thường xuyên về muộn nên ông không gặp được anh Đ để giao trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Đ được, bố mẹ anh Đ có nhà nhưng cũng không đồng ý nhận để giao lại cho Đ

* Phát biểu tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên cho rằng Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và giao hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu để thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đúng theo quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa. Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa đã tống đạt cho các đương sự theo đúng quy định của pháp luật.

Quá trình tiến hành tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử và tại phiên tòa hôm nay; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do tại các buổi làm việc theo thông báo của Tòa án, như vậy bị đơn anh Hoàng Văn Đ đã không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị HĐXX: Áp dụng điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điểu 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị N:

+ Xử cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Hoàng Văn Đ.

+ Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung là cháu Hoàng Gia N1, sinh ngày 10/5/2022 cho đến khi cháu N1 trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn Đ chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N và có quyền thăm con chung sau ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Chị N và anh Đ có quyền thay đổi người nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật

+ Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Về án phí: Chị Bùi Thị N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị N xin ly hôn anh Hoàng Văn Đ có HKTT: Xóm L, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình, Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành thủ tục cấp, tống đạt, thông báo văn bản tố tụng trực tiếp cho anh Hoàng Văn Đ nhưng anh Đ vắng mặt. Tòa đã tiến hành lập biên bản về việc giao các văn bản tố tụng và niêm yết công khai nơi cư trú của anh Đ tại: Xóm L, xã C, huyện L, tỉnh Hòa Bình theo quy định tại điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự. Phiên tòa ngày 17/02/2025 anh Hoàng Văn Đ vắng mặt lần thứ ba không có lý do, chị Bùi Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Văn Đ, chị Bùi Thị N

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xét quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị N và anh Hoàng V Đoàn kết hôn với nhau 30/3/2022 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Hòa Bình nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Chị N trình bày sau khi kết hôn vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống. Chị N đã nhiều lần khuyên bảo anh Đ thay đổi cách sống để mong gia đình sống hòa thuận nhưng anh Đ không thay đổi. Từ tháng 9/2023, anh Đ đã đuổi chị ra khỏi nhà nên chị đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở xã X, huyện K, tỉnh Hòa Bình sống từ đó đến nay cùng con gái. Chị và anh Đ sống ly thân đã hơn một năm không quan tâm đến nhau. Chị không còn tình cảm với anh Đ, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ. Quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án anh Hoàng Văn Đ biết được chị Bùi Thị N làm đơn xin ly hôn anh, Tòa án đã tống đạt và niêm yết các văn bản của Tòa cho anh Đ theo đúng quy định của pháp luật nhưng anh Đ không đến Tòa án làm việc.

Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa chị N, anh Đ đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt, chị N và anh Đ đã sống ly thân từ tháng 9/2023 đến nay không quan tâm đến nhau. Như vậy mâu thuẫn giữa chị N, anh Đ đã thực sự trầm trọng, không thể khắc phục được, đời sống chung của anh chị không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt. Mặt khác anh Đ biết chị N nộp đơn xin ly hôn nhưng vẫn cố tình vắng mặt, không mong muốn hàn gắn để vợ chồng đoàn tụ. Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 53, 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị N, giải quyết cho chị Bùi Thị N được ly hôn với anh Hoàng Văn Đ

[2.2] Về nuôi con chung: Vợ chồng chị N, anh Đ có một con chung tên Hoàng Gia N1, sinh ngày 10/5/2022. Chị N trình bày được Tòa án giải quyết cho ly hôn chị xin được nuôi con Hoàng Gia N1, chưa yêu cầu anh Đ cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Anh Đ không đến Tòa án làm việc nên không có lời trình bày.

Hội đồng xét xử xét thấy cháu Hoàng Gia N1, sinh ngày 10/5/2022 hiện nay chưa được ba tuổi, anh Đ không trình bày về nguyện vọng nuôi con, giữa chị N anh Đ không có thỏa thuận về việc nuôi con. Theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 “ con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi”. Vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81,82,83,84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, giao cho chị Bùi Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung là cháu Hoàng Gia N1, sinh ngày 10/5/2022 cho đến khi cháu N1 trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn Đ chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N và có quyền thăm con chung sau ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Chị N và anh Đ có quyền thay đổi người nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật

[2.3] Về tài sản chung: Không có và chị N không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét, giải quyết.

[2.4] Về công nợ chung: Không có và chị N không yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét, giải quyết

[2.5] Về án phí: Chị Bùi Thị N phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016//UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 177, Điều 227, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 Quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Bùi Thị N

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị N được ly hôn anh Hoàng Văn Đ.
  2. Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị N trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục nuôi dưỡng con chung là cháu Hoàng Gia N1, sinh ngày 10/5/2022 cho đến khi cháu N1 trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn Đ chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị N và có quyền thăm con chung sau ly hôn, không ai được cản trở quyền này. Chị N và anh Đ có quyền thay đổi người nuôi con sau ly hôn theo quy định của pháp luật
  3. Về án phí: Chị Bùi Thị N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số 0001401 ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - Sở tư pháp tỉnh HB;
  • - VKSND huyện LS;
  • - Chi cục Thi hành án DS H. LS;
  • - UBND xã Xuân Thủy;
  • - UBND xã Cao Sơn;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Chu Thị Lan Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 03/2025/HNGĐ -ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN – TỈNH HÒA BÌNH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 03/2025/HNGĐ -ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LƯƠNG SƠN – TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Ngh xin ly hôn anh Đ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger